ß Trờ về

đăng ngày 10.01.2012

 

Mối quan hệ hữu cơ giữa vai trò “chư hầu” của một cơ chế chính trị và vai trò “nô bộc” giữa các cá nhân phục vụ cơ chế đó

Nguyễn Văn Hóa

 (tác giả edited lần thứ nhất, sáng ngày 13.01.2012) 

 

-'nhà  nghiên cứu văn hóa'; 'nhà Huế học'

Nguyễn đắc Xuân

 

Từ vai trò “chư hầu” đi xuống vai trò “nô bộc” 

Học vị “tiến sĩ” là sự xác nhận một người nào đó đã đạt được thành tích học tập, vượt qua và tới đích cuối cùng một chương trình học (từ undergraduate..tới..doctorate curriculum) của bất cứ một trường đại học nào đó trên thế giới này, bằng một luận án (thesis) về một lãnh vực chuyên môn nào đó. Luận án ấy không những chứng minh người thụ đắc văn bằng tiến sĩ là một chuyên viên thông suốt (professional expert) về chuyên môn của mình, mà còn xác nhận họ là một người có khả năng nghiên cứu trong các lãnh vực (không chuyên môn) khác.  Nhưng, như mọi người học Phật đều biết, “đừng bao giờ quá tin vào sách vở”, nhất là sách vở của mấy ông tiến sĩ, bởi học vị tiến sĩ, chức danh giáo sư sẽ tạo ra một lề thói ‘tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt’ là một án ngữ ngăn chặn mọi trực giác, trí thông minh, khả năng phán đoán của người đọc, người học hỏi..

Không thiếu gì tiến sĩ viết một câu với văn ngữ, từ ngữ mang một ý nghĩa thiếu chính xác, lệch lạc từ chủ đề, tiêu đề cho tới nội dung nghiên cứu; chưa nói tới việc có khi người ta lợi dụng học vị, chức danh qua phương tiện ngôn ngữ cho một mục đích không lương thiện. Tôi muốn đề cập tới một bài viết có tính thời sự của ông (tiến sĩ) Vũ Quang Việt mới được đăng tải trên tạp chí online Thời Đại Mới, “Phải chăng quan hệ Việt Nam với Trung Quốc vẫn còn mang tính bá chủ - chư hầu?”  (1)

Khi người ta nói tới quan hệ giữa hai quốc gia “bá chủ và chư hầu” là nói tới một thực thể chính trị ngoại giao; thực thể chính trị ấy là sự thi triển chính sách, đường lối (trực trị, hoặc gián tiếp) áp đặt của quốc gia bá chủ lên quốc gia chư hầu. Hiểu một cách minh bạch theo từ nghĩa bang giao quốc tế như thế, ta không thể nói sự quan hệ giữa hai quốc gia mang tính bá chủ-chư hầu. Nếu một quốc gia không phải là chư hầu (phục tùng) mà sợ sệt với quốc gia to lớn hơn nhưng không phải là bá chủ (áp đặt, ra điều lệnh), thì ta có thể nói đường lối đối ngoại của quốc gia đó mang tính nhu nhược, tính yếu hèn, tính hạ đẳng (luôn luôn tự coi mình là quốc gia hèn kém, bé nhỏ, không thể so bì được…)

Quan hệ bá chủ-chư hầu giữa hai quốc gia đã có từ thời cổ đại Trung Hoa, nên các nước Sở, Tề mới luôn luôn tùng phục, triều cống nhà Chu (Hoa Hạ). ‘Hoa Hạ’ là dân tộc lớn, văn minh, coi các nước bán khai là Di, Địch; nên chi dù Di, Địch có vua đi nữa cũng không thể so sánh với dân tộc Hoa Hạ (dù không có vua) -vì Hoa Hạ có lễ nghi, phép tắc. Bởi vậy, nhà Chu mới đặt ra các ‘điển chế, chính lệnh’ và các chư hầu phải làm theo. Nước Đại Việt (Giao Chỉ) cũng phải vậy thôi, dù cho một ngàn năm sau nữa, vẫn còn có con dân Đại Việt lòng chưa nguôi hận mới buông lời ta thán “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu..”. Sự kiện đó có thể hiểu là do kết quả từ chính sách bá chủ của những kẻ nối nghiệp nhà Chu ngàn năm sau thất nhân tâm, thi triển sai chính sách ngoại giao của Khổng Phu tử vốn “thủ tín, nhã nhặn nhưng trọng quốc thể, làm cho người phục mình về văn đức mà qui phụ và giáo hóa các dân tộc lạc hậu” (2); hoặc là vì, hậu duệ con dân nước Đại Việt (chư hầu) nhưng mang tính ương ngạnh, kiêu căng, tự phách, trọng thực nên bất nghĩa, tự coi nền văn minh Tây trắng cao hơn, sung túc hơn chăng?

Đàng nào thì nền văn minh Tây trắng quả thực đã lật ngược chính sách bá chủ-chư hầu trong đối ngoại với lân bang của Trung Hoa trong cuối thế kỷ 19, mặc dù kẻ chủ đạo làm lật ngược trạng huống đó trong tiến trình lịch sử quan hệ bá chủ (suzerain) với chư hầu (vassal states) của phong kiến phương Tây còn nặng nề hơn cả Trung Hoa, vì quan hệ này chủ yếu dựa vào triều cống (tribuary) vật chất thay vì dùng “văn đức” để trị “dân” (chư hầu) như Khổng Tử. Văn minh Tây trắng xâm nhập nội địa Trung Hoa, hình thái bá chủ-chư hầu mới được thay thế bằng tư tưởng Mao Trạch Đông trong mấy thập niên đầu thế kỷ 20, với quốc hiệu "cộng hòa nhân dân".

Bắc Việt (cộng sản) là một thứ “chư hầu tân thời” của Trung Cộng, mang tính liên tục và bất biến từ năm 1945 đến 1979. Nhưng, từ đầu năm 1979 đến 1989, ta có thể tạm chia thời kỳ này làm hai giai đoạn:

-Giai đoạn 1 (1979-1984):  xung đột giữa bá chủ-chư hầu, một xung đột đẫm máu giữa hai đảng cộng sản 'anh em đồng chí' Việt-Trung Quốc, và từ đó, Việt Nam trở thành quốc gia chỉ thừa nhận Liên Sô là quốc gia bá chủ duy nhất.

