đăng ngày: 13.9.2011
|
|
|
Đọc lại bài thơ Côn Lôn của Mao Trạch Đông Nguyễn Văn Hóa
đỉnh núi Côn Lôn (source: Wikipedia)
Về xuất xứ của một bài thơ
Trong mục “Nghĩ vắn trong ngày” trên web Hội Tụ đầu tháng 7/2009, tôi có đề cập đến một bài thơ của Mao Trạch Đông, xuất xứ từ cuốn “Những quy luật chính trị trong sử Việt” của tác giả Vũ Tài Lục. Dù tin tưởng vào khả năng tự học và biên khảo của tác giả, tôi vẫn thấy lấn cấn là tại sao ông Vũ ghi lại bài thơ của Mao mà không thấy đề xuất xứ (ít ra cũng phải cho biết ông lấy bài thơ đó gốc ở đâu, để biết ông dịch lại từ sách chữ Hán hay sách Tây, sách Mỹ?). Vũ Tài Lục đã giới thiệu bài thơ đó như sau: “…Tiến xa hơn nữa: Trung Cộng tìm mọi cách làm giảm uy thế của Nga ngay trong các nước cộng sản, thứ nhất là các nước Á Phi để mong thay thế Nga lãnh đạo hay nói khác đi là Trung Quốc cũng muốn tự mình trở thành một đế quốc nữa. Nếu đọc bài thơ mà Mao Trạch Đông làm trước khi đánh trận Trường Sa thì thấy rõ tham vọng đế quốc hiện lên rõ ràng:
Hỡi dãy núi trùng trùng điệp điệp Cao vòi vọi và trên đỉnh đầy tuyết phủ Ta vung kiếm lên, đứng giữa trời bao la Chặt ngươi ra làm ba khúc Một khúc ta cho Âu Châu Một khúc dành cho Mỹ Ta giữ lại một cho Trung Quốc Thế giới sẽ sống yên bình Và trái đất điều hòa nơi mưa nắng…” (1)
Với sự tin cậy chút xíu đó, đã làm tôi đã hiểu nhầm theo tác giả là bài thơ của Mao xuất phát từ trận đánh Trường Sa năm 1927. Bây giờ có thì giờ, tôi tìm ra nguồn gốc của bài thơ mới biết bài thơ này có tựa đề là Côn Lôn (Kun Lun), Mao sáng tác vào năm 1935, không phải Mao sáng tác trước khi tung quân đánh trận Trường Sa, mà vào lúc gần kết thúc cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Sai một ly, hiểu khác đi một dặm. Thời đại E-books, công việc tìm ra xuất xứ một bài thơ của những nhân vật nổi tiếng thật dễ dàng. Song, phương tiện tìm thấy bài thơ là bằng Anh ngữ (đúng ra là phải đọc từ nguyên văn Hán ngữ), nên lại nảy sinh ra một thứ lấn cấn khác: Bởi, hiểu theo tinh thần của Trần Trọng San (tác giả: Văn Học Trung Quốc đời Chu Tấn) thì, “Chữ Hán đọc theo cách phát âm Việt, có công dụng đặc biệt đối với ngôn ngữ, văn học nước nhà…Văn học Việt Hán…Với thứ chữ ấy, chúng ta vẫn tiếp tục thưởng thức những áng văn chương, tư tưởng mà âm điệu nhịp nhàng đã rung động, nhuần thấm lòng ta từ lâu đời.” (2) [sđd., Lời nói đầu] Mà tôi thì không đọc chữ Hán được (rõ khổ!.) Lại nữa, Vũ Tài Lục đã trích dẫn không trọn vẹn bài thơ, tôi buộc lòng phải tìm cho ra một bản dịch Hán-Anh đáng tin cậy nhất, để thông suốt bài thơ. Sau khi chọn lọc một số bài được các tác giả Âu Mỹ dịch sang tiếng Anh, cuối cùng tôi theo phương pháp chọn lọc thơ dịch của một bà người Tàu có tên là Jian-Ping Fan. Jian-Ping tốt nghiệp ở đại học Bắc Kinh, sang Mỹ du học năm 1996, sau đó lấy tiến sĩ về ngành Kỹ thuật Truyền thông, rồi dạy ngôn ngữ học ở đại học Illinois. Trong một bài viết seminar về ngôn ngữ học, bà đã giới thiệu bài thơ Côn Lôn (Kun Lun) của Mao Trạch Đông qua hai bản dịch Anh ngữ khác nhau: Một, của De Beaugrande và Dressler và hai, của một bà Mỹ gốc Tàu khác –Nancy Lin để so sánh những ưu khuyết điểm của hai bản dịch. (3) Để cho một bài thơ dịch có thể chấp nhận được (nhất là có thể dùng để giảng dạy trong trường học, chẳng hạn) , Jian-Ping nêu ra bảy nguyên tắc : Nguyên tắc thứ nhất, sự ‘quan hệ ngoại giới’ của văn bản--tính kết hợp ngữ pháp giữa và trong các câu cú của văn bản [cohesion]; hai, tính mạch lạc về các ý niệm của văn bản [coherence]; ba + bốn, tính biểu cảm và tính thuyết phục; qua văn bản tác giả nhắm tới một chủ đích nào đó phải có sự truyền đạt (tác động qua lại) giữa tác giả và người đọc và do đó mang tính thuyết phục [intuitionality + acceptability]; năm, mặc dù văn bản có tính thuyết phục hay không, từ ngữ còn phải thích hợp với tình huống–trạng thái của văn cảnh (thí dụ: từ ngữ phải đi đôi với văn cảnh mới làm rõ nghĩa của từ) [situationality]; sáu, mức độ thuyết phục còn tùy thuộc vào văn bản có cung cấp thông tin đầy đủ hay không [informativity]; và bảy, khảo sát liên văn bản qua các công trình dịch thuật khác của người dịch để mức khá tín có thể tin cậy được [intertextuality]. Kết luận, Jian-Ping chọn lựa bản dịch của Nancy Lin mà bà cho là tốt nhất. ( xem phần link của chú thích 3 ) Tôi tạm dịch bản của Nancy Lin như sau:
Côn Lôn
Ngóc đầu dậy từ trong lòng đất, Một điềm linh xuyên suốt bầu trời Ôi, Côn Lôn ngang ngạnh, Ngươi trào tuôn xuân sắc cõi càn khôn Ngươi thổi tung man rợ Bằng ba triệu con rồng hoa tuyết, Lao vào vũ trụ với cơn lạnh thấu xương; Rồi mùa hạ, ngươi tan chảy Tán loạn ngập ngụa những dòng sông Cho con người hóa thành cá và rùa. Là những thành tích và tội ác hàng thiên niên kỷ của nhà ngươi, Ai là kẻ đánh giá và làm quan tòa phán xét?
Này Côn Lôn, giờ ta xin nói một lời : Rằng ngươi không cần cao ngất đến thế, Cũng chẳng cần nhiều tuyết lắm vậy. Nếu như ta nghiêng mình Và, thanh kiếm rút ra, ta chặt ngươi làm ba- Một phần tặng cho Âu Châu, Một phần cho Mỹ Châu, Còn lại Đất phương Đông ta giữ-- Thì Đại Hòa sẽ ngự trị trên trái đất, Để cơn ấm lạnh hài hòa toàn vũ trụ ! -Mao Trạch Đông, Côn Lôn -1935 (nguuyễn văn hóa dịch) Bản dịch Anh ngữ của Nancy Lin : Rearing out of the earth, A portent across the sky Wanton Kunlun, You that have drained your cupful Of this world’s radiant spring, You blow up wild With your three million dragons of alabaster, Plunging the universe in a convulsion of cold; Then you let all melt and thaw in summer. Flooding rivers pell-mell So that men become fish and turtles. Of your deeds or misdeeds these millenniums, Who’s been the appraiser and judge?”
