đăng ngày: 20.04.2011
|
|
|
posted:04.6.2007 | biên tập lại : 05.6.2007 (bài viết còn ở dạng bản thảo, xin được sửa chữa, bổ sung sau. Tôi muốn viết tặng cho hai người chưa hề quen biết: nhà văn Túy Hồng và Trần thị Lai Hồng -nhờ qua bài phỏng vấn của họ về đề tài chiếc áo dài VN, đề cập tới người lancer chiếc áo dài hở cổ đầu tiên với tấm hình trên báo LIFE mà tôi đã phát giác được người phụ nữ ở chung với tôi suốt một tháng cuối năm 2000 chính là bà quả phụ NđN.) Thường Đức Ngày 30 tháng 4, 1975…muộn, viết cho con trai của tôi Bởi, đọc được bài “Ngày 30/4/75 viết cho con trai của tôi” của nhà văn Trần thị Lai Hồng, cho tôi một ấn tượng mạnh nên sực nhớ mình đã hứa với độc giả sẽ viết một bài về ngày 30 tháng 4 ‘của tôi’; nhưng nhìn vào thời gian thấy đã muộn…mất rồi, nên chi gọi là ‘ngày 30 tháng 4…muộn’ vậy! Thời gian sau này, có nhiều cơ hội đọc văn trên Net, tôi rất thích hai nhà văn nữ là Túy Hồng và Trần thị Lai Hồng, nhất là mấy bài phỏng vấn của họ và nói về họ. Văn Túy Hồng trong quá khứ từng mang cho tôi nhiều cảm phục. Nhớ nhất là chị đã từng knock nhẹ một anh nhà văn nào đó hẳn là bị ‘tâm-thức-của-các-gian-thần-hậu-duệ-chúa-Trịnh’ tuyên truyền, nên đã dám móc lò “dân Huế” của chị, “Non không cao, thủy không sâu; Nam đa trá, nữ đa dâm” -bằng, “Ai dzô Nam ngơ ngẩn dzì câu chửi thề…” Một cú móc gió thôi nhưng anh nhà văn nào đó lặn mất, vì đã bóc trần được cái nhà anh đó không những bị định kiến tuyên truyền đã đành, mà còn dốt về địa lý học và dân tộc học nữa. Tôi còn thắc mắc khác là, không hiểu “cha” nhà văn Thế Uyên thuở năm xưa có lần ra Huế đến thăm “Tuyệt tình cốc” của nhóm sinh viên phản chiến ngoài đó, có cơ hội gặp gỡ và đưa Túy Hồng về tận nhà trên chiếc xe Jeep, khi đến nơi rồi còn ngồi trên xe nhìn theo sau …mái tóc thề dưới ánh trăng cho đến lúc Túy Hồng khuất bóng sau hàng dậu, mà trước đó lại không mở lời một lời “tán tỉnh” nào cả nhỉ!? Bộ chê hả?; Hay vì tinh thần đạo lý nho phong?; Hay chỉ vì nhát? Ai biết được, nhưng thắc mắc với một Thế Uyên đầy ắp về ‘lý thuyết tính dục’ và phụ nữ thì phải thôi… Bắt chước nhà văn Trần thị Lai Hồng, tôi cũng viết một “ngày 30 tháng 4…muộn cho con trai của tôi.” Nhưng, đã là viết hồi ký thì dù có hư cấu đi nữa, cũng phải dựa trên sự thật 95 phần trăm, còn 5 phần kia là ‘hư từ’, do đó viết ngắn quá thì không đủ ý, viết dài quá thì mệt xác. Tôi chọn một truyện ngắn vừa. * * * “Hình như là tình yêu?” Năm 1972 có đợt tổng động viên toàn miền Nam. Tôi được hoãn dịch gia cảnh và lại không thích đi lính chút nào cả, nhưng vẫn đâm đơn tình nguyện vô lính để tạo cơ hội du học. Mà muốn đi du học thì phải vào Không quân. Tôi vào trường quân trường Thủ Đức thụ huấn được vài tháng, anh tôi tìm cách kéo về Không quân để đi học bay. Trước ngày đi Nha Trang, hai bạn K. và V. rủ đi trượt skating. Tôi đi skating chưa rành mà muốn trợt biểu diễn cho thật fantasy, nên bị té. Tối về nhà cái chân đau nhức quá, suốt đêm ngủ không được. Hôm sau vào bệnh viện của Không quân ở Tân Sơn Nhất chụp hình, mới biết là mắt cá chân bị gãy. Thành ra phải đi băng bột mất 6 tháng. Trong thời gian này tôi cứ để tóc mọc dài ra, tiếp tục đi học, chẳng ai biết mình đã vào quân trường cả. Một chân què băng bột, tay cầm một chiếc gậy lái xe Honda chạy phom phom mỗi ngày, nên sau 6 tháng gỡ bột ra, xương mắt cá vẫn chưa liền được. Anh tôi có quen một ông thầy thuốc Nam, chở đến nhờ ông làm thuốc. Ông lấy gà mỏ ác đang còn sống dùng chày giã trộn với thuốc gia truyền. Trước khi bó thuốc quanh chỗ xương bị gãy, ông dùng tay ‘mằn’, bấm cho chỗ xương cho hở khít lại, đau chết người được. Thế mà chỉ trong vòng 3 tháng chỗ xương gãy đã lành hẳn và xem chừng còn khỏe, cứng cáp hơn trước nữa. Chân đã lành thì chuẩn bị khăn gói lên đường đi Nha Trang. Tính ra đã trể mất gần một năm. Trường hợp của tôi quá đặc biệt. Trình diện nhập học một mình, nên tôi chẳng có khóa nào cả. Được ông Tôn thất L. (Liên đoàn trưởng Liên đòan Sinh viên & Khóa sinh) “bảo bọc” vì ông là bạn cùng khóa của anh tôi, nên tôi nhận được một chút thiên vị. Thiếu tá Bé dù có muốn “đì” tôi cũng không được, nên ông sắp xếp cho tôi đi gác. Mỗi ngày tôi chỉ việc cầm cuốn sách Anh văn lên vọng gác ngồi học, hoặc đọc sách báo và chờ đợi. Cạnh vọng gác bên kia đường là căn nhà có giàn hoa giấy đỏ, cổng sắt. Thỉnh thoảng có xe hơi ra vào, và bóng dáng vài cô con gái. Một hôm đi ăn cơm tối trở về, tôi thấy có một đám sinh viên đủ thành phần tụ tập. Có đứa đang học bay L-19, đứa đang học Anh văn, đứa học địa huấn…nhóm lại thành một đám đông, đứng nhìn vói qua căn nhà bên kia đường có mấy cô đang tung tăng đánh