-Giai đoạn 2 (1985-1989): giai đoạn chao đảo và Việt Nam mất phương hướng đối ngoại, khi Liên Sô bị đánh mất tư cách 'bá chủ' và tự sụp đổ.

Thế rồi, từ 1990 đến hiện tại (2012): Việt Nam - Trung Quốc trở lại quan hệ bá chủ-chư hầu.

Đọc hết bài viết của tiến sĩ Vũ Quang Việt, tôi chỉ có thể thấy được mục đích: biện minh cho lãnh tụ ‘chư hầu’ Lê Duẫn là “lãnh đạo giỏi”, có công lao thống nhất đất nước. Một thứ chư hầu mang tính ương ngạnh, chống Tàu, nên những kẻ thừa kế của Đảng Cộng sản Việt Nam nếu biết kế tục tinh-thần-Lê-Duẫn thì không thể đi theo con đường chư hầu, dù chư hầu “chỉ mang tính biểu tượng”. Nói cách khác cho sáng nghĩa hơn, Việt Nam cần dứt bỏ chính sách đối ngoại thần phục Tàu, mà nên ngã về phía Mỹ(?). Một chính sách như vậy có thể bảo vệ được sự lãnh đạo kéo dài của Đảng, tránh cho Đảng sự sụp đổ chính trị, để rồi sẽ bị thay thế bằng một cơ chế dân chủ đa đảng. Nếu điều đó đúng, thì cá nhân Vũ Quang Việt, cũng giống như các thành viên của nhóm Thời Đại Mới –là những kẻ đồng sàng đồng mộng thôi. Một nhóm người đa số đều có học vị tiến sĩ, chức danh giáo sư trong hơn thập niên qua sốt sắng, nhiệt thành, cố hết sức mình dưới sự bảo trợ chính trị của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt và một người “đầu đàn” trung gian là cựu viên chức ngoại giao Nguyễn Trung, làm con thoi ‘giao thoa’ giữa Đảng và nhóm trí thức ‘thân Hồ Chí Minh’, tư vấn cho nhà nước rất nhiều vấn đề chuyên môn, từ đối ngoại tới chính sách kinh tế, tiền tệ…cũng không thấy được một sự thay đổi khả dĩ làm mát lòng những ‘kẻ sĩ tân thời’ này. Mặt khác, nếu công an bảo vệ chính trị, văn hóa ghét Võ Văn Kiệt một, thì đám trí thức này bị ghét đến 10 lần hơn. Có bao giờ họ ý thức được tính bấp bênh này không nhỉ?

Sở dĩ, tôi đem đề tài ‘bá chủ-chư hầu’ trong bài viết Vũ Quang Việt ra bàn, là để muốn nói đến sự chính xác trong việc sử dụng từ nghĩa –mang tính chất tương đồng trong quan hệ giữa bá chủ-chư hầu và quan hệ giữa  lãnh tụ và gia nhân trong phạm trù cùng một cơ chế. Tôi muốn nói tới quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Kỳ. Trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh , phần “Nguyễn Đăng Mạnh viết về Hồ Chí Minh”, tác giả đã đề cập đến người "gia nhân" của Hồ Chí Minh là Vũ Kỳ trong một lần gặp gỡ qua hồi ức như sau: 

“…Các anh Huỳnh Lý , Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của cụ Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết gì thêm về Hồ chí Minh, ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt lên vai. Ði guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi, "Các đồng chí có bao nhiêu nữ ?".

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế : để râu dài, áo cánh lụa. Ði guốc. Cầm quạt phe phẩy...

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế…”  ( 3

 Đó là nhận xét về nhân vật Vũ Kỳ của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh. Một hình ảnh rõ ràng, trong sáng như một đoạn phim trong cuốn phim thời sự được cất giữ từ lâu, nhưng không hề hư hại với thời gian, được đem ra chiếu lại. Văn chương hồi ký thuần phác có đôi khi mô tả sự kiện, tác phong, nhân cách của một nhân vật lịch sử chính xác hơn là văn nghị luận chính trị hay phẩm bình lịch sử.

Một nhân vật được gọi là gia nhân, mang tính đồng nghĩa với ‘gia nô, gia sư’, là một người đầy tớ, một kẻ giúp việc. Sự khác biệt nằm ở chi tiết hành xử thôi: khi gia nô ở thường trực trong một gia đình, lâu ngày tạo nên tình cảm liên đới, gia nô trở thành gia nhân; hay một người thầy dạy con nít của gia chủ do ở tinh thần trọng sư, biết ơn công lao kẻ giáo huấn con mình, kẻ giúp việc về chữ nghĩa này được gọi là gia sư. Cụ Hồ làm gì có con ở trong dinh, phủ, nên công việc của Vũ Kỳ (được gọi là thư ký cho có vẻ trịnh trọng và gọt rữa sự phân biệt giai cấp) không thể gọi là gia sư, không thể gọi là cộng-sự-viên, mà là một 'gia nhân' làm công việc của nô bộc. Với vai trò thư ký 'gia nhân', mỗi ngày, có thể Vũ Kỳ ghi chép những công việc lỉnh kỉnh như hôm nay cụ Hồ thích ăn món gì, gặp gỡ ai, thăm viếng ai và ở đâu để mang ra cho cụ Hồ loại quần áo gì, mua thêm thuốc lá Phillip Morris cho riêng cụ hoặc thuốc lá Tam Đảo dùng mời khách đã gần hết rồi, pha trà, cho cụ Hồ uống thuốc bổ và v.v… Cũng có thể Vũ Kỳ bao thầu luôn cả việc sửa soạn giường chiếu, gối mền mỗi đêm, hay thỉnh thoảng thu xếp chu đáo cho cụ Hồ một đêm ‘động phòng’ với một nữ nhân xinh tươi nào đó…để hôm sau phải đi giặt giũ những cái quần lót dính đầy tinh dịch hòa lẫn âm khí hôi hám mùi nước mắm thối của cụ sau mỗi lần làm tình như gió táp mưa sa. Tất nhiên, đó là công việc của một "nô bộc", của một người đầy tớ cho dù chủ nhân là một kẻ đại phú hay vua chúa. Bởi, biết một công việc của gia nhân cụ thể như thế, nên Nguyễn Đăng Mạnh không thể viết quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Vũ Kỳ mang tính gia chủ/chủ tịch-gia nhân, và đã ‘là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.’. Diễn đạt như vậy là quá chỉnh và đủ nghĩa! 