“I should put in a word now, Kunlun: You don’t need that height, Nor so much snow. If only I could lean on the sky And, sword drawn, split you in three-- One part as gift to Europe, One part to the Americas, One for the Eastern Lands to keep-- That Great Peace might reign on earth, A common heat and cold for the globe entire!
Jian-Ping cho rằng đây là bài thơ thuộc loại ‘trữ tình’ (lyric) theo thể Nian Nu Jiao –có người viết là Nien Nu Chiao? (Niệm Nô Kiều), ảnh hưởng thi ca cuối nhà Đường, giữa thời Ngũ Đại. Mao sáng tác bài thơ này lúc đứng ở trên núi Mân Sơn (Minshan) nhìn qua đỉnh cao nhất của dãy Côn Lôn, tức cảnh sinh tình và sáng tác bài thơ. Bài thơ chia làm hai phần: phần đầu, mô tả cảnh trí hùng vĩ đến man dại của dãy núi Côn Lôn. Man dại thôi không đủ, núi Côn Lôn còn tác động và ảnh hưởng đến khí hậu tạo nên một tai họa cho dân Trung Quốc qua những cơn lạnh khủng khiếp vào mùa đông, và tạo lũ lụt dữ dội lúc tuyết bắt đầu tan vào mùa xuân cho đến mùa hè. Vì vậy, Jiang-Ping đã ví von rằng Mao đã so sánh Côn Lôn như một hình ảnh tội ác của đế quốc. Phần hai của bài thơ, diễn tả hành động rút kiếm chặt ngọn núi Côn Lôn làm ba mảnh chính là hành vi trừng phạt của Mao đối với đế quốc. Dĩ nhiên, bà Jian-Ping là một người Tàu, nên bà không bao giờ muốn đế cập đến tham vọng bành trướng của Mao Trạch Đông. Thực chất, tinh thần bài thơ nói đến tham vọng đó rõ rệt hơn là ví von ẩn dụ Côn Lôn là hình ảnh tội ác của đế quốc như Jiang-Ping nêu ra. Ngoài ra, tôi còn tìm thấy một bản dịch Hán-Việt, và Việt dịch của Hoàng Trung Thông và Nam Trân. (Tuy vậy, tôi vẫn đi theo bản dịch tiếng Anh của Nancy Lin.): Niệm nô kiều - Côn Lôn (Người dịch: Hoàng Trung Thông, Nam Trân) Hoành không xuất thế, Mãng Côn Lôn, duyệt tận nhân gian xuân sắc. Phi khởi ngọc long tam bách vạn, Giảo đắc chu thiên hàn triệt. Hạ nhật tiêu dung, Giang Hà hoành dật, Nhân hoặc vi ngư miết. Thiên thu công tội, Thuỳ nhân tằng dữ bình thuyết?
Nhi kim ngã vị Côn Lôn: Bất yếu giá cao, bất yếu giá đa tuyết. An đắc ỷ thiên trừu bảo kiếm, Bả nhữ tài vi tam tiệt? Nhất tiệt di Âu, Nhất tiệt tặng Mỹ, Nhất tiệt hoàn Đông quốc. Thái bình thế giới, Hoàn cầu đồng thử lương nhiệt.
Niệm nô kiều - Núi Côn Lôn Dọc ngang trời đất Ngút Côn Lôn thấy khắp cõi đời xuân sắc Cuộn bay rồng ngọc ba trăm vạn Khuấy cả bầu trời lạnh ngắt Mùa hạ tuyết tan Hai sông tràn ngập Lắm kẻ thành cá tôm Công tội nghìn năm Ai đã cùng ngươi chỉ vạch?
Mà nay ta bảo Côn Lôn: Không cần quá cao, không cần bấy nhiêu tuyết Sao tựa được trời rút bảo kiếm Đem ngươi chặt làm ba khúc? Một gửi Châu Âu Một tặng Châu Mỹ Một trả về Đông quốc Thế giới thái bình Ấm lạnh chung đều quả đất. (4)
Từ bài thơ Côn Lôn, nhìn qua lịch sử, văn học, thần thoại, triết học và chính trị của Trung Quốc
Sau khi bị quân của Tưởng Giới Thạch truy kích, Mao Trạch Đông và Hồng quân phải trốn chạy, thực hiện một cuộc hành trình vạn lý dài 25 ngàn dặm (chừng 12 ngàn cây số.) Khởi hành từ Giang Tây, Hồng quân tiến về phía tây Tây Tạng, rồi ngược lên phía bắc, tới Diên An của tỉnh Thiểm Tây là kết thúc. Thời gian Vạn Lý Trường Chinh kéo dài 370 ngày, bắt đầu từ ngày 16/10/1934 đến 19/10/1935. Quân số Hồng quân ban đầu có hơn 86 ngàn quân, trên đường hành quân gặp nhiều gian khổ vì thiên tai, khí hậu khắc nghiệt, địa hình hiểm trở lại phải chống cự với các sứ quân địa phương, Hồng quân bị thiệt hại còn lại chừng hơn 7 ngàn quân. Theo Wikipedia (5) thì tháng 6/1935, Hồng quân vượt Đại Tuyết Sơn có độ cao (so với mặt biển) trên 16 ngàn bộ. Vào giữa tháng 8/1935, Hồng quân vượt Cánh Đồng Cỏ hoang gần Tây Tạng, ở đây họ phải chịu hy sinh rất nhiều nhân mạng. Đầu tháng 9/1935, họ thoát khỏi đầm lầy gần sa mạc Gobi. Đến cuối tháng 10 mới tới được Diên An, coi như kết thúc cuộc vạn lý. So sánh với các tài liệu khác, khi Hồng quân vượt qua dãy núi Đại Tuyết Sơn chính là dãy núi Côn Lôn, vào tháng 6 năm 1935 (không thấy đề ngày). Đúng như ghi chú của Jian-Ping Fan, tại đây, Mao Trạch Đông làm bài thơ Côn Lôn. Ở câu dịch “You blow up wild; With your three million dragons of alabaster…” từ nguyên văn Hán ngữ, Mao có viết một chú thích : “Một thi sĩ cổ đại viết, ‘ở đây có ba triệu con rồng bạch ngọc đang đánh nhau, vảy rồng tan tác bay khắp bầu trời. Ông ta diễn tả cảnh tuyết bay, nhưng ở đây tôi mượn nó để mô tả những ngọn núi phủ tuyết. Vào mùa hè, khi người ta leo núi Mân Sơn (Minshan), sẽ trông thấy những rặng núi từ xa phủ một màu trắng xóa chói lòa như đang nhảy múa. Theo truyền khẩu của dân gian, những ngọn núi này đều bốc lửa, cho đến lúc Tôn Ngộ Không ‘đằng vân’ ngang qua (nói ‘đằng vân’ là tôi thêm thắt, vì lẽ theo truyện Tôn Hành giả biết thuật đằng vân), dùng chiếc quạt bằng lá cọ-dừa dập tắt ngọn lửa, lý do vì sao giờ đây các ngọn núi bị đóng băng, chuyển qua màu trắng.” (6) Theo tôi, đây là bài thơ làm theo thể "Niệm Nô Kiều" (Nien Nu Jiao) giống như thể “từ”, phát sinh từ cuối đời Đường, thịnh phát giữa thời Ngũ Đại (thế kỷ thứ 10, bắt đầu từ đời nhà Tống). Tác giả Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc), cho rằng sự hưng thịnh của thể “từ” trong thời đại này có ba nguyên do: -(thể) ”luật thì câu thúc quá, người ta thích ‘từ’ hơn vì nó tự do hơn, có câu dài câu ngắn, chỉ cần hợp âm luật thôi, dễ biểu tình, đạt ý. Vào thời đó, nhiều ông vua còn khuyến khích “từ nhân” (người làm ‘từ’) soạn ra nhiều khúc mới. ‘Từ’ để ca, là những bài hát nên phổ biến rộng rãi trong dân gian.” (7) Theo Trần Trọng San, “Sở từ” (thi ca, từ phú của người nước Sở thời Chu Tần –một dân tộc ở dọc sông Trường giang, miền Nam Trung Hoa.) Về loại thơ ‘từ phú’ thời Chu Tần có hai nhà thơ nổi tiếng: Khuất Nguyên và Tống Ngọc. Khuất Nguyên trong tác phẩm “Cửu chương” (Chín thiên) có bài thơ “Thiệp giang” (Đi qua sông) có nói đến núi Côn Lôn/hoặc Luân :