bóng bàn trước hiên nhà. Tụi nó nhìn vọng qua chăm chú, thèm thuồng… Và, cứ thế tôi thấy buổi chiều nào cũng xảy ra hoạt cảnh tương tự. Tôi bực mình rủa thầm, ô hay cái bọn thanh niên cà chớn này sao lại hèn nhát đến mất hết cả tư cách dân pilots hào hoa phong nhã thế. Thích cô nào thì cứ việc tìm cách “tán tỉnh” người ta, rồi rủ đi chơi chứ có đáng gì đâu mà phải nhìn lén, nhìn trộm! Ôi cha, hình ảnh của một gia đình phú quý, một vẻ bề ngoài “đợt sống mới” của họ… đâu có gì đáng để ý. Từ ngày người Mỹ đổ quân vào miền Nam thì sản sinh nhiều gia đình phong lưu thời thượng kiểu này thôi mà!. Bỗng dưng, tôi muốn nổi máu ‘anh hùng’, nghĩ bằng mọi giá phải dẫn cô gái lớn nhất, xem chừng là chị cả đi dạo phố cho tụi này lé mắt chơi. Nghĩ là làm. Mỗi sáng mang theo súng, sách lên ngồi vọng gác, tôi bắt đầu theo dõi giờ giấc, sinh hoạt của các cô bên nớ. Ba cô kia còn nhỏ, chỉ cô chị với đôi mắt đen nháy, nước da bồ quân nhưng mà cười thật có duyên, hay liếc tình tôi lắm. Tôi tìm cách chiếm được cảm tình của cô em nhỏ nhất nhà, chịu chạy qua chạy về mỗi lần tôi ra dấu liệng miếng giấy tỏ tình vo tròn qua hàng rào. Bên kia, cô chị lấy mắt đưa tình chờ đợi, khi nhận được miếng giấy viết trả lời rồi nhờ cô em chạy qua ném lên vọng gác cho tôi. Và, từ đó…tình trong như đã mặt ngoài còn e. Tôi ra Nha Trang không phải để học bay hay học Anh văn, mà chỉ là theo thủ tục hành chánh của binh chủng KQ, nên chỉ thi một cái test Anh văn là đủ qualified để trở về Sàigòn, chuẩn bị hồ sơ đi Mỹ. Ở Nha Trang chừng hơn hai tháng, còn đúng một tuần lễ trước ngày về Sàigòn, tôi đã hẹn hò được với cô chị. Bây giờ đã biết tên cô ta là PTHN. Hôm sau được phép xuất trại chiều thứ bảy, tôi đến bấm chuông trước cổng nhà cô ta. Vào nhà trong gặp ba mẹ cô ta, tôi thẳng thắn và hơi một chút ngang tàng…xin phép mời cô đi chơi. Khi bọn sinh viên tụ tập bên trong hàng rào của quân trường nhìn thấy tôi và cô HN rảo bước từ cổng nhà đi ra…hướng về phố Nha Trang, mọi con mắt đều đỗ dồn vào hai đứa tôi. Tối hôm ấy, và đến mấy ngày sau, tạo thành một âm vang tuyền miệng cái “thằng không khóa” mới nhập trại đã cặp được ‘người đẹp’ bên kia đường rồi… tài tình thật! Kỷ niệm của tôi với cô HN chỉ có một buổi chiều ngày thứ bảy hôm đó thôi… Tưởng là một thoáng kỷ niệm nơi vùng biển lộng gió này, ai ngờ, cô ta tìm về Sàigòn thăm tôi. Từ đó, duyên không hẹn mà cột lấy một quãng đời mình. Thấy cô lặn lội từ Nha Trang vào Sàigòn thăm tôi, tôi nghĩ cô ta đã yêu mình thật tình đấy chứ, nên cũng cảm động. Tôi nảy sinh một dự kiến, và thật lòng tâm sự với cô dự tính của tôi sau khi sang học bay ở Mỹ thì sẽ trốn qua Canada luôn, không về nước nữa. Cho nên, nếu cô thật sự yêu tôi và nếu gia đình cô ta đồng ý thì phải hứa hôn trước khi tôi lên đường mới có thể giữ chân tôi trở về. Riêng tôi, nếu chuyện này thành tựu là cơ hội xóa tan sự ray rứt của tôi về ‘kế hoạh đào ngủ’, có thể làm liên lụy tới anh mình –là người đã ký giấy bảo lãnh cho tôi đi du học Mỹ. Mọi chuyện đến dễ dàng như một giấc ngủ của thời thơ ấu. Gia đình cô HN đồng ý và bên nhà gái đòi hỏi một lễ hỏi 40 cổ phần và lễ nghi các thứ lỉnh kỉnh khác… Gia đình tôi đi nhờ trên một chiếc phi cơ C-47 với phẩm vật chất đầy một góc máy bay, từ Sàigòn ra Nha Trang để làm lễ hỏi vợ cho tôi. Đấy là một kỳ công mà mẹ và anh cả tôi đã chìu tôi. Một sự hứa hôn níu lấy bước chân tôi sẽ trở về nước sau này; và riêng cô HN chắc là đạt được một giấc mơ đẹp thời con gái đầy thơ mộng… * * * Nhưng, thế sự là một chuỗi biến dịch, có khi kéo dài rất lâu có khi chỉ là ánh chớp. Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ cho nên tất cả mọi tài khóa xuất ngoại huấn luyện và đào tạo sĩ quan kỹ thuật và phi hành đều bị hủy bỏ. Thành phần như tôi bị đẩy trở về bộ binh, và khăn gói lên đường vào quân trường Long Thành. Lúc bấy giờ Long Thành là quân trường mới thay thế cho trường đào tạo sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Quân trường Thủ Đức trở thành nơi huấn luyện cho sĩ quan tham mưu và thiết giáp. Lạ thật, khi viễn cảnh về tương lai của tôi có nhiều hứa hẹn thì chuyện tình trường vừa đến rất nhanh mà thật dễ dàng, thế mà khi tôi trở lại cái quân trường bộ binh buồn tẻ này…với một tương lai đầy bất trắc thì trong suốt 9 tháng lau súng, chùi súng, đi bãi tập…đổ mồ hôi muối mặn thì tôi không nhận được một lá thư nào của cô HN cả. Dù sao tôi hiểu, chắc hẳn là tình yêu chưa thấm để biết nhớ nhung, chưa có một nụ hôn nồng để tình yêu có mùi cay xé vì sự xa cách. May thay cho cái số tôi nặng về cầm bút hơn cầm súng, nên trong một cơ hội, tôi trở thành một người sinh viên quân trường