 ‘Nhà nghiên cứu khoa học’ Nguyễn Đắc Xuân và 'ước vọng gia nhân’ thầm kín 

Người Việt vốn hiếu hòa, nên người xưa thường nói “một sự nhịn chín sự lành”, “bỏ một làm mười”, “dĩ hòa vi quý”, bộc lộ tâm trạng thích hòa giãi, cho qua, ‘thôi kệ’. Cho nên, trước đây khi viết vài ba trang về cuốn sách “Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế”, (một ‘bút ký lịch sử 1978-2003’) của Nguyễn Đắc Xuân tặng, tôi mang cái ‘tâm’ như vậy. Gọi là ‘tặng’, nhưng thực ra tôi đã ‘donation’ cho tác giả gấp cả trăm lần giá của cuốn sách (giá cuốn sách: 35.000 đồng tiền Việt cộng, tương đương >2 dollars Mỹ năm 2003) .Tâm trạng ấy xảy ra cách nay 6, 7 năm rồi. Bây giờ thì khác nhiều, bởi qua sự tiếp xúc, quen biết với cán bộ cộng sản, đến một thời điểm nào con người thật của họ, của tập thể họ hốt nhiên bộc ra bản chất đáng kinh sợ …như một trái tạc đạn làm banh thây để lại một xác chết trần truồng, nhầy nhụa với từng bộ phận của nội tạng tan tác, thối rữa. Vì thế, đây là cơ hội cần thiết để tôi bổ túc, làm rõ cái con người thật của Nguyễn Đắc Xuân –một cán bộ cộng sản mà tôi đã nhìn thấy. Trước hết, phải nói tới khía cạnh "nghiên cứu khoa học" qua văn chương chữ nghĩa của đương sự.

Tôi tìm thấy công trình "nghiên cứu khoa học" trọng đại nhất, đã làm thay đổi thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Đắc Xuân chính là cuốn “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu Của Bác Hồ ở Huế.” (4) Tôi nhặt ra một bài thơ đánh dấu mốc thời gian, điểm chốt tinh thần giác ngộ của 'giai cấp và lãnh tụ' là bài thơ “Trên mảnh đất Bác đã sống qua” đăng trong phần Phụ lục 2.

Đó là bài thơ không hay ho gì, từa tựa như một vài bài thơ của Hồ Chí Minh đã được phổ biến, nên tôi thấy không cần chép lại toàn bài ở đây. Chỉ xin nêu ra vài đoạn tiêu biểu. Trong đoạn ba, có bốn câu: 

      “…Sáng nay cha đưa con đến xem

      Không phải để con quen mua rau mua cá

      Điều mà cha muốn con ghi nhớ

      Trên mảnh đất này Bác đã sống qua. (1)”

         (tác giả ghi chú (1), nhưng không tìm thấy chú thích ?) 

Dư luận ở Huế biết rất rõ, Xuân cưới vợ trễ, vì tuổi thanh niên bận đi ‘làm cách mạng’ trong rừng rú, tất là phải sau khi Bắc Việt chiếm miền Nam (tháng 4/1975) mới được cưới vợ. Bài thơ này đề ngày sáng tác là tháng 5, 1978, ba năm sau khi Xuân trở lại thành phố Huế với tư cách là một cán binh thắng trận. Giả dụ trong quãng thời gian sớm nhất, Xuân cưới vợ và đẻ con thì vào thời điểm bài thơ ra đời con Xuân cao lắm là 2 tuổi. Hình ảnh của mấy câu thơ bộc lộ tinh thần trung hiếu của cán bộ Xuân đối với cụ Hồ: cha dẫn con tới nơi ngày xưa Hồ Chí Minh còn thiếu niên đã từng sống ở đó, cho con ghi lòng tạc dạ. Giáo dục cho con biết mang tấm lòng trung hiếu như cha. Nhưng giáo dục chỉ có thể tác động phải là đứa trẻ tối thiểu bước vào lứa tuổi thiếu niên, ít nữa có đầu óc biết nhận xét, khôn ngoan vừa đủ của lứa tuổi biết cắp sách đến trường. Vậy thì làm sao để có thể tin đây là hình ảnh thật, sống động đến ‘rơi lệ’ của cha con Xuân? Thế là đủ rõ Xuân dối trá, nói láo, viết láo…với mục đích mà trong từ điển Việt ngữ gọi là “phỉnh nịnh”: dùng sự dối trá làm mê hoặc người khác vì tính vụ lợi. Tính vụ lợi cụ thể trong trường hợp của đương sự là muốn gián tiếp nịnh hót với mấy tay cán bộ Bắc kỳ nòng cốt, cao cấp ở trung ương Hà Nội “để mắt” đến Xuân, giúp y tiến thân dưới một chế độ rất khó tiến thân nếu không có quan hệ họ hàng, thân thích với bọn cầm quyền cao cấp. 

Một đoạn bốn câu khác, cũng đáng nêu ra: 

      “..Đây con đường thẳng vô cung vua

      Mẹ bác mất không được đem ra cửa

      Bác căm giận thét vang như lịnh vỡ

      Giữa Kinh thành rêu phủ thâm nghiêm.. (4)”

        (tác giả ghi chú (4), nhưng cũng không tìm thấy chú thích ?) 