Ta từ nhỏ đã thích thứ y phục kỳ dị này, Đến lúc tuổi già, vẫn không suy giảm. Đeo thanh kiếm dài lê thê, Đội mũ thiết vân cao chót vót. Mang ngọc “minh nguyệt”, đeo hạt “bảo lộ”. Đời vẫn đục không ai biết ta, Ta cứ ruổi cao, không ngoảnh lại. Cỡi con rồng xanh, kèm con rắn trắng. Ta cùng ông Trùng-hoa, dạo chơi miền Dao-phố, Trèo lên núi Côn-luân ăn ngọc-anh. Ta sánh tuổi thọ cùng trời đất, Ngang vẻ sáng với mặt trời, mặt trăng. ( Trần Trọng San dịch, chú thích 2, trang 69 )
Về mặt tiểu thuyết thời Tiên Tần, còn có hai tác phẩm đề cập về thần thoại của Tây-vương-mẫu (Xi Wangmu) , liên quan tới chuyện thần thoại của núi Côn Lôn : Tác phẩm đầu có tên là “Sơn Hải Kinh.” Chuyện kể: Tây-vương-mẫu là một nữ thần có hình dáng như người, tóc cỏ bồng, đuôi báo, răng cọp, ở lỗ tại núi Ngọc sơn, có ba con chim xanh đi kiếm thức ăn cho bà tại phía bắc miền núi Côn-luân. ( Trần Trọng San sđd., trang 190 ) Tập Sơn Hải Kinh [the Shan Hai Jing] được giới nghiên cứu cho chỉ là chuyện thần thoại, nhưng với tác phẩm thứ hai : “Mục Thiên-tử truyện” –dù là dị sử, nhưng có liên quan tới vị vua Chu Mục. Chuyện kể: Chu Mục vương có tính thích buông thả, chu du thiên hạ. Năm thứ 17 đời Chu Mục vương, vua đi về phương tây đến miền Côn-luân, gặp Tây-vương-mẫu. Ngày Ất Sửu, vua mời rượu Tây-vương-mẫu ở trên núi Dao-trì. Tây-vương-mẫu đáp lễ thiên tử làm một bài “dao” (thể thơ thời đó) :
Mây trắng trên trời, Núi đồi nhô cao, Đường xá xa xôi, Núi sông cách trở. Mong ngài không thác, Còn trở lại đây. Vua đáp lời : Ta về miền đông, Trị yên Chư Hạ. Muôn dân điều hòa, Sẽ đến thăm bà. Ba năm sau nữa, Sẽ lại xứ này. ( Trần Trọng San dịch, chú thích 2, các trang 191, 192 )
Vua bèn ruổi ngựa lên núi Yên-sơn ( có người viết là Mân-sơn ‘Minshan’ ), ghi khắc vào đá núi, trồng cây hòe, đề là : “Núi của Tây-vương-mẫu”. Một nguồn khác thì nói Tây Vương-mẫu là biểu tượng đại nữ thần phù thủy cổ xưa nhất của Trung Quốc. Bà ta sống ở vùng núi Côn Lôn miền viễn tây, giữa lằn ranh trời và đất. Trong vườn bao phủ bởi những tầng mây, bà trồng một cây đào khổng lồ, cứ mỗi ba ngàn năm mới có một trái đào chín. Cây đào khổng lồ này được coi là trục của vũ trụ, nối liền trời và đất –một cái thang để người ta du hành vào thế giới siêu nhiên. Tây Vương-mẫu còn kiểm soát các lực vũ trụ : thời gian, không gian và các giãi ngân hà. Bà có quyền phép sáng tạo và hủy diệt, ban phép cho sự sống và cái chết, giải trừ bệnh tật, quyết định tuổi thọ của mọi sinh vật. Vì vậy, dãy núi Côn Lôn còn được người Tàu gọi là Thiên Sơn (Tian Shan) –núi của trời, một ngọn núi kỳ diệu, nơi đầu nguồn của dòng sông Hoàng Hà. Ở đó không có thời gian, không có khổ đau và chết chóc; chỉ có nghệ thuật và lạc thú: thơ ca nhạc vui tươi, nhảy múa, và yến tiệc linh đình quanh năm suốt tháng. (8)
Thật ra, bài thơ Côn Lôn chỉ là bài thơ bình thường so với một số bài thơ hay khác của Mao Trạch Đông, nhưng nó lại bộc lộ hai khía cạnh tinh thần khác nhau của ông. Khía cạnh thứ nhất là tinh thần “cải tạo thiên nhiên” của các triết gia thời cổ. Người đại biểu cho tinh thần này là Tuân Tử. Tuân Tử triệt để chủ trương “nhân vi”, không thuận theo thiên nhiên mà phải ‘chế ngự thiên nhiên’. Trong lúc Trang Tử coi trọng ‘trời’ mà mạt sát ‘người’, thì Tuân Tử lại ‘bài xích trời’ và đề cao người. Ông gọi Trang Tử là ‘kẻ mê muội.’ (Theo trời mà ngợi khen trời, làm sao bằng tài chế mệnh trời mà dùng?... Bỏ người mà chỉ nghĩ đến trời thì sai mất cái tình thật của vạn vật. -Tuân Tử quan niệm.) (9) Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng, tư tưởng của Trang Tử và Tuân Tử tương phản nhau (quan niệm đối lập giữa trời và người) như đã nói trên, nhưng cũng có chỗ giống nhau, đó là cả hai đều tin có ‘trời’. Trong khi Khổng, Mạnh thì cho trời và người là một, nhất thể. Tuân Tử nói : “Đạo giả phi thiên chi đạo, phi địa chi đạo, nhân chi sở dĩ đạo dã.” (nghĩa là: “Gọi là đạo, không phải là cái đạo của trời, không phải là cái đạo của đất, mà là cái đạo do người đặt ra.”) Trong khi các triết gia từ thời Hán đều có thái độ giống Khổng, Mạnh, tức là không theo Lão, Trang cũng không theo Tuân Tử (chế ngự thiên nhiên.) Cho đến đời Tống, các đạo học gia theo chủ trương “theo trời mà hành động”, tức là có một sự cân bằng giữa tinh thần của Khổng, Mạnh – Lão, Trang và Tuân Tử. Người đại biểu cho tinh thần này là Trương Tái. Ông nói : “Cái trời làm ra được là cái tính, cái người mưu toan được là cái tài. Bậc đại nhân (tức hạng