một tháng làm báo tường cho đại đội đến 20 ngày rồi, những ngày khác là tà tà vào thư viện… Đến những tuần lễ đầu tháng năm 1975, tình hình chiến sự bắt đầu sôi động mạnh. Quân Bắc Việt tấn công tỉnh lỵ Phước Long và ngày mồng 6 tháng 1 thì Phước Long thất thủ. Chưa tới hai tháng sau, Cộng sản tấn công luôn An Lộc. Đến ngày 10/3/75, 25 ngàn quân Bắc Việt đánh chiếm Ban Mê Thuột, và ngày hôm sau thì chừng 4 ngàn quân của Việt Nam Cộng Hòa phải đầu hàng. Tổng thống Thiệu quyết định bỏ vùng Cao nguyên và hai tỉnh ở phía Bắc, biến thành một cuộc triệt thoái điên rồ trong hỗn loạn với sự truy kích, pháo kích của quân Bắc Việt. Đọc trên báo các ký giả Tây phương đã mô tả đây là “đoàn công-voa của nước mắt” (the convoy of tears). Giữa tháng 3, tỉnh Quảng Trị mất, cuối tháng thì mất luôn Huế. Ngày 8 tháng 4, ba sư đoàn quân Bắc Việt mở đầu cuộc tấn công Xuân Lộc, chỉ cách Sàigòn chừng 38 cây số… Đến lúc đó, tướng Nguyễn vĩnh Nghi quyết định triệt thoái sinh viên ra khỏi quân trường Long Thành về nhập với quân trường Thủ Đức, nhằm bảo toàn cho sinh mạng của sinh viên vì đa số chưa ai có kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường với cộng sản, và đồng thời dùng quân trường Thủ Đức làm ‘nút chặn’ để bảo vệ Sàigòn. Khi đã ổn định ở quân trường Thủ Đức rồi, tôi biết ở nhà mẹ tôi đang ngóng đợi tin tôi và tôi thì lo lắng chưa biết hòan cảnh toàn gia đình ra sao, vì lúc ấy đã nghe tin đồn dân chúng Sàigòn đang tìm mọi phương tiện để trốn thóat ra ngoại quốc. Một buổi sáng nào đó giữa tháng 4, tôi tìm cách bò ra khỏi hàng rào kẽm gai đã được tháo gỡ mìn Claymore từ sáng sớm, đi về hướng Học Viện Cảnh sát, và đi xe thồ Honda về thăm gia đình. Vì trận chiến ở Xuân Lộc tạo ra một đoàn dân chúng tản cư lánh nạn, nên giao thông bị cản trở, xe Honda phải chạy lòng vòng, có khi băng qua ruộng lúa hay các rừng cây thấp. Chạy chừng nửa tiếng bỗng nghe một tiếng nổ như trời long đất lỡ, về sau mới biết là quân đội cộng hòa đã thả bom CBU lên đầu quân Bắc Việt ở trân chiến Xuân Lộc. Suốt 10 năm sống trong chiến tranh tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm về một tiếng nổ kinh hoàng đến thế, có cảm tưởng như là một trái bom nguyên tử. Tôi tính nếu khôn ngoan, thì phải về nhà gặp anh tôi trước, mới có thể nắm được tình hình tổng quát, để quyết định nên trốn luôn hay không. Nhà anh tôi ở số 5 đường Lý Trần Quán, ngay bên cạnh nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đang đứng gõ cửa thì nghe tiếng ông hàng xóm của anh tôi ở phía trước mặt chạy qua báo cho tôi biết ‘cậu có phôn của ông A. gọi về’. Tôi mừng quá, vậy là biết anh tôi đã ‘thoát’ được rồi. Giọng nói của anh tôi có vẻ vội vã, nghiêm trọng… bảo mật đến độ ông không dám cho tôi biết đang ở đâu, và chỉ nhắn là mẹ tôi và gia đình nên tìm cách vào DAO để đi, người chị tôi đã có sẵn danh sách lên máy bay rồi… Tôi chợt nhận ra tình hình như thế này là hết thuốc chữa rồi, còn trông mong gì giải pháp chính phủ hai, ba thành phần… ‘Đ…mẹ, bọn Việt cộng. Lần nầy thì hết có thể chơi ngang ngửa với tụi bây được rồi. Tụi bây đang chiếm ưu thế’, tôi rủa thầm. Trở về thăm mẹ và chị tôi đang ở khu Lăng Cha Cả thì mới biết cả nhà đang đợi tôi và anh tôi về để cùng ra đi. Anh kế tôi lúc ấy đang phục vụ ở Giang đoàn 24 Xung phong đóng ở Năm Căn, Cà-mau chưa biết sống chết ra sao nữa. Sau cùng thì cũng nhớ để tới thăm “cô vợ tương lai”, nghe nói cả gia đình từ Nha Trang di tản vào đang ở nhà ông ngoại, trên đường Đinh tiên Hoàng -Đa Kao. Gặp tôi, cô HN mừng, miệng cười nhoẽn, trong ánh mắt tươi tắn và làn da nhờ đi nắng nhiều nên càng đậm thêm màu nước da bồ quân của cô. Tôi chào ông bà “nhạc tương lai” của tôi. Quan sát thấy hoàn cảnh sống của họ mà động lòng, hơn nửa tá người ở chui rúc với căn nhà chật hẹp của ông ngoại, nên tôi chợt nảy ra một ý kiến đầy lòng nghĩa hiệp. “Cháu mời gia đình bác về nhà anh cháu ở tạm đi, cả gia đình anh ấy dọt đi Mỹ rồi!”, tôi nói. Ông “nhạc tương lai” của tôi họ Phan, tên là văn Nhơn, người gốc “công tử Bạc Liêu”, chẳng học hành gì nhiều nhưng nhờ lanh miệng và khôn khéo trong vấn đề áp-phe, nhất là biết dùng rượu chè tiệc tùng ăn nhậu để mua lòng người. Và, nhờ khôn lanh ông kiếm được chức ‘thanh tra công ty Shell” là một chức vụ kiếm tiền đã đời, qua những màn đóng hụi sống của mấy cây xăng muốn ăn gian, nên ông khá giả… Người ông tầm thước, da hơi sạm đen, bụng bự vì nhậu la-de, môi đen thâm chắc là vì hút thuốc lá hơi nhiều. Ông nghe tôi đề nghị, đưa đôi mắt ti hí nhìn tôi một lát mới cất tiếng vã lã, “Ừ, con đề nghị vậy cũng hay...” Tối hôm đó, cả gia đình người bạn đời chưa cưới của