Bốn câu thơ trên, bộc lộ một người không biết ‘mần’ thơ, hoặc mới tập ‘mần’ thơ, viết ra một cách gượng gạo cho có, nhằm đáp ứng vào mục đích bất ngờ chợt đến mà không hề có cảm xúc nào cả, cho nên để lộ vài mâu thuẫn. Thí dụ câu ‘Đây con đường thẳng vô cung vua’, mô tả đó là con đường chính, hệ trọng mà vua thường xử dụng khi ngự giá ra khỏi thành, khi trở lại cung vua. Cụ bà Hoàng thị Loan (mẹ Hồ Chí Minh) chết vào tháng 2/1901, vào năm Thành Thái thứ 12, chốn cung đình vua vẫn còn là nơi lầu son gác tía, cung vàng điện ngọc, và cũng vì biết vậy, tác giả mới trích dẫn bài thơ trong Cô Đô Huế của học giả Thái Văn Kiểm, mô tả cảnh quan, thành quách Huế lúc đó ( sách NĐX, trang 45, 46): 

            “Vào Thành ra cửa Đông:

            Xe ngựa chạy tứ tung

            Vào Thành ra cửa Tây:

            Sa gấm rực như mây.

            Vào Thành ra cửa Nam:

            Áo mũ đỏ pha chàm…” 

Theo vị trí địa lý, cửa Đông Ba nằm ở phía Đông của Đại Nội, nơi cư ngụ của mẹ con Hồ Chí Minh. Chỉ vì bốn câu thơ trên, bộc lộ toàn diện sự khờ khạo của nhà "nghiên cứu khoa học". Sự khờ khạo thứ nhất, tác giả đã biết nơi 'con đường Bác ở: Vào Thành ra cửa Đông: Xe ngựa chạy tứ tung..' rồi, bởi đã là người làm công việc nghiên cứu không thể không đọc tài liệu của Thái Văn Kiểm (hay của một số sách lịch sử, văn hóa thông thường mô tả cảnh quan trong và ngoài Đại Nội vào cuối thế kỷ 19, và đầu thế kỷ 20. Vậy mà tác giả vẫn cương ẩu "Giữa Kinh thành rêu phủ thâm nghiêm."  Nhưng tại sao một Kinh thành lại chịu cảnh "rêu phủ thâm nghiêm", hẳn nhiên ai cũng hiểu một cách đơn sơ tác giả muốn ám chỉ, mô tả hình ảnh của một chế độ quân chủ đã tàn tạ, phai mờ từ rất lâu. Có khi, người đọc không mảy may quan tâm tới sự mâu thuẫn khờ khạo đó. Nhưng, sự khờ khạo ấy phải có lý do chính đáng của nó làm tác giả quên khuấy tính mâu thuẫn giữa hai hình ảnh: ý thức giai cấp bằng cách đóng đinh trước chiếc 'quan tài phong kiến'. Sự khờ khạo thứ hai có thể tìm thấy trong hai câu giữa: Mẹ Bác mất không được đem ra cửa; Bác căm giận thét vang như lịnh vỡ.. Những nhà nghiên cứu lịch sử đều biế, sau khi Kinh thành được xây dựng, các triều Vua nhà Nguyễn đã đặt ra tục lệ là khi người ở trong thành chết, xác không được đưa thẳng ra cửa thành (vốn là con đường dành cho vua, quan, mà phải đưa thi hài xuống thuyền qua cống (kinh đào) Thanh Long để ra ngoài chôn cất là để tránh hình ảnh 'xấu, uế tạp' . Cho nên, xác (hay quan tài ?) của cụ bà Hoàng Thị Loan không được đưa ra thẳng cửa thành phía Đông cũng là chuyện bình thường; cái 'bình thường' của một người dân phải chấp nhận luật lệ chung của chế độ. Luật lệ ấy chỉ có thể bị phá bỏ, khi chế độ bị đánh đổ. Vậy thì tại sao, điều đó đã làm cho một ‘chú bé’ hỷ mũi chưa sạch phải căm giận thét vang như lịnh vỡ ?. Thật ra, cậu bé Nguyễn Tất Thành không hề căm giận một cách vô lý, ấm ớ như tác giả Xuân đã diễn đạt đâu. Cậu bé Nguyễn Tất Thành từng tỏ ra là một thiếu niên khôn ngoan, lém lỉnh đã từng tiên đoán trước sẽ bị bọn thực dân Pháp bắt cầm tù, nên đã tìm cách trốn tránh trước khi hai viên mật thám đến tận lớp học tìm bắt, sau biến cố chống thuế ở Trung Kỳ học sinh Tất Thành đã làm thông ngôn dùm cho một số nông dân với quan 'Đại Pháp' (Phong trào chống thuế ở Thừa Thiên Huế năm 1908 của nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Hữu Châu Phan được đăng lại trên tạp chí Nghiên Cứu Huế (*)). Song, năm 1901 cậu Nguyễn Tất Thành còn bé lắm, không thể và chưa đủ sức cưu mang tiếng thét căm giận như lịnh vỡ được. Có chăng là cậu bé Tất Thành đau khổ vì gia đình nghèo hèn, thiếu thốn nên cái chết của mẹ mình quá thê lương. Hai câu thơ trên chẳng qua chỉ là sự phản ảnh tâm trạng "căm giận" của Nguyễn Đắc Xuân mà thôi. Đó chỉ là tâm trạng của một người muốn chứng minh sự giác ngộ tinh thần đấu tranh giai cấp của chính mình và của lãnh tụ. Nhưng, diễn đạt tâm hồn của vị lãnh tụ của mình lúc còn bé mà dữ dội như thế là một dấu ấn báo hiệu khi đứa bé lớn lên sẽ làm loạn, làm giặc. Tâm trạng của cậu bé thù hận chế độ quân chủ tới xương tủy, dù cha mình là cũng là một ông quan "thét ra lửa" như ai. Có ai ngờ rằng, hơn 40 năm sau đó, có lẽ vì ám ảnh mơ hồ nhưng linh thiêng, về những tiếng thét hờn căm của những đầu óc đã từng sát nhân hàng loạt kẻ thù đối địch về giai cấp (ở Mỹ, họ gọi là ‘serial killers’) đó, nên Bảo Đại đã ngoan ngoãn dâng hiến ‘ngai vàng’ cho Hồ Chí Minh nếu còn muốn sống sót, cũng là điều dễ hiểu thôi !.

Nói cho công bằng, vào thời điểm này (1978), có thể khả năng và vốn liếng văn chương, sử ký của Xuân chưa đạt tới mức tối thiểu để làm một người viết văn suông sẻ, mới viết ra những câu thơ nhằm đề cao dòng máu cách mạng của cụ Hồ vụng về và rẻ tiền đến thế chứ !? 

Bài thơ trên xuất hiện trước khi cuốn sách “Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế” ra đời (1978 - 2003) là 25 năm. Một thời gian ‘quá đát’ cho một cuốn sách nghiên cứu in ra với khổ hẹp: 5 x 7.5 inches (12.7 x 19.05 cm), với chừng 254 trang (kể cả phần phụ lục). Thế mà, trong tinh thần nghiên cứu ‘khoa học’ của một cán bộ cộng sản, ta thấy được gì:

Theo tài liệu tham khảo tác giả liệt kê, có những đầu sách và tựa đề bài báo (đi đôi với thời điểm xuất bản) đáng lưu ý như sau: 

  -Le Quoc Hoc, tác giả (tg) Bris Le Eugène, xuất bản (xb) năm 1916

  -Chung quanh nấm mồ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tg Đỗ Hữu Nghiêm, tạp chí (tc) Đối Diện số 4/1969

  -Thời niên thiếu của Bác Hồ, Hồng Hà, xb 1976

  -Phong trào chống thuế ở Thừa Thiên Huế năm 1908, Nguyễn Hữu Châu Phan, nội san ĐH Sư Phạm Huế số 2/1978

  -Bình Trị Thiên trong lòng Bác, ts Võ Quang Sự, Văn Hóa BTT tháng 5/1980

  -Vài kỷ niệm thời Bác Hồ ở Dương Nỗ, Ngô Kha, sách Bác Hồ với BTT tập 2, 1978

  -Tuổi thơ của bác Hồ ở Huế, Sơn Tùng, báo Thể Dục Thể Thao, số 5/1976

  -Tuổi thơ Bác Hồ ở Huế, Tôn Quang Phiệt, báo Văn Nghệ số 21, 1978

  -Thăm Huế nhớ Bác Hồ, Tôn Quang Phiệt, báo Tổ Quốc số 5, 1978 

Ngoài ra, tác giả còn liệt kê đến 46 nhân vật, gọi là ‘được phỏng vấn’, nhưng thực chất nếu đúng là nội dung phỏng vấn thì mỗi phỏng vấn dù ngắn nhất cũng phải chiếm tối thiểu là 2 trang sách, và số lượng những cuộc phỏng vấn ‘đúng nghĩa’ ít ra số trang phải chiếm hơn nửa cuốn sách hoặc có thể nguyên một cuốn sách. Thực tế thì không phải như vậy, dù tôi biết cái phần gọi là phỏng vấn những nhân chứng từng biết cụ Hồ thời niên thiếu này, là phần quan trọng nhất của tác giả, nói lên tính cách ‘thực địa, khoa học’ của nghiên cứu. Cũng cần đề cập đến tấm lòng "tử tế đoản" của Xuân, khi nêu ra kịch bản phim tài liệu Thời niên thiếu của bác Hồ ở Huế đã được Bùi Tín viết lời bình, thực hiện năm 1990, dù một thời gian ngắn sau đó, Bùi Tín đã đào tị sang Pháp và viết báo chống chế độ cộng sản từ đó cho đến ngày nay. (Tôi nghĩ cần phải có một bài viết khác để đi sâu vào những đoạn phỏng vấn của tác giả Nguyễn Đắc Xuân sau). Dù vậy, chừng đó cũng đủ nói lên tinh thần thiếu ngay thẳng trong cái gọi là “nghiên cứu khoa học”. Chúng ta nên nhớ, trong bất cứ lãnh vực viết lách, nghiên cứu nào, các cán bộ cộng sản cũng thích chêm vào hai chữ ‘khoa học’ đi trước, dù thực chất họ là những người rất phi khoa học !.

Chính vì lý do đó, tôi hồ nghi rằng Xuân đã thoải mái ‘copy, cóp nhặt’ một vài chi tiết từ những bài báo, đoạn sách của một số tác giả tôi đã liệt kê ở trên để làm thành cái 'vốn' của mình. Theo tài liệu liệt kê, có một số thông tin về Nguyễn Tất Thành thời còn trẻ ở Huế đã được viết ra rất sớm (quý độc giả lưu ý tới tháng, năm xuất bản), thí dụ của tác giả Sơn Tùng (có người gọi ông với hỗn danh là ‘văn nô’); Nguyễn Hữu Châu Phan, Tôn Quang Phiệt, Ngô Kha, Hồng Hà v.v...trước thời gian ‘bài thơ giác ngộ giai cấp’ và cuốn sách nói trên của Xuân khá lâu. Do đó, Nguyễn Đắc Xuân chẳng phải là kẻ ‘khai hoang phá thạch’ gì đâu, mà chỉ là người đi lượm sỏi đá vụn rồi sắp xếp lại cho có thứ tự, lớp lang, để chứng minh rằng ông là nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh thời niên thiếu ở Huế sâu sắc và có ‘lập trường giai cấp’ nhất. Để có kết luận vừa đủ, hợp lý thì đó là cuốn sách rất ‘rẻ tiền’ về tinh thần cũng như công trình nghiên cứu. 

Quan hệ giữa một ‘nhà nghiên cứu khoa học’ về ‘Bác’ và ‘gia nhân’ Vũ Kỳ 

Tôi gọi quan hệ giữa “nhà nghiên cứu khoa học” Nguyễn Đắc Xuân với “gia nhân” Vũ Kỳ là một ‘quan hệ bất bình thường’, vì nó rất khác lạ với đời thường trong những xã hội dân sự bình thường khác. Đó là mối quan hệ giữa ‘ý thức gia nhân’ đối với các ‘gia nhân cao cấp’ của cơ chế -chính thể nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trường hợp của Nguyễn Đăng Mạnh thì có hơi khác. Ta thấy, khi ông Mạnh và một số đồng chí của ông  được giới thiệu gặp Vũ Kỳ, thì thái độ họ coi ông ta như là một ‘gia nhân’ đúng nghĩa như bao nhiêu gia nhân (tôi tớ) khác của các bậc vua chúa. Dù Vũ Kỳ là một gia nhân của lãnh tụ mình, nhưng đâu có thể coi như kẻ ngang hàng với các viên chức cao cấp của chính phủ được !. Trong cái nhìn quan sát hình dong, cách ăn mặc Vũ Kỳ, ông Mạnh phát hiện sao giống lãnh tụ mình quá, trong ý tưởng đã có chất chứa sự châm biếm, hài hước; thế mà nhà "nghiên cứu khoa học" Nguyễn Đắc Xuân chỉ mới gặp gỡ và báo cáo với "gia nhân" Vũ Kỳ lần đầu thôi, lại làm thay đổi hẳn cuộc đời của ông.