người hiền tài) tận phát cái tính của mình, không lấy cái việc làm của trời làm cái tài của mình, mà lấy sự mưu tính của người làm cái tài của mình.” (chú thích 9, trang 198). Với tinh thần này, thì sự “cân bằng” hóa ra lại nghiêng nặng về phía Tuân Tử, chỉ khác nhau về cách nói, nhưng tinh thần thì không khác!. Học giả Nguyễn Hiến Lê là người rất nể phục Will Durant. Vì sự nể phục này mà tôi tin ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian để nghiên cứu và đọc trọn bộ sử “Lịch sử văn minh thế giới” của Will Durant dày gần mấy chục ngàn trang. Cũng như Durant, Nguyễn Hiến Lê cho rằng dân tộc Trung Hoa có “cái bản năng tự tạo một nhân sinh quan hòa hợp với thiên nhiên. Họ như cảm thấy rằng hạnh phúc con người ở nếp sống giản dị mà có trật tự, một trật tự gần với luật thiên nhiên. Lấy gia đình làm căn bản, nhưng vẫn đặt xã hội lên trên gia đình; tuy tôn trọng chính quyền mà vẫn tự cho mình cái quyền lật đổ chính quyền nếu nó thối nát.” ( nvh nhấn mạnh –chú thích 9, trang 709 ) Để hỗ trợ cho lập luận của mình, Nguyễn Hiến Lê còn nêu ra nhận xét của Roger Fischer (một học giả Pháp) : “Tâm hồn Trung Hoa là tâm hồn lạc quan, dễ dãi, quả dục, thực tế, khoáng đạt và kiên nhẫn, yêu hòa bình (về tâm hồn “yêu hòa bình” thì cũng đã có nhiều học giả Âu Tây ca tụng –nvh.) Tâm hồn đó tạo nên một nền ‘văn minh quân bình.’” Ông đặt ra một câu hỏi phổ quát để mọi người cùng nhìn nhận một giá trị thực tế : “Có một xã hội nào khác bảo tồn được văn minh của mình trong mấy ngàn năm sau như họ không? Về mọi phương diện, Trung Hoa quả là đế quốc của cái trung, của cái trung dung. “ (chú thích 9, trang 711) Soi rọi tư tưởng trên vào tinh thần của Mao Trạch Đông qua bài thơ, khi ông đứng trước cảnh núi non thiên nhiên hùng vĩ đến man dại của dãy Côn Lôn, ông rung động, nhưng không phải là thứ rung động ‘lãng mạn’ của thi sĩ, trái lại đó là thứ rung động của kẻ có “uy dũng.” Núi non càng cao, càng hiểm trở, ông không run sợ, lòng không hãi hùng, lại càng muốn chế ngự nó. Phải trừng trị nó: phân thây, chặt nó ra. Nhưng, ông không chỉ chặt nó bằng một nhát kiếm mà phải chặt nó làm ba phần thì đó là vấn đề của một đầu óc chiến lược. Ba phần như một biểu tượng để phân chia lại vùng quyền lực của thế giới; và phân chia không phải để tranh hơn thua, mà phân chia để cân bằng. Cân bằng sự chênh lệch của thế giới. Nếu ‘chênh lệch’ tạo ra sự ganh tỵ và đua tranh, là nguyên nhân đưa tới mâu thuẫn và chiến tranh, thì ‘cân bằng’ là yếu tính của hòa bình.
Côn Lôn và tham vọng phân chia quyền lực thế giới của Mao Trạch Đông
Từ trước tới nay (cứ phỏng một thời gian là ba thập niên đi), tôi chưa đọc được một tài liệu, sách báo nào khi phê bình chủ nghĩa cọng sản của Mao Trạch Đông/ hay chế độ cọng sản của Mao Trạch Đông mà các nhà phê bình chính trị cho là ông Mao có tham vọng nhuộm đỏ thế giới, biến thế giới thành một xã hội đại đồng, một thế giới hoàn toàn cọng sản (cũng có thể tôi không biết là vì kiến thức của tôi còn hạn chế.) Chỉ được biết và hiểu, Mao Trạch Đông chỉ dùng lý thuyết cọng sản như một phương tiện để đưa dân tộc Trung Hoa ‘qua sông’. Qua sông trong cơn bão tố. Một chiếc tàu kiểu-Nôe Đông phương. Và, qua sông để cho dân Tàu ‘thoát cơn bỉ cực tới hồi thái lai’, chứ không phải qua sông đến bờ bên kia để rồi đi ‘cải đạo’ người khác, bắt kẻ khác phải đội vào đầu chiếc nón cọng sản!. Chủ nghĩa cọng sản mà nhất nhất cái gì cũng của Tàu : giai cấp nông dân (thay vì giai cấp công nhân) là thành phần chủ chốt của cách mạng vì Tàu là một xã hội nông nghiệp, Hồng quân đội nón kiểu Tàu, sách Đỏ (Red book) tác giả là Mao Trạch Đông, nhạc hiệu của đảng Cọng sản Tàu là ‘Đông Phương hồng’. Cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao không gì khác hơn là để xác định và củng cố lại giá trị văn hóa Tàu!?. Nếu có nói tới thế giới, thì Mao Trạch Đông chỉ thu hẹp lại trong phạm trù “thế giới phương Đông.” Mà khi họ nói tới ‘thế giới phương Đông’ không phải là nói tới sức mạnh vật chất, quyền lực thống trị, mà nói tới cái ‘nôi văn hóa’, cái trung tâm văn hóa ảnh hưởng tới các lân bang xung quanh. ‘Lân bang’ thôi chứ không đi quá xa, vì nó đang còn nằm trong phạm vi tương lân và ảnh hưởng địa lý quốc gia. Cũng như, nói tới văn hóa Âu Châu thì phải nói tới cái ‘nôi văn hóa’ Hy-La -văn hóa Lưỡng-hà. Nền văn hóa thứ ba là văn hóa Bắc Mỹ: tạm gọi đây là nền văn hóa Âu châu ly khai, viễn du tìm đất mới, đẻ ra một bào thai văn hóa mới. Dù chưa tới ba trăm năm nhưng nó là nền văn hóa mạnh, có khả năng bành trướng và gây ảnh hưởng; đó là : –văn hóa tiêu thụ, văn hóa hưởng lạc, văn hóa Coca-Cola,… và nên kể thêm: ’văn hóa f--k’. ‘Văn hóa f--k’ là một yếu tính của đời sống, có ai phủ nhận điều này?. Mao Trạch Đông là con người thấu đáo về văn hóa, nên ông hiểu văn minh vật chất, sức mạnh kinh tế có thể suy thoái, sụp đổ, nhưng sức mạnh văn hóa nếu có thể trường tồn trong vài ngàn năm, thì sức mạnh đó không thể bị hủy diệt. Không phải là vì lạc quan tếu, hay tinh thần sô-vanh mà ông tự cho nền văn hóa của mình sẽ tồn tại và đứng ngang hàng với hai nền văn hóa là Âu Châu và Bắc Mỹ. Năm 1935 –tính ra còn 14 năm nữa đảng cọng sản Trung Quốc mới thành lập được chính quyền thống nhất lãnh thổ, và trong cơn gian nan, kề bên sự chết, mà Mao Trạch Đông đã có tư tưởng như vậy, thì rõ ông là một kẻ tiên tri đã nhìn được cái mà dân tộc ông có thể làm được và có thể đạt đến. Không phải ngày hôm nay đã chứng thực được cái nhìn xa từ ngày đó hay sao! Thử đặt một câu hỏi: liệu Mao Trạch Đông muốn Tàu làm bá chủ ‘phương Đông’ là tham vọng quá đáng không? Tôi nghĩ, nếu đó là sự chiếm đóng quân sự, áp đặt một chế độ chính trị thân Tàu thì khó mấy ai chấp nhận; nhưng nếu nói ‘bá chủ’ trên bình diện văn hóa thôi, thì tại sao không? Nếu các nhà chiến lược quốc tế gọi các nước Turkey, Iraq, Syria, Lebanon, Israel, Iran…là các nước Trung Đông, đồng thời gọi các nước Kazakhtan, Ubekistan, Turmenistan, Afghanistan, Pakistan…là các nước Cận Đông, chứ chẳng lẽ gọi họ là ‘các nước Viễn Âu’? Cho nên, nếu chúng ta chấp nhận với danh từ ‘phương Đông’ có nghĩa là đồng ý với một vùng kéo dài từ biên giới phía tây của các nước Cận Đông ra tới Thái Bình Dương theo đường kinh tuyến 60˚Đông-kéo dài tới 135˚Đ. (-tối thiểu); đường vĩ tuyến phải từ 53˚ Bắc (ranh giới bắc từ các quốc gia Manchuria, Mongolia, Kazaskistan –vốn là các quốc gia trái độn) kéo xuống phía nam của đường xích đạo. Chỉ cần quan sát một chút trên quả địa cầu nhỏ, ta cũng nhận ra: dãy núi Côn Lôn nằm ở vị trí gần đúng là trung tâm điểm của ‘phương Đông.’ Tham vọng ‘phương Đông’ của Mao trạch Đông là như thế đó!. Khi đề cập tới tranh chấp biển Đông, James Holmes cho rằng, khi Mao Trạch Đông còn làm chủ tịch nước Trung Hoa, ông ít bận tâm tới biển, chỉ lo phòng thủ trong đất liền thôi. (10) Nhưng làm sao Mao còn lòng dạ nào nghĩ tới biển, khi đất còn đứng chưa vững? Khi đất đã vững, kinh tế lớn mạnh, xuất nhập hàng hóa nguyên liệu vật liệu ồ ạt, lúc đó mới nhìn ra biển chứ! Mà về mặt biển, có nhà địa lý nào trên thế giới này lại không biết, bờ biển Trung Quốc kéo dài từ vịnh Chinli phía bắc xuống tới vòng quanh đảo Hải Nam của vịnh Bắc Việt! Và từ xưa cho tới khi có vấn đề tranh chấp biển Đông mấy năm trở lại đây, thì đường hàng hải quốc tế ngược xuôi đều phải đi qua “Biển Nam Hải” (South China Sea.) Nếu có quốc gia nào phủ nhận tên gọi này thì còn phải để hạ hồi phân giải và chờ… Thời đại này là thời đại nguyên tử, chỉ nói miệng thôi thì không ai sợ. Nói và làm phải đi đôi. Có cả một kho thật nhiều vũ khí nguyên tử mà phải dấu dưới hầm sâu, thì để làm gì?. Điều quan trọng là khả năng cơ động để mang những thứ vũ khí đó đi đây đi đó trên đất liền, chạy khơi khơi ngoài biển xanh, lúc đó mới thành vấn đề. Điều quan trọng thứ hai là khả năng hỏa tiễn bay xa tới đâu và độ chính xác cỡ nào. Tất cả những yếu tố này, Trung Quốc đã đạt được và đạt một cách khá toàn hảo. Thế giới của các siêu cường bắt đầu lo. Đứng đầu là Mỹ. Tổng thống Bush khi còn nhiệm chức nói: Tôi mong 'anh khổng lồ' Á châu sẽ là một kẻ thân thiện. Thì thân thiện!. Tôi còn nhớ lúc coi thời sự truyền hình mấy năm trước, lúc chủ tịch Hồ Cẩm Đào tạt qua bang Washington thăm và trong lúc đọc diễn văn chào mừng (do tỷ phú Bill Gates mời), ông Đào ăn nói nhỏ nhẹ tưởng chừng như đang ‘mếu máo’ : Nước Tàu chúng tôi còn nghèo lắm, còn rất nhiều việc phải cố gắng vươn tới, thì dưới hàng cử tọa ông Bill Gates ngồi hàng đầu với bốn mắt cú vọ (đeo kính cận thị nặng) nhìn lên và cười tủm tỉm. Trong khi đó, có nhiều người khoa bảng bắt đầu lo, như John Mearsheimer (giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Chicago) đặt câu hỏi, “Liệu Trung Quốc sẽ đi lên trong hòa bình?” và ông trả lời: Không. (11) Ông khuyên chính quyền Mỹ dù chỉ bành trướng khu vực không bành trướng toàn cầu đi nữa thì điều tốt đẹp nhất là nên nghĩ tới việc trở về ngự trị với ‘cái sân sau’ của chính mình, cứ để cho Trung Quốc ngự trị Á châu giống như cách mà Mỹ ngự trị ở Tây bán cầu. (Có lẽ là lý thuyết Monroe được phục hồi chăng?) Dù vậy, còn lâu mới tìm ra tìm ra một chính khách nào trên xứ Mỹ này gật đầu với ý kiến của J. Mearsheimer. Để thuyết phục, J. Mearsheimer đưa ra hình ảnh Đài Loan như một con cờ quan trọng (nhưng đầy rủi ro) trong sự tranh chấp an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc, có khả năng xảy ra một thảm kịch. Tờ Đài Bắc Thời Báo (the Tapei Times) ngày 22/2/2009 đưa tin: Đô đốc Mỹ Timothy Keating sau chuyến thăm Thái Lan, Hồng-kông, Hàn quốc, ông tiết lộ một tướng hải quân của Trung Quốc đưa đề nghị chia đôi Thái Bình Dương: Mỹ phụ trách từ bờ biến phía tây của mình đến Hawaii, Trung Quốc lo “giữ gìn an hòa bình từ bờ biến phía đông của Tàu kéo dài tới Hawaii”. Đô đốc Keating trả lời “Không”. Không là cái chắc, lầy tư cách và quyền hạn nào mà Keating “Okay”? Tưởng câu chuyện ‘vui’ trên sẽ đi vào quên lãng, nhưng ngày 29/7/2011 trên tờ Tài chánh Thời báo, Gideon Rachman khơi lại câu chuyện qua “Một thử thách về ý lực” (12), tướng Tàu nói với Keating: “Các ông giữ phần phía đông Thái Bình dương, từ Hawaii đến đất Mỹ. Chúng tôi phần phía tây Thái Bình dương, từ Hawaii đến Trung Hoa.” -Một thứ “diễu bệnh hoạn” (weak joke), Gideon Rachman chê ông tướng Tàu, nhưng lại đặt câu hỏi: liệu trong 50 năm tới, với những vân đề chính trị quốc tế nhạy cảm và hệ trọng nhất rồi sẽ ra sao –Mỹ có còn là cường lực tiếp tục ngự trị ở Thái Bình dương và đông Á, hay sẽ bị Trung Hoa hất cẳng? Vai trò của Ấn Độ -vốn là quốc gia được các nhà chiến lược coi là siêu cường thứ ba trong thế kỷ 21, sẽ ‘chơi cờ’ ra sao? Gideon đưa ra hình ảnh của ba nhà chiến lược có đầu óc diều hâu tiêu biểu nhất –Aaron Friedberg (Mỹ), Yan Xuetong (Tàu) và Brahma Chellany (Ấn), thì cả ba không ai có lạc quan về viễn cảnh chính trị tranh chấp vùng biển Đông, và cả ba đều khuyến cáo chính quyền mỗi nước nên cứng rắn để bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình. Friedberg còn bi quan hơn, ông nói “Chúng ta đang ở trên đường thua cuộc đua tranh địa lý chính trị với Trung Hoa.” ( We are on track to lose our gepolitical contest with China. ) Đặc biệt, Giedon còn so sánh tính nổi trội về vũ khí và phương tiện quân sự giữa Tàu và Mỹ, nếu xảy ra xung đột -giữa hàng không mẫu hạm và tàu ngầm; đó là chưa kể tới những vũ khí điện tử không gian tinh vi khác. Nhưng, tham vọng bá chủ biển Đông của Trung Quốc xem chừng chỉ thu gọn trong chừng 8 ô vuông đường kinh-vĩ-tuyến thôi. Liệu 100 tiềm thủy đỉnh nguyên tử và quy ước của Tàu có đủ để chơi chừng 2 hàng không mẫu hạm và các lực lượng hải quân khác của Mỹ? ( 1 ô vuông rộng 15˚ kinh tuyến x 15˚vĩ tuyến, 1˚kinh tuyến x 1˚vĩ tuyến=3,600 square nm (nm=nautical miles: chiều dài đường biển. Nếu Tàu có 100 tiềm thủy đỉnh, thì hơn 20 chiếc sẽ phụ trách 1 ô vuông.) Đó chỉ là sự bày vẽ cho vui thôi, đố ai biết được các nhà chiến lược quân sự của hai bên sẽ xử trí như thế nào khi biến cố xảy ra? Điều đáng lưu ý là Gideon nhắc nhở tới bài tiểu luận của Yan Xuetong phản ảnh tư tưởng Trung Hoa thời cổ đại mà cường quốc Trung Hoa hiện đại đang noi theo. Yan Xuetong cho rằng mối quan hệ giữa các quốc gia là, và phải là, mang tính thứ bậc cố hữu. Ông tin nước Mỹ tán trợ lý thuyết bình đẳng hợp pháp giữa các quốc gia chủ yếu là đạo đức giả, quá ra rời thực tế của sức mạnh –một quan niệm đã mọc rễ trong đầu óc người Trung Hoa, khi họ tự cho mình là “Vương quốc Trung tâm” (Middle Kingdom.) Vậy ra, văn hóa vẫn là vấn đề cốt yếu. Mao Trạch Đông cũng nghĩ tương tự khi ông muốn chia thế giới ra làm ba phần! Nhìn tới viễn cảnh đó, không có người Việt Nam nào muốn cả. Thậm chí có người sẽ phẫn nộ. Việt Nam luôn luôn chống Tàu, vì Tàu là kẻ từng đô hộ vùng đất Giao Chỉ. “Chống Tàu” có vẻ như là một định luật lịch sử đối với người Việt. Nhưng làm sao để “chống” theo một định luật lịch sử?. Hẳn là cái chống này cũng phải mang một tính định luật lịch sử đối lập khác: thí dụ như, “Văn học Việt Nam: đối kháng Trung Hoa” (13) thì cũng phải có định chế chính trị Việt Nam đối kháng Trung Hoa, mới có thể chống được chứ!. Ngày trước, một nửa nước Việt ở miền Nam (kể cả trẻ con), ai cũng biết và tụng thường xuyên “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu”, nhưng chẳng lẽ các vị lãnh đạo ở miền Bắc cọng sản lúc ấy không biết điều đó? Họ phải biết hơn trẻ con miền Nam nhiều nữa là khác, phải không!? Biết thế mà họ vẫn đi theo, phục tùng đồng chí vĩ đại Mao Trạch Đông để có vũ khí, và đầy bao tử để đánh bại người Việt miền Nam tới người lính Bắc Việt cuối cùng (hay người du kích miền Nam cuối cùng?) Và kết quả, Bắc Việt chiến thắng, nhưng cho đến một thời gian dài sau 1975, Bộ Chính trị và đảng Cọng sản Việt Nam đã ‘thống nhất’ lãnh thổ mà vẫn còn rất cần tới sự trợ giúp của Trung Quốc. Vào tháng 9/1975, ba tuần lễ trước khi Lê Duẫn đi Bắc Kinh, đã cho một ủy viên Bộ Chính trị khác là Lê Thanh Nghị lên đường cầu viện. Giới chính trị cọng sản ở Bắc Kinh thường gọi ông Nghị là một ‘tên ăn mày’ ( ‘the Beggar’ ) (chú thích 14, trang 27), và vào thời gian này Bắc Kinh không còn vui lòng để trợ giúp Việt Nam nữa, biểu hiện bằng một trả lời khéo của Chu Ân Lai: “Trong suốt thời kỳ chiến tranh, khi các ông có nhu cần khẩn thiết, chúng tôi đã gom góp quá nhiều từ quân đội của chúng tôi để viện trợ cho các ông. Chúng tôi nổ lực bằng mọi cách giúp đỡ cho các ông. Tổng cọng sự trợ giúp của chúng tôi cho các ông bằng tất cả các quốc gia khác mà chúng tôi viện trợ cọng lại. Các ông cũng phải để cho chúng tôi nghỉ ngơi để lấy lại sức đã chứ.” ( chú thích 14, Brother Enemy…, Nayan Chanda, trang 27. ) Kể từ thời điểm đó lui về sau, Lê Duẫn cực kỳ giận dữ, tức bực với Tàu. Hầu như những ông cán bộ cọng sản cao cấp, ông nào cũng muốn làm ‘người hùng Quang Trung’, dù họ hiểu về lịch sử của anh em Nguyễn Huệ rất tơ lơ mơ. Tôi từng có thắc mắc cắc cớ là tại làm sao một ông Tổng bí thư gốc Triệu Phong-Quảng Trị, với giọng nói chớt chã (hình như có hồi ký của cán bộ cọng sản ly khai nào đó còn nói ông có tật cà lăm?) lại có thể làm cho dân Bắc kỳ -vốn ương ngạnh và kiêu căng, run sợ? Nhà giáo từ gốc bắc (xã hội chủ nghĩa) ông Trần Nhu giải thích một cách đầy thuyết phục : đàng sau Lê Duẫn có “ông vua không ngai” một hung thần rất kinh khủng Lê Đức Thọ, ngầm hỗ trợ. Tìm đọc các tài liệu lịch sử về quan hệ chính trị giữa Liên Bang Sô Viết với các nước cọng sản đàn em Đông Âu, Cu Ba, hay giữa Trung Quốc với các quốc gia cọng sản như Bắc Hàn, Romania, Albania, tôi chưa thấy có tài liệu nào nói Liên Sô hay Trung Quốc gọi một ủy viên chính trị nước đàn em của mình là “kẻ ăn mày” cả. Quan hệ chính trị và ý thức hệ của hai nước Trung Quốc-Việt Nam quả là một quan hệ hết sức đặc biệt. Trong quá khứ, người cọng sản miền Bắc đã đánh mất (hoặc phá cho thối) nhiều cơ hội tốt đẹp cho dân tộc. Giả như lúc này, chính quyền Việt Nam đảo ngược trạng huống: thay vì ngoan ngoãn với Bắc Kinh, thì lợi dụng tinh thần của dân để tạo một khí thế yêu nước mới –cùng đồng lòng với những người biểu tình ở miền Bắc từng xảy ra mấy tháng qua, cũng không còn được nữa. Và giả sử có làm được cũng khó vận dụng được tinh thần ‘thống nhất’ toàn dân chống Tàu. Đây mới thật sự là vấn đề chính trị nội bộ của Việt Nam ngày nay. Quả là miếng thịt miền Nam rất khó nuốt! Không hiểu mấy nhà viết sử người Việt có ai quan tâm tới sự kiện lịch sử quá khứ, khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) thành hình, thì đã có sự đồng tình và dẫn dắt của Mao và đảng Cọng sản Trung Quốc từ trước, hay nói cách khác, MTGPMN là một “khế ước chuyển nhượng” (Grant Deed) để miền Bắc nhận viện trợ vũ khí và nhu yếu phẩm tối đa của Tàu? Có phải Lê Duẫn-Lê Đức Thọ đã vi phạm trầm trọng (hay nói cách khác –phản bội) khế ước đó? Năm 1975, trong lúc chưa chiếm được Sài Gòn, mà Hà Nội đã nhanh nhẩu ‘đoản’ –cho tàu chiến ra “giải phóng” các đảo Trường Sa trước, và lên tiếng nhắc nhở Tàu quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam (hẳn là Hà Nội phải tiếu lâm lắm mới nghĩ năm 1974, Trung Cọng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cọng Hòa là để giữ dùm cho đảng Cọng sản anh em Việt Nam!?). Qua ngày 5/5/1975, đài phát thanh Hà Nội tuyên bố đã “giải phóng” hoàn toàn 6 hòn đảo của Trường Sa. Hai ngày sau nữa, tờ Sài Gòn Giải Phóng cho đăng bản đồ in màu rất đẹp (kỹ thuật in offset của Sài Gòn mà!) cho bà con nhìn rõ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (bị Trung Quốc chiếm) là của Việt Nam. (chú thích 14, Brother Enemy, trang 11, 19 ). Nayan Chanda bình luận thêm : “Điều khôi hài nhất của lịch sử, không phải chỉ Hoa Kỳ thua trận, mà Trung Quốc cũng thua luôn”! Năm 1978, người Hoa ở hai miền Nam–Bắc bị xua đuổi ra đi thì nay (đầu thập niên của thế kỷ 21), người Hoa cuốn gói trở về với ngoại tệ và quý kim rủng rĩnh hơn, thì ai làm gì nhau nào? Hình ảnh một ông thủ tướng có gốc từ du kích và dân ‘miệt vườn’ vẫn có thể tạo thế quyền lực đầy mình, thì đã sao? Dĩ nhiên là không có một người Việt nào muốn (hay chấp nhận) Việt Nam sẽ trở thành một chư hầu của Trung Quốc. Nhưng, điều kiện “muốn hay không muốn” không còn nằm trong tay của đảng Cọng sản VN nữa. Đảng Cọng sản Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ tư thế để tham dự vào cuộc chơi cờ (dù chỉ được tham dự để ngồi nhìn). Việt Nam giống như một miếng đá văng ra từ mảnh vụn của dãy núi Côn Lôn, và sự tồn tại của nó tùy thuộc vào cơn hậu-tsunami của Thái Bình dương, không biết lúc nào xảy ra. Nguyễn Văn Hóa Monday, September 12, 2011
Chú thích: (1) Vũ Tài Lục,
Những Quy Luật Chính Trị Trong Sử Việt, nxb. Việt Chiến Sài Gòn,
in lần thứ nhất 4.1.1974, trang 269-70 ). Mời đọc lại bài “Nghĩ
vắn trong ngày: 01/7/2009” web Hội Tụ –Nguyễn Văn Hóa ở cuối
phần chú thích (*) Bản dịch Anh ngữ của Barnstone :
Kunlun, Tài liệu đọc thêm về thơ của Mao Trạch Đông: b. Wikipedia,
Poetry of Mao Zedong: c. Marxists
Internet Archive: Mao Zedong’ s poems: d. Mao Zedong's
Poems of Shi and Ci: e. Wikipedia
Việt, Thơ của Mao Trạch Đông: (4) Bản dịch
“Niệm nô kiều - Côn Lôn” 毛澤東 của Hoàng Trung Thông, Nam Trân: (5) Wikipedia,
Côn Lôn núi: Tài liệu về cuộc Văn Lý Trường Chinh b. Bùi Tín –
Những điều chưa biết về Mao Trạch Đông - “Mao: The Untold
Story”, Phỏng dịch và tóm tắt, Phần III: Mao trong cuộc Vạn lý
Trường Chinh: c. Lý Chí
Thỏa, Mao Trạch Đông, Cuộc Đời Chính Trị Và Tình Dục, Trần Trung
Ðạo trích lược dịch: (6) Phần dịch chú thích của Wikipedia tiếng Việt không chính xác (có khi họ nhầm lẫn danh từ; có lẽ những người làm trang Wikipedia này xuất thân từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa!?). Thí dụ: Sun Hsing-che passed by, họ dịch : Tôn Ngộ Không thông qua; và But he borrowed a palm-leaf fan and quenched the flame and that is why the mountains froze and turned white, họ dịch : Tuy nhiên, ông mượn một fan hâm mộ lá cọ và dập tắt ngọn lửa và đó là lý do tại sao những ngọn núi bị đóng băng và chuyển sang màu trắng. Chú thích Anh
ngữ (Mao’s note:) (7) Nguyễn Hiến
Lê, Sử Trung Quốc, nxb. Văn Nghệ, Hoa Kỳ, các trang 306-97 ) (11) John
Mearsheimer , “The Rise of China Will Not Be Peaceful at All”,
The Australian, November 18, 2005 [John Mearsheimer is professor
of political science at the University of Chicago and the author
of The Tragedy of Great Power Politics (W.W. (12) A test of
will, Gideon Rachman is the FT’s chief foreign affairs
commentator and author of ‘Zero-Sum World’ (Atlantic): (13) “Văn
học
Việt Nam : đối kháng Trung Hoa” (Sài Gòn, 1969, hai tập), tựa đề một cuốn sách của Linh mục
Thanh Lãng.
Bản đồ phương Đông ‘mở rộng’ của Trung Quốc –Hình của Frank Jacobs, không thấy ghi xuất xứ? ___________________________________ (*) Mục: Nghĩ vắn trong ngày (web Hội Tụ) nguyễn văn hóa ghi
Wednesday, July 01, 2009 Trong cuốn “Những Quy Luật Chính Trị Trong Sử Việt”, tác giả Vũ Tài Lục có ghi lại một đoạn trong bài thơ của Mao Trạch Đông sáng tác trước khi cho quân đánh Trường Sa (*) như sau : Hỡi dãy núi trùng trùng điệp điệp Cao vòi vọi và trên đỉnh đầy tuyết phủ Ta vung kiếm lên, đứng giữa trời bao la Chặt ngươi ra làm ba khúc Một khúc ta cho Âu Châu Một khúc dành cho Mỹ Ta giữ lại một cho Trung Quốc Thế giới sẽ sống yên bình Và trái đất điều hòa nơi mưa nắng… (sđd, trang 269-70, nhà xb Việt Chiến, Sài Gòn lần thứ nhất 4.01.1974)
Rất tiếc là tác giả Vũ Tài Lục không ghi rõ xuất xứ bài thơ nầy từ đâu, ai dịch? nhưng ta có thể hiểu bài thơ nầy làm ra khi Mao Trạch Đông cảm tác trước cảnh núi non hùng vĩ của Hồ Nam, đúng vào lúc chuẩn bị đánh quân của Tưởng Giới Thạch, được gọi là “Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thu” vào năm 1927, nhưng thất bại. Với ý chí quyết tiêu diệt cho bằng được quân cộng sản của Mao, Tưởng dùng đến hơn 50 vạn quân bao vây quân của Mao, đẩy Mao vào thế thối lui biến thành một cuộc vạn lý trường chinh lên vùng Thiểm Tây ròng rã trong một năm trời. Dù Mao thất bại, nhưng ta không khỏi kinh ngạc trước một đầu óc kiêu hùng, ngạo mạn, hiếu chiến mà lại bộc lộ một tầm nhìn rất xa về tham vọng đế quốc thống lãnh một phần ba thế giới, ngay vào thời điểm Mao chưa có một tia hy vọng nào thắng lợi với Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch… Và theo tinh thần của bài thơ, Mao đã cố tình loại trừ Nga Sô Viết trên bàn cờ thế giới. - Trong bao nhiêu năm bôn ba hoạt động khắp nơi để phục vụ cho Đệ Tam Quốc Tế (kể cả sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945) không biết Hồ Chí Minh có đọc lịch sử Tàu, và nhất là hiểu được tham vọng thâm sâu của Mao Trạch Đông đối với thế giới mà Việt Nam chỉ là con cờ rất nhỏ Mao cần đến? Tại sao HCM lại phải cần "ve vãn" một tên người Hán hung bạo để mua lấy sự trợ giúp vũ khí và bán xương máu của dân Việt Nam trong gần 30 năm vào mục tiêu lấy trọn luôn miền Nam, chỉ vì Việt Minh không có cơ hội ngàn năm một thưở để cướp chính quyền “thoải mái” như vào tháng 8 năm 1945, một phần nhờ thái độ của một ông vua nha Nguyễn thật thà và không chấp nhận sự tàn ác? [ Tôi dùng chữ “ve vãn” với sự cố ý so sánh với nhà sử học Vũ Ngự Chiêu đã dùng danh từ nầy ( “ve vãn / Flirtation” ) ám chỉ tới sự thỏa hiệp giữa chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa và chế độ Cộng sản miền Bắc vào năm 1963 ]. Hẳn là ngày hôm nay, người Việt "thống nhất" hai miền đã thấy rõ được bản chất và đạo lý dân tộc của hai sự “ve vãn” khác nhau rất xa. - Nhà đạo diễn Mỹ ‘phối chủng’ (cha Do Thái và mẹ Pháp) Oliver Stone trước khi thực hiện cuốn phim Nixon cho biết ông đã bỏ nhiều năm để đọc lại các tài liệu lịch sử chiến tranh VN, phỏng vấn nhiều cấp lãnh đạo Mỹ, nên người xem không thể nghi ngờ về sự kiện lịch sử và cá tính nhân vật được miêu tả trong phim. Trong phim Nixon chiếu ở rạp, rất tiếc đã “cut” rất nhiều đoạn thú vị, thí dụ như xen diễn lại cảnh Nixon đến văn phòng trụ sở của CIA để gặp Giám đốc Richard Helm. Trong cuộc đối thoại kín đáo chỉ có hai người, đã hiển lộ một số chi tiết quan trọng từ cái chết của Tổng thống Kennedy đến một chính sách ngoại giao vụ lợi của đảng Cộng Hòa đối với Trung Cộng! Thí dụ thứ hai là, nội dung cuộc đối thoại giữa Mao Trạch Đông với hai nhà lãnh đạo Mỹ là Nixon và Kissinger. Trong phim, sau một màn giáo đầu ngoại giao mang tính cách 'protocol' ngượng ngịu, Mao mớm lời với Nixon, "Các ngài biết không, dân tộc Trung Hoa có câu tục ngữ -Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta." Cựu Tổng thống Nixon cười cười lập lại “Phải...phải, ngài nói đúng. Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta”. Mao Trạch Đông với phong cách bệ vệ của một thiên tử Đại Hán, gật gù cười đểu “Phải, kẻ thù của chúng tôi là bọn Nga Sô và Việt Nam. Chúng là những con chó” (Nguyên văn: They both are dogs!). Sau cuộc gặp gở của lãnh tụ hai nước lớn (một bên là đại cường quốc, bên kia là đại cường quốc mà Mỹ cho thấy viễn cảnh ló dạng ở chân trời) đó, là một cuộc bỏ bom khốc liệt, liên quân Việt Mỹ vượt qua biên giới Campuchia để tấn công và truy kích quân Bắc Việt. Có cần phải giải thích thêm cho rõ, qua cuộc đi đêm chính trị ấy, chính Mao Trạch Đông là người đã xúi giục Nixon phải hành động để xác minh cho tình bạn mới chớm, bằng cách đập cho "những con chó" ấy một trận nát xương! Hình như cuộc bỏ bom ấy đã cướp đi sinh mạng của vài sư đoàn quân Bắc Việt và MTGP?. Dù chết bao nhiêu đi nữa, đó là xương máu của những thanh thiếu niên miền Bắc trong lứa tuổi từ 15 đến 20. Vào thời điểm ấy (1972), vị “cha già dân tộc” Hồ Chí Minh đã chết được 3 năm rồi (1969); trong khi Mao Trạch Đông tiếp tục sống thêm 4 năm nữa (1976)… Hơn ba thập niên kể từ cái chết của Mao đã đi qua; ở Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn được tôn xưng là vị “Cha già dân tộc” và ở Trung Hoa lục địa, Mao Trạch Đông vẫn là một “Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại” của dân tộc Đại Hán. Nhưng, tôi không tin định kiến “Chúng là những con chó” lại dễ dàng xóa nhòa trong tâm trí của thế hệ hậu duệ, con cháu của Mao Trạch Đông ngày hôm nay! ___________________________________________________ (*) Cho đến năm 1910, tỉnh Hồ Nam vẫn tương đối bình lặng, cho đến khi nhà Thanh sụp đổ, Hồ Nam chính là nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thu do Mao Trạch Đông lãnh đạo vào năm 1927. Mao Trạch Đông thành lập chính quyền Xô Viết Hồ Nam vào năm 1927 và lãnh đạo quân đội du kích ẩn náu ở vùng núi tỉnh Hồ Nam cho đến năm 1934. Khi lực lượng cộng sản rút lui, Hồ Nam chính là một trong những nơi đã xảy cuộc chiến tranh Trung – Nhật lần 2 giữa Quốc Dân Đảng chống lại quân Nhật Bản. Trường Sa là thủ phủ của Hồ Nam từ năm 1944. Sau cuộc nội chiến Trung Quốc, quân cộng sản trở lại nắm chính quyền Hồ Nam vào năm 1949. Năm 1976, sau cái chết của Mao Trạch Đông, Hồ Nam được lãnh đạo bởi tổng bí thư Đặng Tiểu Bình. Từ 1966 đến 1967, Hồ Nam cũng là nơi diễn ra cuộc cách mạng văn hóa.
|
© copyright giaodiem.us | 2009