* Nhân đọc lại bài phỏng vấn "Chiến tranh Việt Nam và ngày 30
tháng 4 dưới mắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ"

Đọc lại văn bản “Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới
mắt TS Cù Huy Hà Vũ” được đài VOA phỏng vấn vào tháng 4 năm
2010, làm ta dễ nghĩ Cu Huy Hà Vũ đã ‘đánh tráo’ lịch sử, hoặc
đã đơn giản hóa lịch sử; giải thích lịch sử theo nhãn quan cá
nhân làm cho kẻ chiến thắng bớt đi sự hợm hĩnh, kiêu căng –và kẻ
thua trận giảm cường độ niềm uất hận mỗi năm khi tháng 4 về.
Bởi, kẻ kiêu căng thì chẳng bao giờ hạ mình đi nói chuyện “hòa
giải” với kẻ bại trận, trong khi kẻ bại trận đem chuyện hòa giải
ra nói thì sẽ bị đánh giá, thậm chí bị lên án là ngây thơ, khờ
dại. Cho nên, với xuất thân của mình –là một nhân vật có quan hệ
đặc biệt với kẻ chiến thắng, cá nhân Cù Huy Hà Vũ công bố cái
“triết lý hòa giải” của riêng mình, mang một ý nghĩa đặc biệt.
Ý nghĩa đặc biệt ở chỗ, kẻ thắng trận dù không muốn cũng khó
lòng bác bỏ, kẻ thua trận dù còn đeo đẳng niềm uất nghẹn cũng
không thể nào phủ nhận (ít nữa là công khai). Từ đó, Cù Huy Hà
Vũ –cũng là vô tình thôi, đạt được trọn vẹn sự đồng thuận của cả
hai phía: -là theo ông, người Việt có một hệ tư tưởng riêng:
tinh thần thuần Việt, nên độc lập dân tộc thì phải gắn liền
với lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước. Không ai có thể
phủ nhận điều đó được.
Một điều khôn khéo khác, Cù Huy Hà Vũ đã biết nhắc nhở tới công
lao của tiền nhân khi muốn gây ấn tượng mạnh hơn "tinh thần
thuần Việt" bằng một chiều dài lịch sử từ khởi đầu
thời kỳ “tự chủ” của “Đại Cù Việt” (lý ra đài VOA, hoặc CHHV nên
sửa lại là Đại Cồ Việt cho chính xác, đúng với nguyên nghĩa) và
cho tới lúc mở mang bờ cõi ở phương Nam của Chúa Nguyễn. Nhưng,
nói về tâm lý nguồn cội của người dân phương Nam thì không ai
nói sâu xa hơn nhà văn Võ Phiến: “Người dân trong Nam nhớ
thương đất Thuận Hóa như chim nhớ tổ như nước nhớ nguồn; còn
người dân Bắc thì họ sống tại cội nguồn, còn mơ tưởng về đâu
nữa. Xung quanh họ nào những đền Hùng, núi Tản viên, làng Phù đổng
v.v… chứng tích buổi hồng hoang sơ khai của dân tộc hãy còn gần
gũi bên mình. Những cái đó người trong Nam đâu biết đến?”
(*)
Bản chất của một cuộc nội chiến là một cuộc tranh giành quyền
lực chính trị. Mục tiêu chính trị (có thể ẩn dấu) là kinh tế, nên hệ quả lịch sử đàng sau của nó sẽ giải thích,
nhận diện ý nghĩa đích thực của “Ngày giải phóng miền Nam”
được chính danh hay không tùy thuộc vào tâm thức chính nghĩa dân
tộc cộng với năng cách lãnh đạo của kẻ thắng trận. Không cần
phải biện minh, lý giải mà do tâm lý người dân thụ hưởng và cảm nhận
được. Hệ quả này nó sẽ hùng hồn “phủ nhận” hay “không thể phủ
nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975 vì đó là ngày đất nước Việt
Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh, độc lập dân tộc được
chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng
thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn”
như Cù Huy Hà Vũ đã đề cập.
Nhưng, nói như thế đâm ra sẽ vướng vít vào cái “lý hòa giải”,
nên Cù Huy Hà Vũ nói thêm rằng, Hòa hợp, hòa giải dân tộc là
xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không
phải là sự ban phát của nhà cầm quyền..., không phải là sự tha
thứ, khoan dung. Bởi hòa giải phải xuất phát từ trái tim, từ năng
thức chính trị dân tộc. Và, sự thể hiện hòa giải quốc gia trọn
vẹn nhất phải nằm ở hành động: Cù Huy Hà Vũ “kêu gọi ban lãnh
đạo Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng
ở Việt Nam bởi nếu không, Hòa hợp, Hòa giải Dân tộc sẽ lại trở
thành lừa đối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.”