Theo tài liệu Nguyễn Đắc Xuân, ông ta bắt đầu viết về quãng đời niên thiếu của Hồ Chí Minh bằng những bài báo cỏn con, rời rạc sớm nhất là vào tháng 5/1978 kéo dài đến 1995 (xin xem phụ lục 1 của tác giả ở các trang 218-220).

Đầu năm 1979, chừng một năm sau bài thơ “phỉnh nịnh” của Nguyễn Đắc Xuân ra đời, Hà Nội thiết lập tại Huế một phân viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, tạo nên cơ hội thăng tiến của Xuân hé mở. Dù chỉ là một hé mở từ góc trời ‘thành quách rêu phủ thâm nghiêm’, Xuân đã gặp phải những sự ganh tỵ, lời ong tiếng ve rồi… Xuân kể có dư luận tung tin “Tay ấy nghiên cứu và viết về Bác Hồ là có ý đồ chính trị.”  ( trang 206 ), nhưng dư luận thì đâu bằng chính Thành ủy Huế -cơ quan mà Xuân phục vụ đến 18 năm trời trực tiếp chất vấn, hoạnh họe : “Ai cho phép Nguyễn Đắc Xuân đi báo cáo về Thời Niên Thiếu của Bác Hồ? Ai đã duyệt bài báo cáo đó?” ( trang 207 ). Xuân bắt đầu thấy lạnh gáy cho đến lúc ‘gia nhân Vũ Kỳ’ xuất hiện. Hôm ấy là ngày 3/6/1982. Có người xấu bụng đã báo cáo với Vũ Kỳ Xuân đi công tác nơi xa, suýt chút nữa Xuân đã đánh mất cơ hội gặp ‘long nhan’ đấy chứ. Hôm ấy, như một cơn mưa ‘ơn sủng’ đổ ập lên đời, Xuân được diện kiến ‘gia nhân Vũ Kỳ’ để ngập ngừng, e thẹn báo cáo về những khám phá ‘khoa học’ về thời niên thiếu của cụ Hồ ở Huế mà chưa dám kể hết công lao trời biển của mình. Kỳ “ngồi lặng thinh”, trầm ngâm suy tưởng. Đố ai biết được ‘gia nhân’ suy tưởng về điều gì?

Nhưng sau lần hẹn hò hôm đó, ‘gia nhân Vũ Kỳ’ xuất hiện bất ngờ nơi căn nhà tồi tàn của nhà ‘nghiên cứu Huế học’. Xuân mô tả hình ảnh tồi tàn, nghèo hèn của mình trước sự xuất hiện của ‘gia nhân cụ Hồ’ trong Chút Tâm Tình Kính Dâng  -tất nhiên là "kính dâng gia nhân" (Chương Kết, từ trang 204 - 215) như sau:

“..Rồi như thường lệ, tôi mang tài liệu về, nhanh chóng dẹp vào một góc nhà để tiếp tục cuộc sống thực tế của một người cán bộ bình thường vào những buổi trưa…mua rau, chẻ củi, thổi lửa nấu cơm và chăm sóc con cái.

Tôi đang lay hoay với cái bếp củi tươi khói mù, cái lưng trần nhễ nhại mồ hôi trước dãy nhà ngang nhà 16 Lý Thường Kiệt. Nhà cửa chật chội, các cháu nhỏ của tôi bày biện đồ chơi giữa nhà làm cho tôi càng thêm bực bội. Tôi định quát  cho các cháu một trận thì bỗng nhiên rù rù một chiếc com-măng-ca bóng nhoáng đến đỗ xịch trước hiên…” 

Vào giây phút đó, Xuân ghi lại cảm giác thảng thốt, xúc động của vợ mình: 

“..Ông Vũ Kỳ vào nhà, theo sau ông chỉ có một cán bộ của Bảo tàng Hồ Chí Minh. Nhà tôi chào khách với đôi mắt khó hiểu. Ông Kỳ biết ý:

-“Chị trông tôi có vẻ lạ phải không?”

Nhà tôi đáp có vẻ thẹn thùng vì khách nói đúng ý nghĩ của mình:

-“Thấy bác mặc áo bà-ba giống như Bác Hồ nên cháu thấy lạ!”

Ông Vũ Kỳ cười khì khì:

-“Tôi là cán bộ của Bác Hồ, làm việc tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Lúc Bác sinh thời tôi ở gần Bác nên có lẽ vì thế chịu ảnh hưởng của Bác. Sau hai hôm làm việc với anh Xuân, trưa nay tôi thay mặt cho Bảo tàng đến cám ơn anh chị đã nhiệt tình để một thời gian quan trọng của đời mình sưu tầm nghiên cứu về Bác Hồ…” ( trang 212 ) 

Trước là sự tán thán ‘công đức’ của vợ chồng Nguyễn Đắc Xuân, tiếp sau đó Vũ Kỳ lại cảnh giác thêm về tính đấu tranh giai cấp gay gắt với kẻ thù trong công tác thăng hoa lãnh tụ này nữa:  

“..Anh cũng nên nhớ chín mươi chín người kính yêu Bác Hồ chắc gì người thứ một trăm vì hận thù giai cấp họ lại không nghĩ ngược lại?”  ( trang 213 ) 

Trong lần gặp ấy, Xuân được ‘gia nhân’ Vũ Kỳ móc ra một “cái Huy hiệu màu vàng sáng chói”, cái Huy hiệu đặc biệt cao quý ấy chỉ có những người như ‘đồng chí Bắc kỳ cộng’ Phạm Tuân –một ‘phi hành ngồi’ trên chiếc phi thuyền bay lên không gian của bọn Sô Viết ‘tâng công’ cho sự tàn sát tài tình của Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam, mới được hưởng thôi. Một phẩm giá có thể xem như ‘tương đương với giải Nobel khoa học’ của bọn tư bản phương Tây đấy !.  Ông Vũ Kỳ cho biết, trước đây Phạm Tuân cũng chỉ nhận được Huy hiệu cao quý như thế là cùng. Vậy là, công lao của Nguyễn Đắc Xuân được coi như ngang hàng với Phạm Tuân.