tôi dọn về ở trong căn nhà ‘vacancy’ bất ngờ ở số 5 đường Lý trần Quán. Tôi còn muốn tỏ lòng tử tế và biết điều, nên chạy về nhà mẹ tôi lúc ấy đang buôn bán hàng PX, nên có đủ rượu ngon, lấy vài chai champagne lên đãi cả nhà ông “nhạc tương lai” một bữa cơm tối thịnh soạn, có tiếng nổ bốp bốp.. mở nắp champagne. Ông bà nhạc cảm động cười hề hề, người yêu chưa cưới trong suốt 9 tháng quân trường không một lá thư hỏi thăm cười hi hi… Giữa bửa ăn, tôi tằng hắng rồi lên tiếng, “Thưa hai Bác, cháu thấy tình hình như thế này thì chắc không hy vọng gì cho miền Nam nữa, chắc cháu sẽ “trốn” luôn không muốn trở vào quân trường Thủ Đức nữa.” Đây là một đòn chiến thuật với mục đích vừa ở Sàigòn dễ tìm cơ hội dọt đi Mỹ hơn, thêm nữa được gần gũi bên cạnh người yêu chưa từng thử lửa một nụ hôn nào đắm đuối nào cả mà khỏi mang tiếng là ‘thằng đào ngủ’ với ‘ông nhạc tương lai’! Dường như nghe tôi vừa tuyên bố một điều gì thật động trời, ông “nhạc tương lai” mở lớn đôi mắt lươn, dõng dạc: “Đâu có được, cháu làm vậy thì lỡ tình thế bình thường trở lại là cháu mang tiếng đào ngủ à, còn tương lai đâu. Vì hoàn cảnh của riêng bác, chắc gia đình phải tìm đường ra đi. Nếu thoát được qua Pháp, mấy con gái của bác ngày nào đó có thể lấy Tây, còn riêng cháu nếu có duyên với con gái bác, sau này ra nước ngoài gặp nhau lại thì bác cho hai con lấy nhau.” Chu chà, ông đánh đúng tâm lý của mình ghê ta, một người còn trẻ mà biết sống tử tế, phải đạo như tôi. Tôi lặng người trong giây lát, hơi men champagne đã làm lâng lâng mà niềm cảm thú chợt nhiên hụt hẫng, tê tái. “Ông nội này ăn nói nghe thực tế đến đau ruột mình. Đào ngủ trong giây phút này thì quá dễ dàng, nhưng còn tương lai sau đó thì sao?”, tôi nghĩ thầm. Thế là bữa tiệc sum vầy chưa trọn, tôi nghe lời ông “nhạc tương lai”, từ giã mọi người lên đường về lại Thủ Đức. Lúc ấy ngoài trời đèn đường đã bật sáng. * * * Vào lại quân trường, sáng hôm sau tôi phải ngồi viết một giấy tường trình đã vắng mặt đi đâu suốt một ngày trời cho sĩ quan trực. Tôi muốn làm cho ra vẻ có huynh đệ chi binh, tình đồng đội, nên nói thật là tôi muốn đào ngủ ở luôn Sàigòn tìm đường trốn đi Mỹ, nhưng vì nghĩ tới tình anh em đồng đội, nên trở về để cùng kề vai sát cánh sống chết với nhau. Có ai biết đâu sự thật tôi trở lại quân trường là chỉ vì lời nói ‘khích tướng’ phải gió của ‘ông nhạc tương lai!’. Ngày 21 tháng 4 xem tivi trong quân trường, ông Thiệu tuyên bố từ chức tổng thống. Bài diễn văn “biệt ly” dài gần 90 phút, ông Thiệu nói trong cay đắng và gần như khóc. Ông lên án Hiệp ước Hòa bình Pari, Kissinger, và lên án Mỹ không biết giữ lời cam kết, bất nhân, vô trách nhiệm… Không riêng tôi, ai nghe lòng cũng tê tái, phiền muộn. Tự dưng, tôi thấy mình ngu, vì sao lại nghe lời “ông già” ấy mang thân lại vào đây để làm gì, một lần trốn ra khỏi trại đâu có dễ gì. Tôi nhớ trở về đây đã quên lên báo cho mẹ và chị tôi biết, vậy là cả nhà vì chờ tôi không chịu ra đi, kẹt lại cả chùm… Ôi tôi ơi, sao thiệt thà quá sức. Đến nước ông tổng thống mà còn tìm cách “chạy làng” thì hết thuốc chữa rồi, còn đánh đấm quái gì nữa. Sàigòn trước sau sẽ mất vào tay bọn Cộng sản Bắc Việt thôi. Nhưng sau những phút giây bần thần ấy, tôi bỗng cảm thấy thương anh em sinh viên đồng đội đang quanh quẩn với nhau ở quân trường. Thủ Đức giờ đây có nhiều sinh viên của các binh chủng khác nhau khắp nơi tụ lại. Nét mặt ai cũng bồn chồn, lo lắng, nhưng tình đồng đội, sự cảm thông chưa bao giờ lên cao đến vậy. Bọn tôi quá rảnh rỗi, không biết làm gì ngoài việc đi phạn xá ăn cơm trưa tối, lúc khác trốn vào quán uống cà phê nghe nhạc, đọc báo, bàn chuyện thời sự. Các sĩ quan cán bộ hầu như chán chường, cứ để cho anh em sinh viên tự do, được sống phút nào hay phút đó. Que sera, sera! Ban ngày, tôi đứng trên giao thông hào nhìn ra bên kia xóm nhà dân, cây cối um tùm, thỉnh thoảng thấy mấy thằng du kích Việt cộng trên người choàng vải dù quần xà lỏn, hiện ra rồi lại biến mất. Chúng tôi cũng chẳng thèm để ý tới bọn chúng nữa. Không ai còn có ý tưởng tấn công, sát phạt chúng, ngoại trừ hành động tự vệ nếu như bị chúng gây hấn, bắn trước… Ngày 23 tháng 4, theo tin tức được bàn tán trong quân trường, tụi Bắc Việt có đến 100 ngàn quân đang tiến vào Sàigòn, so với chừng 3 sư đoàn đang bảo vệ thủ đô, có nhiều vị chỉ huy đã bỏ trốn ra nước ngoài trước rồi. Nói chi đâu xa, trong quân trường Thủ Đức này sáng sớm 28 tháng 4, Đại tá Nguyễn văn Minh –quyền chỉ huy trưởng (thay thế tướng Nguyễn vĩnh Nghi) tập họp sĩ quan, sinh viên dõng dạc quyết chiến đấu đến phút cuối cùng, ai dè buổi chiều ông trốn đi mất, nên Đại tá Lộ công Danh (Liên đoàn trưởng LĐ SQ&SV) phải lên thay thế. Sáng sớm ngày 30 tháng 4, đám sinh viên tụi tôi từng nhóm đứng ngồi rải rác trên những chiếc nón sắt úp xuống làm ghế, tâm trạng hoang mang thì bỗng có mấy chiếc xe tăng T-54 của bọn Bắc Việt rầm rầm xông vào từ ngoài cổng trước, chạy tuồn luôn bên trong quân trường như lạc đường. Có chiếc theo đường tráng nhựa chạy ra tuốt cổng sau, về hướng đồng ruộng. Số là, bọn nó tưởng nhầm quân trường này là đường phố vì đường tráng nhựa rộng rãi, có cây cối xanh tươi và trường ốc, nhà cửa khang trang. Nhiều tiếng la lên, ‘xe tăng Việt cộng, xe tăng… Việt cộng anh em ơi. ’ Thế là không ai bảo ai, tự động nhảy xuống giao thông hào, hay tìm vị trí ẩn núp… Tôi và thằng ‘Dũng tà lọt’ đứng quá xa giao thông hào không còn kịp chạy, nên tìm một góc nhà cầm súng bàng hoàng trong vị thế tự vệ. Có mấy sĩ quan tham mưu từ Đà Lạt về tỉnh táo, thiện nghệ hơn…bình tỉnh cầm súng M-72 ngồi bên một gốc cây nhắm vào xe tăng bắn, có nhiều tiếng súng M-16 bắn theo hàng loạt. Tôi lên tinh thần cũng lên đạn cây AR-15, bắn đại vài tràng. Ôi, sao chiếc xe tăng đầu nó vẫn an nhiên chạy, không hề hấn gì… chạy tuốt đi ra phía cầu Bến Nọc, chỗ chúng tôi thường hay đi ra bãi tập. Nhưng, đến chiếc xe tăng thứ hai bị bắn trúng phóc, đầu súng nó quay qua về vài vòng rồi phát cháy. Lửa cháy bùng lên, nhưng không thấy thằng Bắc Việt nào trong xe tăng nhảy ra cả. Thế là chúng chết cháy trong xe hết rồi. Có lẽ thằng nào cũng bị cột chân vào bàn đạp ga (?). Một chiếc xe tăng khác nữa bùng cháy… súng nổ vang trời. Chừng 15 phút sau, nghe tiếng súng đã bớt, tôi và ‘Dũng tà lọt’ mới chạy tìm giao thông hào phóng xuống. Trông khí thế của thằng Dũng cũng còn ngon lành lắm. Khác với mọi khi, miệng hắn khi nào cũng cười cầu tài, ỏn ẻo có vẻ nịnh bợ. Dũng người Huế, gia đình ở xa, nên tiền lương không đủ tiêu xài, do đó tôi trở thành một ân nhân -nguồn cung cấp thuốc lá, cà phê, nhậu nhẹt… cho Dũng xài ké. Hắn hiền lành, dễ thương, chỉ thiếu một chút hùng dũng của nam nhi; người hắn thì nhỏ con mà muốn làm ‘pilote à la guerre’ mới chết chứ. Dù vậy, tôi cảm thông và đối xử với Dũng rất hào sảng và chân tình. Hai đứa cầm súng ngồi trong giao thông hào, thỉnh thoảng còn nghe vài lọat súng xa gần… Tôi quay sang nói với Dũng, “Dũng này, mày nhắm coi có ai bà con, thân thích gì ở Sàigòn không? Đến giờ phút này thì không nên để phải chết vô ích nữa, mày phải tìm cách chuồn về Sàigòn với người quen. Hoàn cảnh gia đình tao chưa biết còn hay xuất ngoại rồi, nên mày theo tao chỉ thêm bất trắc... Mày hiểu không.” Hắn không trả lời, chỉ ư hữ, đôi mắt nhìn xuống suy tính… Tiếng súng đã im hẳn. Tôi giụt bỏ khấu súng AR-15, phóng lên khỏi giao thông hào, chỉ trong mấy phút sau đó, quay lại không còn thấy tăm dạng Dũng đâu nữa. Tôi khập khễnh bước, hướng ra cổng trường Thủ Đức. Khi đến gần cột cờ thấy còn có vài chiếc xe tăng Bắc Việt khác bị cháy nằm một đống đen khịt vì lửa khói. Không dè bọn tăng của cộng quân đã chỉa súng bắn vào khu phạn xá gần trại thiết giáp và nhà chiếu bóng làm ở đây chết một số quân nhân… Đi ra đến dãy nhà cư xá của sĩ quan, tôi thấy Đại tá Lộ công Danh đang ngồi trên đầu mũi xe Jeep, hút thuốc. Trên vai áo ông vẫn còn nguyên vẹn ba hoa mai bạc. Phía trong, trước cửa nhà, một bà dáng hơi mập bận bộ đồ bà ba màu đen lụa đứng nhìn ra, vẻ u buồn. Tự dưng, tôi xúc động trước hình ảnh của Đại tá Danh, đưa tay lên chào ông. Đại tá Danh đưa tay lên chào lại rồi gật gật nhẹ cái đầu trong nét mặt rất buồn như chia sẻ nỗi niềm. Ngày trước báo chí Sàigòn từng móc lò, chửi xéo ông …với cái tên lộ…công..danh; nay mới biết trong giờ phút của tuyệt vọng và hiểm nguy đến sự sống, ai mới thật sự là kẻ có nhân cách và nghĩa khí. Đừng bao giờ vội phê phán người khác chỉ vì định kiến, thiển cận. Khi tôi ra khỏi cổng trường, thấy bên góc trái ngoài hàng rào còn có thêm một chiếc xe tăng T-54 cháy nữa, lửa còn bừng đỏ. Tính ra có khoảng 5 chiếc xe tăng Bắc Việt bị anh em đồng đội sĩ quan và khóa sinh của quân trường bắn cháy, nhưng cộng quân cũng để lại nhiều xác chết của nhiều quân nhân trong quân trường –đa số là sĩ quan và sinh viên từ mấy họng súng trên các chiếc xe tăng của bọn Trung Cộng quỷ quái này! Nhớ ra mình còn bận đồ lính trong người, nên tôi tạt vào một nhà dân xin bộ đồ dân sự. Một ông đứng tuổi niềm nỡ cho tôi một bộ đồ civil không vừa lắm, nhưng kệ, tôi nhanh chóng trút bỏ bộ đồ lính, choàng bộ quần áo mới vào người. Cám ơn người dân tử tế. Tôi lên đường đi bộ về hướng Sàigòn. Ra đến đường cái mới biết đã có nhiều trận chiến xảy ra giữa quân đội VNCH và Việt cộng. Xác chết rãi rác hai bên đường, lẫn lộn trong những binh phục dễ dàng phân biệt xác nào là quân cộng hòa, du kích hay bọn lính Bắc Việt. Đi từ đây cho đến cầu Tân Cảng, một khung cảnh chiến tranh điêu tàn với xác người, áo nhà binh đầy ắp bên vệ đường, nhà dân đổ nát hay cháy rụi, chứng tỏ quân đội cộng hòa đã quyết một trận sống mái với kẻ thù dù trong hoàn cảnh rất tuyệt vọng. Tôi bước đi như người mất hồn, đầu óc trống rỗng, nhìn bọn lính Bắc Việt ngồi trên những chiếc molotova chạy với tốc độ chậm hướng vào thành phố. Bọn lính Bắc Việt phần lớn mặt mày còn non choẹt, ngơ ngác nhìn trong bộ áo bộ đội màu xanh rộng thùng thình trông như những chú lính đóng vai hề trên sân khấu. Một hình ảnh chẳng thể nào mang lại cho tôi một chút ngưỡng mộ nào cả… Dừng chân ngay bên bờ sông bến Tân Cảng, thấy một chiếc xe truck Sealand loại lớn cửa mở toang hoang chất đầy hàng hóa đủ loại, chờ người hôi của đang tụ lại để bốc gỡ. Nhìn thoáng vào trong, tôi thấy có những thùng nước ngọt Coca Cola, miệng khát quá cố gắng nhoài người lên để lấy một lon, nhưng sao tứ chi bải hoãi, không thể nào chen chân với đám người hùng hỗ, say sưa khiêng vác như những phẩm vật trời cho ấy. Tôi chào thua, tiếp tục lên đường. Giữa cầu Tân Cảng, một anh lính bận quân phục cộng hòa, không rõ cấp bậc, đang nằm rên hư hử… phía bên bụng, một đống ruột lòi hẳn ra ngoài… ‘cứu tôi với…cứu tôi với…’ Tiếng rên của anh không còn đủ sức bật âm thanh, nghe như tiếng của chiếc máy phát thanh đã đến hồi hết pin ‘…có ai..cứu tôi với…cứu tôi với…’ Tôi rùng mình và bật lên một ý tưởng, hay là lấy tay nhét đống ruột kia vào trong cho anh… may ra mới có thể kéo dài sự sống, nhưng chợt nhớ ra trong cuốn sách y khoa nào đó cho biết làm vậy càng dễ làm cho nạn nhân mau chết vì sự nhiễm trùng. Chân tôi bước đi mà con mắt phía sau gáy vẫn nhìn chằm chặp vào anh. Tôi muốn cứu anh lắm, nhưng không biết làm sao đây, tôi bất lực…Lạy Trời Phật, xin anh tha tội cho tôi, tha tội cho tôi… Về đến nhà mới biết, ngoại trừ gia đình người anh cả đã đi trót lọt, còn lại mẹ tôi, chị tôi, anh kế tôi đã an lành trở về và hai cháu nhỏ đều bị kẹt lại, vì chờ trông cho tôi về để cùng đi một lượt. Mẹ tôi không muốn bỏ rơi tôi ở lại…một mình. Căn nhà ở đường Lý trần Quán dành cho gia đình ông bà “nhạc tương lai” quý mến ở, vì sợ liên can đến người đi Mỹ, nên đã dọn trở về nhà cũ của ‘ông ngoại.’ Tôi đến thăm người yêu chưa cưới của tôi. Gặp lại tôi cô ta ra vẻ vui mừng pha lẫn chút bẽn lẽn. Sau một hồi hỏi han trò chuyện cô mới nói thật, cả gia đình cô trong một tuần lễ vất vả tìm phương tiện ra đi mà không được, cuối cùng có một chiếc tàu hứa hẹn cho đi thì bị họ xí gạt…bỏ lại. Như thế là kế hoạch đi Tây và dự kiến mấy người con gái của ông có thể sẽ lấy Tây đã tan như bọt xà bông. Giờ đây cả gia đình ông phải đối diện với một cuộc sống chỉ còn hai bàn tay trắng… * * * Sáng hôm sau, tôi ghé lại căn nhà ở góc đường Đinh tiên Hoàng -Đa-kao để thăm người yêu chưa cưới. Căn nhà ấy nằm ở mặt tiền, nên bây giờ biến thành một quán bán hủ tiếu, cà phê. Ông ‘nhạc Nhơn’ thấy tôi đến liền đưa mắt ra dấu ra sau góc nhà. Vẻ mặt ông đăm chiêu, ngập ngừng nói, “Bác muốn bàn với con một việc này. Bác nghe người ta đồn rằng, trong thời gian tới khi tụi lính Bắc Việt sẽ bắt ép mấy cô gái trong Nam này lấy bộ đội hết; còn con gái nào mà đẹp và ăn diện sẽ bị tụi nó lấy kềm tuốt hết móng tay móng chân…thì tội nghiệp cho con HN quá. Bác nghĩ hai con dù sao cũng đã đính hôn rồi, thôi thì bác để cho hai con được tự do sống chung với nhau hạnh phúc được ngày nào hay ngày đó…” Nghe ông ‘nhạc Nhơn’ nói mà tôi không tin ở lỗ tai mình. Cha mẹ ơi, có thể nào chuyện hôn nhân của tôi đi tới một hồi chung cuộc thoải mái, tự nhiên như một bài dân ca Nam bộ hò lý…vợ chồng vậy sao! Tôi như mở cờ trong bụng, vừa khoái chí, vừa ngượng, vừa thoang thoảng nghe tiếng vỡ tan niềm thơ mộng. Tôi chợt nghĩ tới điều nhân nghĩa trả lời, “Dạ thưa bác, được vậy thì con đội ơn niềm thông cảm sâu xa của bác, nhưng tội nghiệp cho HN là người con gái…danh giá, mới lớn lên…Hay là con đề nghị thế này, con sẽ về nhà bàn với mẹ con làm một bữa tiệc nhỏ để hợp thức hóa cảnh sống chung?” Hình như ông ‘nhạc Nhơn’ chỉ chờ tới câu nói đó, không ngờ thằng nhỏ này biết điều thật. Ông không cười nhưng nét mặt rạng rỡ lên. Ông tiếp lời ngay, “Con nghĩ được như vậy thì phải lẽ lắm.” Tôi về nhà báo cho mẹ tôi biết tin vui, và chị tôi thật tội nghiệp suốt cả một quãng đời lận đận tình duyên, nghe vậy cũng vui lây…Thế là sáng hôm đó, tôi cỡi chiếc vespa của người anh cả để lại, đi khắp các chợ để tìm mua vài con gà, nhưng chẳng thấy chỗ nào bán gà cả. Đường phố còn vắng người. Nỗi kinh hoàng và sợ hãi của người dân như chưa tan vội. Trên đường từ ngã tư Bảy Hiền đi ngang khu cư xá Lữ Gia, vào tuốt trong Chợ Lớn vẫn còn để lại nét điêu tàn của chiến tranh. Vài chiếc xe tăng cộng quân cháy đen vẫn còn nằm rãi rác ở các ngã tư. Bọn bộ đội vẫn chưa dám xuất hiện thản nhiên ngoài đường phố. Khi lên Chợ Lớn, may quá chị tôi tìm mua được hai con gà, thêm vài giỏ trái cây, các thứ linh tinh khác…rồi hai chị em đèo nhau về nhà. Mẹ và chị tôi loay hoay làm gà, rồi nấu nướng suốt cả buổi chiều. Mẹ tôi nói, ít ra cũng phải dọn sáu, bảy món cho ra hồn chơ làm sơ sơ coi sao được. Trong nhà thì đã có sẵn mấy thùng rượu, bia, nước ngọt, thuốc lá…hàng của PX Mỹ các loại mà chị tôi đã buôn về cho mẹ tôi bán, nên tương đối có thể dọn một bữa tiệc khá trịnh trọng… Tôi tất cả lái xe về báo cho bên gia đình nhà gái biết giờ giấc để đến, và còn nghĩ tới điều tối thiểu phải có một người bạn làm chứng cho buổi hôn lễ nên chạy xe tạt qua nhà thằng M. -bạn mới ở quân trường tới dự. Tối hôm đó không có người anh kế của tôi trong ‘bữa tiệc cưới dã chiến’ vì sáng hôm trước, ông đã hồ hỡi nghe lời chính quyền ‘cách mạng’ triệu tập để đi học tập trong 3 ngày. Chỉ có mẹ, chị tôi, hai đứa cháu con chị, và bên gia đình nhà gái có bốn người cả thảy, và người làm chứng là thằng Mạnh (M: M. Bắc kỳ, một người bạn air cadet). Khi ngồi vào bàn tiệc, ông ‘nhạc Nhơn’ thấy mặt thằng M. thì ông để lộ vẻ khó chịu liền. Ông kêu tôi ra một góc, hỏi nhỏ “tại sao con phải mời cái thằng đó tới làm gì. Bác nói chỉ có mấy người trong hai gia đình mình thôi.” Tôi không biết trả lời làm sao, nên chỉ biết lúng túng ậm ừ. Thật lòng thì tôi muốn có một thằng bạn nào đó làm nhân chứng cho niềm hãnh diện của tôi, để sau này khỏi mang tiếng là vợ chồng gì mà không thấy cưới hỏi!… Cả tuần nay từ lúc quân Bắc Việt vào “phóng giải” thành phố Sàigòn, nhà đèn vẫn còn hư nên ngoài đường thì tối om còn trong nhà muốn sáng thì phải đốt đèn cầy lên. Giữa bàn tiệc bày la liệt thức ăn, có đủ rượu mạnh J. Walker và ba chai champagne, Coke, Seven-up, và một bình hoa nho nhỏ trông cũng đẹp mắt ra phết. Mọi người bắt đầu cụng ly, ăn uống nhưng xem chừng trên nét mặt không ai vui cả. Giống như một bữa tiệc để đưa tiễn nỗi lo sợ, kinh hoàng của ngày 30 tháng tư một tuần lễ trước…may mắn còn sống sót. Không biết vì rượu hay vì nỗi sầu, thằng M. bỗng dưng òa ra khóc nức nở. Tôi lặng nhìn nó khóc, bỗng xúc động đến rúng người… Ông ‘nhạc Nhơn’ thấy M. khóc, đưa mắt nhìn nó một chặp, rồi nói trong hơi thở của rượu, “Nè M… M… coi bác này…” vừa nói ông vừa chúm môi thổi nhẹ vào ngọn lửa của chiếc đèn cầy… rồi còn diễn giải thêm cho nó hiểu, nói “gió chiều nào thì mình xuôi theo chiều đó…hiểu không!” Thằng M. ngưng nức nở, nhưng sẵn đà còn thớt lên vài tiếng thảm sầu. Tôi lặng người, không dè một buổi tiệc vui mừng hôn phối mà có tiếng khóc như một ‘buổi tiệc ly’ của một thằng con trai to con lớn xác. Sau màn khóc lóc của thằng M. cũng là lúc bữa tiệc vừa tàn. Ông nhạc tôi tế nhị muốn dứt điểm sớm để cho hai đứa trẻ còn ân ái nhau nữa chứ. Mọi người chia tay ra về, còn lại gia đình tôi…và cô dâu mới. Tối hôm đó, chú rễ và cô dâu ‘động phòng hoa chúc.’ Tiếp cận với nhiều biến động suốt cả tuần lễ qua, nhưng sự hứng cảm cũng đến với tôi dễ dàng trước sự gợi tình trong bóng tối của người yêu. Nhưng sao tôi không thấy sự rung động thiêng liêng nào của đêm tân hôn cả… Tôi làm tình với nàng như một kinh nghiệm làm tình nào đó của thời con trai mới lớn... Tôi trở mình ở vị thế nằm ngữa, đưa mắt nhìn nghiêng lên khoảng trời qua cửa sổ. Trên trời có ánh trăng nhưng bị một màn mây đen che khuất. Hình ảnh người lính cộng hòa bị thương lòi ruột nằm rên ư hử bên lề cầu Tân Cảng lại hiện đến, những chiếc xe tăng Việt cộng cháy xám, những khuôn mặt ngờ nghệch của tụi bộ đội Bắc Việt chợt hiện ra… tất cả tạo thành một bức tranh ảm đạm như một Guernica-của-riêng-tôi. Tôi có linh cảm như một điềm gỡ của hành trình hạnh phúc mong manh này. Mùi "semen" hòa lẫn với...nồng nặc váng vất trên đầu mũi. Tôi quay qua lấy tay đặt trên chiếc vú nho nhỏ của "cô dâu" và ngủ thiếp đi… Lời kết : Tục ngữ Việt có câu, “Con không Cha, như Nhà không nóc.” Ba tôi mất quá sớm, lúc tôi mới 1 tuổi. Khi chồng chết, Mẹ tôi còn quá trẻ -mới 30 tuổi, nghe lời trăn trối của chồng quyết ở vậy dùng tấm thân tháo vát và lòng nhân hậu nuôi các con khôn lớn. Có khi cũng bị thiên hạ qua mặt, lừa đảo, chơi gát. Ngoại trừ người anh cả tôi, nhờ phúc đức ông bà tổ tiên, đường gia thất được vẹn toàn. Riêng, các anh chi em còn lại, đường gia thất đều gặp chuyện gian truân