Chế độ đa đảng thể hiện tính đối lập chính trị, là hệ quả của
một thể chế dân chủ; có như vậy sự kiện ngày lịch sử thống nhất
quốc gia mới đúng với ý nghĩa vì dân, do dân và từ dân mà có.
Với thế hệ hậu duệ cuối cùng của Đảng cộng sản Việt Nam, chưa ai có đủ
‘thẩm quyền’ hơn Cù Huy Hà Vũ để thực hiện ước mơ đó.
( * Tùy Bút, Võ Phiến, nxb Văn Nghệ 1986, trang 180.)
nguyễn văn hóa - 20.4.2011
________________________________________________________
Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt TS Cù Huy Hà Vũ
Thứ Năm, 29 tháng 4 2010
VOA:
Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong chiến
tranh Việt Nam người Mỹ không thua trận trên chiến trường mà
thua tại sân nhà, do các làn sóng phản chiến trên các đường phố
Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những người này là
Tiến sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn sách của
ông ấy mới đây. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp quân sự
ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng
sản mà Miền Bắc Việt Nam là “tiền đồn” ở Đông Nam Á trong bối
cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa Kỳ đã thua trong chiến
tranh Việt Nam đương nhiên có nghĩa họ đã bại trận trước chủ
nghĩa cộng sản, điều mà Nhà trắng và nhiều người khác hẳn không
thể và không muốn chấp nhận.
Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự của Hoa Kỳ
tại Việt Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield đã đi theo
hướng đó bằng cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là do người dân
nuớc này phản chiến.
Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên chiến
trường Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các đường phố
New York, Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh sự mất kiên nhẫn
của người dân Mỹ, đặc biệt trước thiệt hại quá lớn về sinh mạng
của lính Mỹ.
Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số lính Mỹ
chết trong “Chiến tranh cục bộ” từ 1965 đến 1968 tại Miền Nam
Việt Nam là khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ chết trong chiến
tranh Triều Tiên từ 1951 đến 1953, trong khi cộng sản Triều Tiên
còn có sự hỗ trợ của gần 3 triệu lượt quân Trung Quốc.
VOA:
Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ tại Việt Nam
cách nay 35 năm?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận
trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này tuyệt nhiên
không có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.
Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc chủ nghĩa
xã hội chưa bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam bởi cho đến ngày
hôm nay hệ tư tưởng ấy vẫn chỉ là “định hướng” như chính ban
lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa nhận.
Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so
với chủ nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao giờ được chứng
minh ở Việt Nam nên sẽ là quàng xiên khi nói rằng bên chiến
thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là hệ tư tưởng cộng sản.
Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước chỉ có thể xác nhận
quan điểm này của tôi.
VOA:
Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh Việt Nam là vì
những lý do gì?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự giúp
đỡ đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng tượng
nổi Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên,
phương tiện chiến tranh mà các lực lượng cộng sản Việt Nam nhận
được từ hai cường quốc cộng sản này chắc chắn không thể bì được
với phương tiện chiến tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả
về số lượng lẫn chất lượng.
Để nói rằng, sự giúp đỡ mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành cho
Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ là đặc biệt quan trọng nhưng rõ
ràng không phải là nhân tố quyết định chiến thắng của Việt Nam.
Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo tôi,
lẽ ra đã không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã không có
chuyện Hoa Kỳ thua trận nếu như siêu cường quốc này đã không cố
tình mắc sai lầm trong đánh giá đối phương. Thực vậy, việc Hoa
Kỳ bao cho Pháp đến 80% chi phí quân sự vào giai đoạn cuối của
cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn
nổi sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954 ngay từ
lúc đó đã chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến tranh không phải
cái để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt Nam cộng
sản.
Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh được
nếu như trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những người lính của Tướng
Giáp là những rô-bốt của Trung Quốc và Liên Xô, hay lính đánh
thuê cho chủ nghĩa cộng sản, nếu như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu
người Việt.
VOA:
Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn xử lý quan hệ
với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu người Việt?
Nếu đúng vậy thì tại sao?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam,
Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những người ủng
hộ họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những người này được điều
khiển bởi một hệ tư tưởng duy nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai
lầm chết người của Hoa Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư
tưởng riêng của họ nên không còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở
đây là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.
Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện mà người
Việt sử dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng của mình.
Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư tưởng cộng
sản nhưng thực tế lại phải giao chiến với hệ tư tưởng của người
Việt, điều mà Hoa Kỳ không hề tính tới trước khi lâm trận nên
thất bại là tất yếu.
VOA:
Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy hệ tư tưởng đó là
gì, thưa ông?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc và
người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt được các
triều đại phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư dân và làm cơ sở để
đặt tên nước như Đại Cù Việt, Đại Việt rồi Việt Nam.
Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại sao có
cái tên này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào đề cập.
Nhưng theo tôi, cái tên “Kinh” là đặt theo tên của Kinh Dương
Vương, thủy tổ của người Việt theo huyền sử và điều này chứng tỏ
người Việt rất có ý thức về nguồn cội của mình.
Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần Việt
suốt chiều dài lịch sử và chính đặc điểm “thuần Việt” này đã
hình thành cho người Việt tư tưởng Một dân tộc, Một quốc gia hay
Dân tộc đồng nhất với Quốc gia, để từ đó đi đến nguyên lý bất di
bất dịch: không thể có độc lập dân tộc thực sự với một quốc gia
bị chia cắt về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc phải gắn liền với
thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.
Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền Nam Việt
Nam là do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy, năm 1611, Chúa
Nguyễn Hoàng là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ Thuận Hoá, tức là Quảng
Trị - Thừa Thiên - Huế ngày nay, là nơi ông trấn thủ, thực hiện
cuộc Nam tiến đầu tiên để mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía
Nam.
Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó đã là một
sự kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan tính hay hành vi chia
cắt miền Nam khỏi miền Bắc.
Nhà thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc diễn
thuyết đầu tháng 12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề không gì rõ hơn:
“Miền Nam nước Việt và người Việt Miền Nam” kêu gọi thanh
niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam tiến để cùng “đồng bào”
Nam bộ chống Pháp tái chiếm, đã nhắc tới
cái đau đáu nguồn cội
của những người Việt theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những
câu thơ bất tử của Huỳnh Văn Nghệ: “Ai về Bắc ta theo
với/Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/Từ độ mang gươm đi mở
cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.
Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một thể thống
nhất và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly khai. Tôi gọi hệ tư
tưởng ấy của người Việt là chủ nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là
Vietnamunism, tương tự như chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.
Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng của riêng
mình là bất diệt.
VOA:
Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc
chiến tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ
nghĩa Nhất thể Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người Việt mà
ông vừa nói tới liệu có mâu thuẫn với các cuộc nội chiến không,
thưa ông?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không chỉ
gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ quốc. Thế
nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng chừng mâu thuẫn là
các cuộc nội chiến lại không dẫn đến sự chia cắt lãnh thổ mà
ngược lại, củng cố sự thống nhất của quốc gia.
Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn thoái trào
của triều đình đương thời như một sự tất yếu để bầu chọn người
lãnh đạo mới của quốc gia. Điều này là cốt tử đối với người Việt
vì nếu không kịp thời thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ
là miếng mồi ngon cho phong kiến Trung Hoa. Nghĩa là “Nội chiến
hay là Chết” trong bối cảnh Việt Nam luôn bị nước lớn phương Bắc
này rình rập thôn tính.
Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong cơ
thể quốc gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời để lành
mạnh hoá cơ thể.
Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên tham
chiến nào có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt lãnh thổ quốc
gia. Nghĩa là “được ăn cả, ngã về không” như cách nói dân gian
và thỏa hiệp nếu có thì chỉ là tạm thời.
Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố sự thống
nhất quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi đánh bại Chúa
Trịnh rồi Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến nổ ra khi Triều Lê
mạt vận, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế và để chứng tỏ thống nhất
đất nước là mục tiêu tối thượng của cuộc chiến do ông tiến hành,
đã ghép chữ đầu của Gia Định là thủ phủ Miền Nam với chữ cuối
của Thăng Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc để làm niên hiệu Gia
Long.
Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam là vấn
đề có tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của hệ tư tưởng của
người Việt hay chủ nghĩa Nhất thể Việt và vì vậy là bất khả
kháng. Do không hiểu được người Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can
thiệp quân sự nhằm duy trì Vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam và thất
bại là cái giá phải trả.
VOA:
Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày
30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến giữa người
Việt với người Việt?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là cuộc
chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến tranh của
Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài trợ 80% chi phí
cho cuộc chiến tranh này như đã đề cập. Tuy nhiên cuộc chiến
tranh này của Hoa Kỳ lại dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn
giữa những người Việt. Vì vậy nói chiến tranh Việt Nam là một
cuộc nội chiến là không sai nhưng đó chỉ là một cuộc chiến trong
một cuộc chiến khác, cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.
Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam
vào năm 1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc tế
gọi là giai đoạn “Việt nam hoá” chiến tranh của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc
chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng là ngày kết
thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.
VOA:
Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo
Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng
ngày 30/4/1975 là “Ngày giải phóng Miền Nam” ?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Khi nói “giải phóng Miền Nam” thì
không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi cái
gì.
Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng Miền Nam” khỏi sự
chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội cộng sản nhận
sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh, đó
chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi Miền Nam từ năm 1973 theo
Hiệp định Paris.
Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng Miền Nam” khỏi chế độ tư bản,
kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác – Lê nin. Tại
thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một
bộ phận những người cộng sản Việt Nam, mà bằng chứng là các
chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp tư doanh” và “tập thể hoá
nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản xuất, đất đai
thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay sau đó.
Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc chắn
không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa đen
của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai
đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
VOA:
Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho đến thời gian
gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định
với chủ nghĩa Xã hội?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo
học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế
tập trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại
trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản tuyệt đối
vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt
Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế
thị trường được Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6
của Đảng vào năm sau, 1986.
Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh
bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của
đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công
cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách chính thức cho phép đảng
viên làm kinh tế tư nhân.
Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt Nam coi là nòng
cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng được hưởng sự chăm
sóc đặc biệt của chế độ này là công nhân và nông dân, Búa và
Liềm ấy, hiện nay trên thực tế lại thuộc những người cùng khổ
của xã hội, tựa những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90
năm trong báo Le Paria - Người cùng khổ.
Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc lột và bị xúc phạm
nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công trên thực tế, còn
nông dân thì bị chính quyền công nhiên chiếm đoạt đất đai, nguồn
sống có thể nói là duy nhất của họ.
VOA:
Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt
Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết
Mác-Lê nin, thưa ông?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện ban lãnh đạo Đảng
cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo là vì họ sợ mất
quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức tuyên bố từ bỏ
chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền
lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực lại là phương tiện làm
giàu của đại đa số đảng viên có chức vụ.
Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh
đạo đất nước không gì khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp
của một nhóm nhỏ trong Đảng cộng sản Việt Nam, đi ngược lại lợi
ích của tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có hàng triệu đảng
viên cộng sản và vì vậy quyết không thể kéo dài hơn được nữa!
Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam một sự
sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và
Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại
đa số quần chúng nhân dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân
theo đó cách mạng đồng nghĩa với trả thù, phục hận, cách duy
nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng, điều mà Hiến pháp
Việt Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người sáng lập
Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.
VOA:
Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải phóng Miền
Nam” theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy tuyên
truyền bây giờ là không đúng?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải
bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền
Bắc thôn tính Miền Nam” và trong trường hợp đó lại trở thành mầm
mống gây chia rẽ Bắc – Nam không chỉ trong nhân dân mà trước hết
và ngay trong chính nội bộ những người cộng sản.
Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải với
những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản Việt
Nam chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang
đậm chất “thắng – thua” như trên.
Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975
vì đó là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến
tranh, độc lập dân tộc được Chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân
tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến
lúc đó mới thực sự trọn vẹn.
So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt thì đó
dứt khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực vậy, mãi 14
năm sau bức tường Berlin mới sụp đổ còn bán đảo Triều Tiên thì
chưa biết khi nào mới có thể chứng kiến Bàn Môn Điếm được tháo
dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng
cũng vậy, chưa biết bao giờ mới chung một màu cờ.
Do đó “Ngày thống nhất đất nước” theo tôi là thích hợp nhất để
diễn đạt ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với nguyên lý
“Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước” của chủ nghĩa
Nhất thể Việt hay hệ tư tưởng của người Việt.
VOA:
Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ
có gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng niệm
chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng sa
và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân
lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt
sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi ông đã đưa ra sáng kiến này?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị tôi
không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ
rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt
Nam tri ân và tri ân một cách xứng đáng.
Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước
đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam
Cộng Hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng sa, lãnh thổ
thiêng liêng của Việt Nam.
Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm túc
thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho hòa hợp, hoà
giải giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến.
Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và bền vững
thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề
này.
VOA:
Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản
tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến sĩ?
Tiến sĩ Cù
Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất
phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải
là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn,
không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư
biết hối lỗi như cách Nhà nước Việt Nam thể hiện bấy lâu nay.
Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và tốt hơn nữa, biết
nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt, kể cả đối lập
để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.
Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải dân tộc là chấp nhận chung sống
của các quan điểm chính trị khác biệt
Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà nước Việt
Nam luôn đề cao trước hết phải là đoàn kết chính trị, tức đoàn
kết các quan điểm chính trị khác biệt bởi nếu cùng chính kiến
thì cần gì phải đoàn kết.
Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có tội nếu
Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực
hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính
kiến đều có cơ hội cứu nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược
Trường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn
bao giờ hết!
Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt
Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không,
Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở thành Lừa dối dân tộc với
hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.
VOA:
Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành
và thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi
trong cuộc phỏng vấn này.
http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam-war-a-perspective-from-hanoi-4-29-10-92469969.html