Vợ chồng, con cái của Đắc Xuân xúc động ngất ngây, tự động sắp hàng đứng nghiêm cho Vũ Kỳ móc huy chương vào ngực áo, Xuân chỉ có thể nói được câu đầy uy nghiêm nhưng không thiếu vẻ dịu dàng trước bác ‘gia nhân’: “Xin cám ơn Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, xin cám ơn anh!”.  (trang 214)

Từ sự được thưởng công đầy vinh dự rực rỡ ấy, cuộc đời Nguyễn Đắc Xuân thăng hoa, như một tòa nhà vươn lên chọc trời ..giữa một mãnh đất trầm mình trong rêu phủ thâm nghiêm cả thế kỷ.

Chừng đầu năm 2003, tôi nhận được sự tiến cử và lời giới thiệu từ hai ông (Bùi) Hồng Quang, chủ tịch Từ thiện Giao Điểm và Trần Văn Thông ở Houston, Texas (làm nghề cắt cỏ, nhưng có liên hệ ruột thịt sâu sắc với công an trong nước, theo lời tiết lộ của Đỗ Hữu Tài (con Đỗ Mậu)) yêu cầu đăng bài của Nguyễn Đắc Xuân lên mạng giaodiem.com. Tôi tự hiểu, đàng sau những lời giới thiệu này là những lời cố vấn của Hoàng Văn Giàu từ nước Úc-đại-lợi. Cũng tốt thôi. Một thời gian ngắn sau khi tác giả Nguyển Đắc Xuân xuất hiện trên mạng giaodiem.com, tôi nhận được và cho đăng nhiều bài viết từ các tác giả Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Thanh Ty, v.v.. nhất là mấy bài viết ông Lục vạch trần sự gian dối, vu vạ của ông Xuân cho rằng cố tổng thống Diệm là người ăn cắp chiếc “nghiên mực hầu” của Vua Tự Đức trong triều đình Huế, hay viết láo sau khi được tham quan Dinh Độc Lập đã kể nhìn thấy ‘chiếc ghế kích dục’ của bà Ngô Đình Nhu ở trong dinh, sau ngày chế độ bị lật đổ. Lại càng tốt hơn nữa. Trong không gian mênh mông im vắng, tôi biết sự có mặt của tác giả Nguyễn Văn Lục và... đã làm cho một vài người có uy thế nào đó bất bằng, tức giận. Nhưng, ai là kẻ có quyền phủ nhận ‘tư cách làm việc’ của người chủ biên mạng lưới?.

Thú thực, đọc một số thông tin trong các bài viết của Nguyễn Văn Lục đã làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều về tính ngay thẳng của người cầm bút. Trước đó, tôi đã từng cảm động một cách tự nhiên qua một vài bài viết của Nguyễn Đắc Xuân, nhất là dưới mỗi bài viết đều có ba chữ “Gác Lộc Thọ ngày…” Tôi động lòng nghĩ: một tên sinh viên tranh đấu, rồi phải bỏ phố phường lên núi theo Việt cộng, bây giờ hòa bình trở về sống trong “căn gác đìu hiu” (Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu, ôi…) cắm cúi ngồi viết, thiết tha với đạo Phật, với tấm lòng ‘hoằng dương’ Phật Pháp. Ôi, thương quá đi thôi. Tự dặn lòng, nhớ…khi về nước ghé thăm phải cho hắn tiền, tiền…để hắn có cà phê, thuốc lá, ăn uống thêm sức để viết mới được!.

Nhưng ngày về nước, đi ra Huế và ghé thăm Xuân theo địa chỉ ông (Bùi) Hồng Quang đã cho, tôi sửng sờ trước “căn gác đìu hiu” cao to, lộng lẫy như một biệt thự, đứng thách thức với trời cao, bên giòng sông tương đối thơ mộng kéo dài từ Đập Đá chảy xuôi về chợ Cống.

Đầu năm 2008, trở về Sài Gòn lần nữa, ngồi uống cà phê buổi sáng với nhà thơ Võ Quê trong một quán cà phê nhà vườn vắng vẻ ở Gò Vấp, tôi nhắc lại câu chuyện về Nguyễn Đắc Xuân và “căn gác đìu hiu” thì Quê khéo nhắc tôi, “Sao H. không nghĩ đến ‘gác’ cũng có thể là ‘lầu son gác tía’ ?”. Tôi biết chứ, nhưng lòng vẫn nghĩ thầm mình không phải là nhà thơ sao tâm hồn thơ mộng lai láng đến thế, hỡ trời ! .