không ngờ, vì mẹ mình quá nghèo và quá hiền lương. Dù ba tôi có một thời theo Việt Minh với vài chiến công lẫy lừng thời chống Pháp, nhưng ông Nội của ba tôi thì bị Việt Minh... xin ghi lại vào dòng gia phả mà mẹ tôi cẩn thận còn giữ tới hơn nửa thế kỷ sau : “....Giòng họ Nguyễn Như... Chánh quán, hay là chiếc nôi đất của giòng họ Nguyễn là làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình… Sau bao năm chiến tranh loạn lạc, giòng họ Nguyễn, tứ tan người một phương trời, nên gốc gác, tên tuổi không thể góp nhặt đầy đủ. Người đứng đầu đám con cháu (vị tiên chỉ) thời cận đại được biết tới là Nguyễn như Chỉ, người từng làm quan lớn ở tỉnh Quảng Bình, văn hay, chữ tốt, liêm khiết, trung trực, là mẫu người đạo đức toàn diện. Giàu có, ruộng dất cò bay thẳng cánh đúng với nghĩa phú quí, văn võ song toàn. Nguyễn như Chỉ sinh hạ các con: Nguyễn như Huy (tự Cửu Huy) và Nguyễn như Chúc. Nguyễn như Huy là gia trưởng. Giàu nức đố đổ vách, đất đai rộng mênh mông. Người đương thời thường có câu “Nhất Đồng Nai, nhì hai Huyện” (hai huyện thuộc tỉnh Quảng Bình.) Nhà cửa lộng lẫy, nguy nga, chạm trổ bằng cẩn xa cừ, nến thắp bằng sáp vàng (Soirée de Gala). Con gái thì nằm trên võng có nô tì rửa chân, thay giày dép, áo quần. Sau bị Việt Minh đấu tố là đại địa chủ, đầy ải trên ruộng cho đến chết. Được tiến cử bởi phụ thân Nguyễn như Chỉ, người là quan lớn ở tỉnh Quảng Bình –Nguyễn như Chúc, làm quan ở làng Chiết Bi, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Văn hay, võ giỏi, đánh ăn trộm tài danh nhiều phen phải bạt vía, kinh hồn. Giàu có như anh ruột mình…..” [trích gia phả họ Nguyễn Như được chép lại (*)] Với một lý lịch có nếp sống như thế thôi, ông cố tôi đủ để chết dưới bàn tay "đấu tranh giai cấp" của Việt Minh ngoài bắc rôi. Nhưng, không phai người "đại địa chủ" Việt Nam nào cũng nhờ bóc lột sức lao động người nghèo, ăn cướp tài sản của kẻ khác...mà phần lớn là do sự lao động cần cù, thông minh, hoặc sự thăng tiến xuất phát từ sự bền chí học hành, trau dồi kinh sử để có cơ hội đi vào con đường hoạn lộ... Kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 32 năm về trước, tôi mang được dấu ấn vào đời với “ông nhạc hụt” họ Phan với triết lý sống “Gió chiều nào xuối theo chiều nấy”; nghe nói cũng có lúc từng là "công tử Bạc Liêu" thời thuộc địa Tây... Và trong hơn hai thập niên ‘lưu đày’ ở hải ngoại, tôi còn quen thêm ông cụ Phan hồng Nhật, dịch giả “The Tao of Physics” F. Capra thành “Đạo Vật lý.” Ông cụ đã già cả, lại không nghe tới học hành ra sao mà dịch được một cuốn sách khó như vậy là thuộc ‘loại’ tài giỏi. Lại còn được quen biết, ông Phan mL. (Chủ tịch tổ chức Từ thiện GĐ) tác giả của “Suy nghĩ về những cống hiến của dân tộc Việt Nam cho nhân loại trong thế kỷ 20 và thiên niên kỷ thứ II”, đã có vài đóng góp thầm kín nho nhỏ biến ông Hồ thành ông Phật –cũng là chuyện độc nhất vô nhị. Có người lại còn ví von tác giả là một thứ ‘Lã bất Vy tân thời’ nữa. Ngoài ra, tôi còn được chiêm ngưỡng hình ảnh ông Phan văn Khải gốc người Củ Chi, cựu thủ tướng được tổng thống nước Hoa Kỳ tiếp đón, chụp hình chung…dù cho nét mặt của ông thủ tướng Cộng sản có vẻ sượng sùng, ưa cười cầu tài.. Và, theo tiết lộ của nhà báo Việt Thường, hình như mấy anh em nhà-công-an-Lê-đức-Thọ, cũng thuộc dòng họ Phan thì phải. Nếu, được ở trên quê hương của Mao trạch Đông chắn hẳn người ta phải xưng tụng họ là những “Phan Đại gia.” Viết “Ngày 30 tháng Tư…muộn…của tôi”, tôi chỉ có mục đích để dành làm món quà tinh thần cho con trai của tôi, nếu không học hỏi được gì ở trong câu chuyện tôi kể, thì cũng mong sẽ là một nụ cười trong ngày hôn phối của tụi nó trong tương lai. Nguyễn Văn Hóa (Thường Đức ) Monday Night, June 04, 2007 (*) Lý lịch này thì chắc chắn loại Công an được nên danh phận sau 1975 không thể nào biết được. Chỉ có một người biết được là Ôn Thích Trí Quang mà thôi. Nhân tiện xin cám ơn giáo sư TKL là người đã tạo hoàn cảnh, dẫn dắt tôi được diện kiến với Thầy vào giữa năm 2003. Ghi chú riêng: Trong bài "Phỏng vấn Hoàng nguyên Nhuận" do Gs. Quán Như thực hiện, có đưa ra một chi tiết đặc sắc. J. Negroponte (hiện là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ) bạn thân của HNN thuở nào, là đường giây đã dẫn Kissinger đế gặp ông HNN. Trong buổi trao đổi về chính trị, ông HNN có dịch cho Kissinger nghe một câu đồng dao: "Bồng bồng cõng chồng đi chơi, Đi đến lục tỉnh đánh rơi mất chồng..." [ web Chuyển Luân và giaodiem.com có đăng] Đó ai biết được câu đồng dao ấy dịch ra Anh ngữ như thế nào, và có ý nghĩa gì trong trường hợp này?? © copyright giaodiem.us | 2006
|
© copyright giaodiem.us | 2009