Cung cách xử sự của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân với ông Vũ Kỳ bao hàm cung cách của một “gia nhân”, hay có thể dùng một từ khác “gia nô”, cũng đồng nghĩa. Bản chất ‘gia nô’ (tinh thần và hành vi) của người cộng sản có tính hệ thống. Cán bộ cấp nhỏ làm ‘gia nô’ cho cho cán bộ cấp trung, cán bộ cấp trung làm ‘gia nô’ cho cán bộ cấp cao; trong mỗi thứ bậc của các cấp có quyền hạn và quyền lợi cao thấp khác nhau, kẻ có quyền hạn và quyền lợi thấp làm ‘gia nô’ cho kẻ có quyền hạn và quyền lợi cao hơn. Cuối cùng, các cán bộ cấp cao sẽ tranh giành và tận tụy làm ‘gia nô’ cho lãnh tụ. Đó là bản chất ‘tha hóa’ trong tinh thần đấu tranh quyền lực và đấu tranh giai cấp, nằm ngoài ý nghĩa “đồng chí” của các đảng phái chính trị khác, trong một chế độ dân chủ. Vì vậy, sự duy trì quyền lực của Đảng Cộng sản trong hòa bình và phát triển, chính các cá nhân phục vụ chế độ sẽ làm thối nát và băng hoại sự phát triển toàn diện của một quốc gia. Nhưng, để duy trì quyền lực và quyền lợi chính trị, một cơ chế ‘gia nô’ sẽ tự nguyện làm ‘gia nô’ (chư hầu) cho một cơ chế chính trị mang tính chất tương tự, nhưng có quy mô to lớn và quyền lực hơn trên bình diện quốc tế.  Tôi gọi đó là mối quan hệ hữu cơ…

Hôm nay, ngồi viết một vài điều về Nguyễn Đắc Xuân, tôi bâng khuâng liên tưởng, liệu vong linh của những người Huế đã chết tức tưởi nơi chốn bùn lầy, rừng núi thâm u, nơi những bãi cát bỏng, nơi những ngọn suối, bụi tre, ở sau những khu vườn đình chùa miếu mạo.. và những người Huế còn đang sống khắp mười phương có thấy tủi nhục, xấu hỗ với một ‘nhà nghiên cứu khoa học’ về văn hóa, lịch sử, ‘nhà Huế học’ như Nguyễn Đắc Xuân, kẻ đã đặt bút xuống viết về địa danh lịch sử, văn hóa của vùng đất họ đã ra đời và lớn lên hay không?. 

Nguyễn Văn Hóa

Wednesday, January 11, 2012

(sẽ viết tiếp về đề tài Nguyễn Đắc Xuân) 

 

Chú thích

(1) Phải chăng quan hệ Việt Nam với Trung Quốc vẫn còn mang tính bá chủ - chư hầu?

Vũ Quang Việt (1) –ghi chú của tác giả!) 

3.3 Quan hệ thời chiến tranh chống Mỹ

“…Trong thời gian sau Hiệp định Genève Ngô Đình Diệm -- được Mỹ yểm trợ vì chính sách ngăn cản sự bành trướng của cộng sản của họ -- từ chối thống nhất và phát động đàn áp những người kháng chiến cũ ở miền Nam, Lê Duẩn chủ trương vũ trang chống lại và đi dần đến chủ trương giải phóng miền Nam dùng cả lực lượng gửi từ miền Bắc. Mao chống lại, kể cả chống lại việc đoàn kết với Liên Xô để lập mặt trận ủng hộ Việt Nam. “Đây là giai đoạn mà cả Liên Xô và Trung Quốc cùng đổ viện trợ cho Việt Nam. Con đường bạo lực phù hợp với cả Lê Duẩn và Mao, nhưng mục đích mỗi người lại khác nhau. Đối với Mao, lợi ích cá nhân (muốn thống soái Trung Quốc và muốn trở thành lãnh đạo lý thuyết của thế giới) và lợi ích dân tộc là chính nhưng lại phủ mầu ý thức hệ, chống xét lại của Liên Xô muốn làm nhà tư tưởng của phong trào cộng sản. Đối với Lê Duẩn, cách mạng là giải phóng miền Nam bằng bạo lực. Theo Có thể nói Lê Duẩn chỉ là một nhà ái quốc, một nhà lãnh đạo chiến tranh tài ba, nắm bắt tình hình nhanh nhạy, một người hành động thực tiễn có đầu óc chủ động, quyết đoán và táo bạo cao. Ông ta là người của chiến tranh chứ không phải là người của xây dựng. Rất có thể ông ta là người hiếu chiến, nghĩ rằng bạo lực có thể giải quyết mọi vấn đề. Đáng lẽ có thể rút khỏi Campuchia và giao lại cho Liên hợp quốc giải quyết khi đánh Pol Pot thì lại chỉ muốn làm kẻ chiến thắng, kéo dài cuộc chiếm đóng cả chục năm, làm hy sinh mạng sống bao nhiêu người Việt Nam, đưa Việt Nam đến bị cô lập và làm nền kinh tế kiệt quệ….” -ngưng trích. 

“…Hóa ra từ đó, đảng với sự lãnh đạo của Nguyễn Văn Linh và sự ủng hộ đắc lực của Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, v.v. đã chủ trương đoàn kết chặt chẽ với Trung Quốc, không phải vì quyền lợi của đất nước mà vì mục đích bảo vệ xã hội chủ nghĩa với vai trò lãnh đạo của Trung Quốc. Với quan điểm đó, Việt Nam chỉ có thể giao thiệp với Trung Quốc trên cơ sở bá chủ - chư hầu. Cũng may là Trung Quốc đã không chấp nhận một liên minh các nước xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đề nghị Trung quốc lãnh đạo. Họ trả lời là hai nước là “đồng chí chứ không đồng minh”.55 Cũng may mắn là sự xuống dốc của kinh tế Việt Nam đã bắt buộc lãnh đạo đổi mới và qua đó thấy lợi ích mở cửa quan hệ với Tây phương…” –ngưng trích. 

Vì vậy không có lý do gì Việt Nam phải chấp nhận phận chư hầu với Trung Quốc dù chỉ mang tính biểu tượng…”  

 

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai23/201123_VuQuangViet.pdf

 

(2) Khổng Tử, Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Văn Nghệ, Hoa Kỳ 1992, chương VI phần Ngoại Giao các trang 186-190.

  

(3) --Nguyễn Đăng Mạnh viết về Hồ Chí Minh, Trần Viết Đại Hưng, đã được Hội Tụ đăng lại hai bài về Vũ Kỳ trong phần: Tác giả & tác phẩm

http://daihung.webs.com/137.html

và:

--Buổi nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Quản Lý Giáo Dục Đào Tạo, Trần Viết Đại Hưng

http://daihung.webs.com/136.html

 

(4Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế (bút ký lịch sử 1978-2003), Nguyễn Đắc Xuân, nhà xuất bản Văn Học, 2003.

 

 

 

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA