đăng ngày: 21.8.2011
|
|
|
Nguyễn Cao Kỳ - Man of Destiny: Nguyễn Cao Kỳ: Người của số mệnh (The Egotists: 16 surprising interviews with…Nguyen Cao Ky..., by Oriana Fallaci)
Oriana Fallaci qua nét vẽ
của Donald
Ely Vài lời của người dịch : Như đã hứa, chúng tôi dành buổi chiều ngày chủ nhật hôm nay (14/8/2011) để dịch lại nội dung cuộc phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ của ký giả Oriana Fallaci, từ trang 68 đến trang 79. Ba trang rưỡi đầu -từ trang 63-67, là phần giới thiệu tổng quát về cuộc phỏng vấn của bà, vì thấy không quan trọng lắm, nên sẽ dịch sau. Ngoài ra, để độc giả hiểu thêm về bà Oriana Fallaci, chúng tôi muốn nêu bật lên chủ đích của bà khi chọn phỏng vấn ông Nguyễn Cao Kỳ, vào dịp sau Tết Mậu Thân 1968. Đồng thời, chúng tôi sẽ dịch thêm phần cuộc phỏng vấn một người Mỹ da đen –một đảng viên Đảng Cộng sản Mỹ -H. Rap Brown vào năm 1967, thời điểm ở nước Mỹ bùng nổ một cuộc nổi dậy và bạo động của người da đen, đưa tới sự ám sát Marin Luther King, Malcom X,... sau đó. Lý do, chúng tôi nhận xét cách thức trả lời của Rap Brown, mặc dù tương phản với Nguyễn Cao Kỳ nhưng lại mang những nét đồng điệu kỳ lạ trên quan điểm màu da, cách mạng, nước Mỹ và Việt Cộng… Thú thật, trong lúc dịch bài phỏng vấn, có chỗ làm chúng ta thấy “đã, khoái” với lối trả lời của ông Kỳ, bộc lộ con người ông có một cá tính mạnh. Tuy nhiên, chúng tôi cũng tin là đã có một sự “mớm lời, tập huấn” của ai đó với ông Kỳ : Vì lẽ, trước khi ông Kỳ chấp nhận cuộc phỏng của bà Oriana, bà đã thông báo trước cho ông Kỳ một thời gian và địa điểm mà ông Kỳ sẽ chọn lựa. Với thời gian đó, đủ cho các cố vấn của ông Kỳ trao đổi, thảo luận, khuyến cáo, đề xuất, cố vấn cho ông Kỳ sẽ nói về những gì, và tránh né những gì. Chúng tôi tin vào điều đó, bởi trong nội dung, có chỗ ông Kỳ trả lời rất khéo, có chỗ vụng về để lộ nhiều sơ hỡ và đối chọi nhau. Cũng xin nhắc lại, như lý do thúc đẩy chúng tôi dịch bài phỏng vấn này nhằm làm sáng tỏ thêm về bài viết của ông Hoàng Nguyên Nhuận “Người phu đào huyệt” được tái đăng nhân dịp đưa tin ông Kỳ từ trần trên web Chuyển Luân. Tác giả dùng một tựa đề như vậy, rất dễ gây sự hiềm khích và phẫn nộ đối với cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản khắp năm châu, ngoại trừ dư luận sẽ không quan tâm nếu người ta tin chắc ông Hoàng Nguyên Nhuận đích thực là một cán bộ cộng sản được 'gài' ra nước ngoài, từ trước. Nhưng, dù dư luận sẽ loại trừ cá nhân ông Hoàng Nguyên Nhuận đi nữa, điều đó cũng không tốt đẹp chút nào, vì lẽ ông đứng đầu một website mang danh Phật Giáo, và một số người cộng tác ông đã công khai bênh vực, tán dương Đảng Cộng sản một cách khó chấp nhận. Vì vậy, chúng tôi sẽ có bài nhận xét chung sau này. Đối với cá nhân chúng tôi, thiết nghĩ chúng tôi không hề quan tâm tới nhân vật Nguyễn Cao Kỳ -khi sống cũng như lúc ông từ trần. Nhưng đã lỡ “dính” vào câu chuyện của ông vì bài viết xuất phát từ các tác giả Hoàng Nguyên Nhuận “Người phu đào huyệt” và Trần Chung Ngọc “Vài hàng về tin anh Nguyễn Cao Kỳ giải nghiệp”, nên cần nói đôi lời với vong linh người quá cố : Sự nghiệp chính trị của ông Nguyễn Cao Kỳ trong quá khứ đã vi phạm nhiều sai trái nặng nề, khó tha thứ, ở cương vị của một người lãnh đạo (dù ông được “lãnh đạo” là nhờ ngoại nhân, “chó nhảy bàn độc” như có người ví von, hoặc nhờ đồng nghiệp, bạn bè, phe nhóm đưa lên!), và điều ấy chúng tôi sẽ không đề cập chi tiết ở đây. Nhưng đó là quá khứ, một quá khứ đã chết hoàn toàn. Điều đáng trách, là lúc cuối đời khi trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2004, ông đã tự ý (hoặc có thể do người khác xúi quẩy), đã nhân danh và tuyên bố những lời lẽ sai lầm. Ai cũng thấy, ông không có đủ tư cách và chính danh để đóng vai trò “sứ giả” dù đó là sứ giả hòa bình, hay hòa hợp hòa giải. Ông cũng chẳng phải là nhân vật mà cơ quan CIA tuyển chọn. Cơ quan CIA không cần làm công việc rẻ tiền đó. Lẽ ra, ông nên âm thầm, lặng lẽ, cứ xin về làm ăn và không cần tuyên bố gì cả, như một businessman thứ thiệt. Lời hay lỗ, cá nhân và gia đình ông chịu. Đọc được bài viết xuất hiện khá sớm của ông Trường Sơn Lê Xuân Nhị, chúng tôi cũng lấy làm cảm động. Thời gian không xa lắm, ở hải ngoại vẫn có những người trẻ như nhà văn Lê Xuân Nhị vẫn còn có tấm lòng và còn tin tưởng nơi vai trò lãnh đạo của ông Nguyễn Cao Kỳ, để có thể làm được “cái gì đó” cho ước vọng về quê hương của họ, để rồi nhận chịu… sự thất vọng trong đau đớn, nhục nhã; tuy vậy khi nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ từ trần, Lê Xuân Nhị đã 'trút, xả' bằng một bài viết ngắn để đổi cách xưng hô từ khinh miệt sang tôn trọng khi gọi Nguyễn Cao Kỳ bằng ông. Thái độ ấy, chứng tỏ trong quá khứ, Lê Xuân Nhị đã quá yêu mến và khâm phục Nguyễn Cao Kỳ. Không ai trách ông Nhị được. Chính vì vậy, theo tôi, những gì mà ông Kỳ đã trả lời trong bài phỏng vấn của Oriana Fallaci đã bộc lộ hết khả năng và con người của ông có thể làm được gì không, cách nay trên 43 năm lận, đâu có phải đợi đến tháng 4/1975 hay trên bước đường tị nạn sau này!. Trong xã hội miền Nam, tạm rút ngắn kể từ khi vua Bảo Đại “bị” thoái vị đến nay, chúng ta có một số vị lãnh đạo tệ hại, nhưng cả cơ chế, xã hội kế thừa và nhân sự ấy của nó, không phải ai cũng tệ, ai cũng xấu cả. Do đó, không ai có quyền vô ơn và ngạo mạn mà phải làm công việc “đào huyệt” chôn cất nó (cho khuất mắt?) –dù cho có nhiều kẻ đã chết, người còn sống; nhưng giá trị về văn hóa, xã hội, tinh thần nhân bản của nó vẫn truyền thừa trong tâm thức cho nhiều thế hệ về sau nữa. Bởi “chôn cất” nó có nghĩa là xóa bỏ luôn cả lịch sử Việt Nam từ thuở trước, chỉ còn kể tới thời đại Hồ Chí Minh thôi sao!? Vậy thì ngày hôm nay cả nước đang nổ lực củng cố tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm để làm gì? Tinh thần yêu nước đó căn cứ vào đâu và nối tiếp từ đâu, đến đâu? -Nghĩ lại, thật ra người viết đã cố tình dùng một lối văn cường điệu, tuyên truyền kích động và thiếu suy nghĩ. Bài dịch này, chúng tôi có gắng dịch một cách trung thực với nội dung các câu hỏi của Oriana Fallaci và trả lời của ông Nguyễn Cao Kỳ sao cho sát với tâm cảnh và một phần nỗi lòng (rất cô đơn như ông nói) của ông trong thời gian đó, như một nén hương cho người quá cố. Nguyễn Văn Hóa. Chiều Chủ nhật 14.8.2011 Vài lời ghi thêm : Hôm nay (19/8/2011) chiều cuối tuần thứ Sáu, chúng tôi bỏ chút thì giờ dịch tiếp đoạn giới thiệu cuộc phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ của Oriana Fallaci, cho ‘trọn gói’ bản dịch. Như đã thưa trước, chúng tôi sẽ không bình luận gì sau bản dịch này. Sau đó, khi có đủ thì giờ, chúng tôi sẽ tìm cách đối chiếu vài sự kiện lịch sử nhằm soi chiếu vào tinh thần, nội dung và động cơ của cuộc phỏng vấn xuyên qua nhân vật chính trong bối cảnh thời sự lúc bấy giờ (nhất là biến động chính trị tại miền Trung năm 1966) với các tài liệu liên quan khác, đứng trên quan điểm lịch sử khác nhau như của nhà sử học Vũ Ngự Chiêu, giáo sư Quán Như Phạm Văn Minh, và một số nhà sử học khác... thành một tổng luận. Mục đích xa là như vậy. Nhưng việc trước mắt, là để cho độc giả có cái nhìn đối chiếu với bài viết “Người Phu Đảo Huyệt” đi kèm vài trích dịch cuộc phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ của Oriana Fallaci của Hoàng Nguyên Nhuận (tác giả trích dịch 6 câu hỏi và trả lời trong tổng số 18 câu, nhưng có chỗ thiếu đầu, chỗ thiếu đuôi, chỗ thiếu giữa.) Để cho tiện theo dõi, chúng tôi chia làm hai phần : phần dịch nguyên bài phỏng vấn từ sách (ngườ dịch); phần thứ hai là bài viết của ông Hoàng Nguyên Nhuận. Phần nhận xét, tiên khởi, chúng tôi xin dành cho quý độc giả. Nguyễn Văn Hóa (ghi thêm ngày 21.8.2011) __________________________________________________________________________ I. Phần một Nguyễn Cao Kỳ - Man of Destiny: Nguyễn Cao Kỳ: Người của số mệnh (The Egotists: 16 surprising interviews with…Nguyen Cao Ky..., by Oriana Fallaci) Ông ta là người nổi danh cũng như là người bị thù ghét nhất ở Miền Nam Việt Nam. Những người phản động ghét ông bởi ông là người thù nghịch nhất của những người phản động; những người tự do thù ghét ông vì ông là kẻ thù nghịch nhất của những người tự do; người Mỹ thù ghét ông vì ông là kẻ thù nghịch nhất của người Mỹ. Và nhiều người đã nghĩ ông ta không thể thọ, vì có kẻ đang tìm cách trừ khử ông cho sớm. Ông ta biết điều đó. Không phải vì ngẫu nhiên mà ông ta thường tự nhận mình đang gặp hiểm nghèo, phiền toái, không có bạn bè. Mới nhìn thoáng qua, ta không thể biết điều đó. Ông ta là một người Việt như bao nhiêu người khác, không cao không thấp, chẳng khỏe mạnh mà chẳng yếu ớt. Về thể chất, chỉ có thể phân biệt ông với kẻ khác với bộ râu mép (Người Việt thường không để râu), hoặc bằng diện mạo nào đó buộc người ta phải nhớ ra ông ta là Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, Phó Tổng thống nước Cộng hòa. Ông ta không phải là người thân thiện. Ông hiếm khi cười, luôn nhăn nhó một cách khó chịu, chiếm ngự với nét kiêu ngạo tươm ra ngoài. Khi ông ta bắt tay (ông ta có một bàn tay rất đẹp, đúng là bàn tay phụ nữ), ông lơ đãng như thử là chẳng muốn nhìn. Song, khi người ta đi sục sạo thông tin về ông, sẽ ngạc nhiên thấy rằng ngoài cái diện mạo khô khan, cáu kỉnh, dễ nản ấy, ông ta có một nhân cách thật màu mè, một trong những tạp chí bình dân từng nhấn mạnh – đặc biệt là những tạp chí về phụ nữ. Chẳng hạn, người ta nói rằng ông ta là thứ đàn ông của nữ giới. Trước khi cưới vợ lần thứ nhì, không ai ở Sài Gòn có thể thi thố với ông về một cuộc phiêu lưu (tình ái) nào đó, và cho tới ba năm trước đây, tiếng đồn này đã được chính thức nhìn nhận: ông không phủ nhận chuyện đó. Ngược lại, ông còn phụ họa tiếng tăm đó với niềm hãnh diện, và giải thích rằng mọi phụ nữ đều yêu phi công: “Có lẽ ‘bay bổng’ trước mắt phụ nữ biểu hiện cái gì đó mới lạ, một lối sống gan dạ.” Người ta còn nói, ngoài chuyện này, ông còn là một “dân chơi”, thường xuyên uống rượu dữ dội trong các hộp đêm. Họ nói, cứ nhìn cách ông chải tóc, cách ông choàng chiếc khăn sa-tanh màu hoa cà quanh cổ, từ cách phóng túng, tự nhiên với bộ đồ bay luôn ủi láng cóng, quá láng là khác mà ông luôn mặc trong người, cũng bộ đồ ấy ông thường bay những phi vụ đêm bí mật vào Bắc Việt: phủ một màu đen may sít sao. Với bộ đồ ấy trông ông giống như một vận động viên thể thao với chiếc hoa hồng bự nơi cổ -nhưng là một vận động viên thanh lịch làm sao ấy. Có những người khác thì cho rằng không, bên trong ông là con người tình cảm, rằng ông ta muốn lãng quên bằng những cung cách vớ vẩn ấy vì tổn thương từ nổi thất vọng, muộn phiền của người vợ đầu, một phụ nữ Pháp đã từng lợi dụng ông ta. Khi cưới cô ta, ông là anh chàng tử tế; ông trở thành một “dân chơi” (playboy) khi cô ta bỏ ra đi để lại năm đứa con nhỏ, thế rồi ông ta sống chung với một gái nhảy, phó thác các con mình cho cô này. Người ta nói rằng, nếu hiểu được bi kịch đó, sẽ thấy ông ta thật là dễ mến, tử tế, khao khát một đời sống gia đình bình thường. Thế nên ta phải tin chắc đó là lý do chính mà ông ta đã cưới vợ lần thứ nhì, một phụ nữ vừa tài vừa sắc, trẻ hơn ông mười một tuổi song khôn khéo, người mà ông gặp gỡ trong chuyến bay của Hàng không Việt Nam đến Bangkok. Thế rồi ta sẽ tin rằng khi ở Bangkok, ông ta đã mời cô chiêu đãi viên hàng không này -cô ta đang học môn toán ở đại học Natrang (?? –người dịch!) với phi hành đoàn cùng đi ăn tối, và bảy ngày sau đó, ông đem cô ta giới thiệu với các con mình và nói rõ không những ông muốn lấy cô làm vợ mà còn muốn cô làm mẹ của chúng nữa. Ngồi bên cạnh, vợ ông xác nhận chuyện đó, bà ta còn nói thêm, kể từ ngày họ cưới nhau, ông là một người chồng, người cha tốt, chẳng bao giờ ông có dấu hiệu nào làm bà ta nghi ngờ về sự trung thành của ông, và lời đồn trong một chuyến ‘hành trình tình ái’ ông bay ra Huế, bà ta đã theo dõi ông bằng một phi cơ quân sự là không đúng sự thật. Ông không hề ra lệnh cho đài kiểm không lưu đừng cho phi cơ của bà hạ cánh, nhưng chỉ nói rằng, “vì thời tiết xấu, đáp xuống rất nguy hiểm.” Bà ta theo ông vì bà muốn có một cuối tuần với gia đình. “Thiên hạ thật đáng tởm.” Sau cùng, có kẻ nói ông ta là một người mê tín, ông tin vào bói toán một cách cuồng nhiệt, thường vấn kế các người thầy bói trước khi ông có quyết định gì quan trọng; ông rất vui mừng khi bà vợ thứ nhì sinh một bé gái bởi vì ông đã có bốn con trai. (Ở Việt Nam, bốn con trai có nghĩa là may mắn, năm trai là xui xẽo.) Thầy bói nói rằng, con gái sẽ mang lại cho ông một đại hỷ trong tương lai, con trai sẽ là đại họa. Đó là lý do tại sao, ông đặt tên con gái ông là Duyên, có nghĩa là “điều kỳ diệu.” Ông ta phủ nhận điều đó với sự phẫn nộ. Thế nhưng ông không chối bỏ chuyện thú ghiền xem đá gà. Trong ngôi nhà ở Tân Sơn Nhứt, ông nuôi một trăm con gà đá, mỗi một chiều chủ nhật ông thường tổ chức một cuộc đá gà, kết thúc bằng con vật tế thần máu me lai láng: lông gà tung tóe khắp nơi, từng miếng thịt ức, cổ và đùi văng ra từng mãnh. Chưa hả dạ, ông còn tìm coi bất kỳ cuộc đá gà nào biết được; ông đi xuyên một nửa nước Việt Nam khi bằng phi cơ khi bằng xe Jeep vào luôn cả vùng Việt Cộng kiểm soát không cần hộ vệ chỉ để coi đá gà. Ông nhìn nhận chuyện đó, nhưng nói rằng đá gà chỉ là cái cớ thôi, thật ra đó là cơ hội để ông tiếp xúc với nông dân. Ông thích nông dân. Ông không có sự cách biệt nào với người nông dân, gặp họ ông cười vui để lộ cả hàm răng trắng toát, cứng cáp, trông dễ sợ như hàm răng của một con chó sói. Với họ, ông bắt tay một cách thân mật. Ông tin vào họ cũng như Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông vậy. Ông tuyên bố rằng, sự phục hưng của Việt Nam là tùy thuộc vào nông dân, không phải là giới trí thức. Giới trí thức không có khả năng chiến đấu vì họ không thể chịu nổi khốn khổ, họ không chịu nổi khốn khổ vì họ chưa hề biết đói. Trước khi trở thành phi công, ông ta mơ ước làm một người nông dân. Dù ông ta xuất thân từ Hà Nội, trong một gia đình Quan lại (‘Mandarins’ –viết hoa, người dịch). Nói khác đi, ông ta thuộc dòng giõi quý phái. Về sở thích, khó đoán biết ông ta thích gì. Ông ta ít thích loại âm nhạc có “chất lượng”, ông ta chỉ nghe Brahms hay Beethoven để cho dễ ngủ. Khi thức dậy, ông thích nghe nhạc Twist, Beatles hay Rock. Ông không đi coi xi-nê –đó là nơi rất dễ bị giết –nhưng ông thường dùng màn ảnh lớn ở nhà, và chắc chắn đó không phải là những phim có “chiều sâu” gì –phim Cao bồi Viễn Tây và điệp viên James Bond. Với sách vở thì cũng tương tự. Ông đọc những chuyện trinh thám; vợ ông nói ông có nguyên cả thư viện về nó. Có lần, một ký giả người Pháp, François Pelou viếng thăm ông ở Dinh Độc Lập, thấy trên bàn giấy Phó-tổng-thống của ông hai cuốn trinh thám và một cuốn Kinh Thánh. “Xin chúc mừng, ngài đang dâng mình cho một thứ văn học trang trọng,” Pelou nói vừa đưa tay chỉ cuốn Kinh Thánh. Ông ta trả lời một cách cáu kỉnh “Người ta vừa mới tặng cho tôi,” xong liền cầm cuốn Kinh Thánh và ném đi chỗ khác. Ông ta không tin tôn giáo; ông thú nhận ông là kẻ vô thần. Ông ta nhớ lại khi mẹ ông cầu Phật cho ông, ông đã chế diễu bà. Ông tuyên bố ông chẳng bao giờ đặt vấn đề về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và còn thêm ông cũng chẳng bận tâm với chuyện liệu Chúa có hiện hữu hay không. Trong sự soi sáng của những giai thoại đó, vì thế, không ai dám xét đoán ông bằng với một cá tính tiêu biểu, kẻ mà vận mệnh đã và đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh này, chỉ là người có thể lãnh đạo trong một đất nước thiếu kém lãnh đạo một cách đau đớn. Ông ta có thể. Khi ta nhận ra điều đó, với sự kinh ngạc, khi lắng nghe ông nói trong hơn mười phút. Ông ta không phải là đứa ngu ngốc. Ông ta có điều gì đó để thốt ra, và nói không chút sợ hãi. Trước tiên, ông ta là người xã hội chủ nghĩa, nhưng không phải thứ xã hội chủ nghĩa ‘hồng’, lưỡng lự giữa cải cách và thỏa hiệp. Ông ta là một người xã hội chủ nghĩa-Mác-xít, y chang như kẻ thù Hồ Chí Minh. Giống Hồ Chí Minh, ông ta không tin vào nền dân chủ mà chúng ta thừa nhận, vào tự do mà chúng ta giải thích. Trong đôi mắt ông, người giàu là kẻ tham ô không chối cãi được, người nghèo thì rõ ràng là vô tội; cách mạng xã hội là câu trả lời cho vấn nạn Việt Nam. Và đó không phải là cuộc cách mạng hòa bình, không phải là cuộc cách mạng hiến chế, mà phải là cuộc cách mạng bạo lực –một cuộc cách mạng tắm máu nếu cần. Điều phi thường là ông ta đã diễn đạt về niềm tin này mà không cần thốt ra những công thức như “chủ nghĩa tư bản”, “đấu tranh giai cấp”, ‘biện chứng.” Ông ta chẳng bao giờ đọc Mác, ông chẳng biết tí xíu nào về “chủ nghĩa Mác-xít” nghĩa là gì. Ông ta kết luận ý thức hệ theo cách riêng của mình, bằng bản năng, lẫn lộn, giữa câu truyện trinh thám và một cuộc đá gà. Quả thật là khó khăn để giải thích cho ông ta những ý tưởng như vậy chẳng phải là điều mới mẻ, có người đã đặt bút xuống viết về nó cách nay cả trăm năm trước. Và càng khó hơn nữa để nói cho ông biết cuộc chiến tranh ở Việt Nam nó đang xoay quanh với những ý tưởng giống vậy, hậu quả là ông đã đứng về phía sai lầm, nếu như vận mệnh đã đặt cuốn Tư Bản Luận của Mác trong bàn tay ông, thì giờ này ông đã đứng về phía Hồ Chí Minh, và đang nã pháo vào Sài Gòn. Nói khác đi, ông ta là người dốt nát, không muốn đọc bất cứ thứ gì ngoài truyện trinh thám. Sự việc là thế đó, một điều bí ẩn là làm thế nào mà ông ta đã trở thành Thủ tướng và rồi Phó Tổng thống trong chính quyền mà bất cứ một tên Mác-xít nào cũng ghét. Và nếu như “bí ẩn” không phải là từ đúng, thì chúng ta đành chấp nhận không hiểu được bất cứ điều gì về Việt Nam, nơi đang sôi sục. Không hẳn là điều bất thường nếu đi hỏi một người Việt có trách nhiệm vì sao Nguyễn Cao Kỳ ăn nói như một tên Việt Cộng vậy, thì sẽ nhận được câu trả lời: “Phần lớn người thuộc thế hệ Nguyễn Cao Kỳ đều nói như Việt Cộng.” Và cũng có thể kẻ thù nguy hiểm nhất của người Mỹ không phải là ông già khắc kỷ từng học ở Mốt-cu, kẻ mà Bắc Việt Nam từng xưng hô thân mật là ‘Bác Hồ’, mà chính là anh chàng tuổi trẻ này, với chiếc khăn lụa màu hoa cà, người phi công từng là ông khách 8 tháng ở căn cứ không quân Maxwell, bang Alabama, kẻ mà Henry Cabot Lodge coi như “đứa con thứ hai của tôi.” Cuộc phỏng vấn này xảy ra trong căn nhà trên đường Công Lý, nơi mà vị Phó Tổng thống ở vào ban ngày với gia đình. Đến đêm, cả nhà chuyển vào Dinh Độc Lập, ở đó họ ngủ trong căn phòng kế phòng làm việc, trên những tấm nệm đặt lên sàn nhà. Có lính gác gác dinh thự, không gian chung quanh họ thật căng thẳng, nghi ngại; các đứa nhỏ đã được dạy là chúng phải cúi đầu xuống, tìm cách ẩn núp khi nghe tiếng súng. Khi bà Kỳ nói, “Chúng tôi sống như là nhà binh vậy,” là lúc khuôn mặt trông như đồ sứ của bà trở nên phiền muộn. Mặt ông Kỳ vẫn giữ nét điềm tĩnh. Đối với ông, rủi ro là chuyện thường tình, đe dọa chết chóc là chuyện thường ngày. Một niềm tin mù quáng đã đeo vào ông: bước thẳng vào hiểm nguy là ông thần bất tử. Có thể ông ta là người ảo tưởng, cũng có thể ông ta biết rõ mình đang làm gì. Có thể đời ông ta sẽ chấm dứt như một Lumumba; có thể ông ta sẽ chiến thắng như một Napoleon nhỏ. Nói khác nữa, một kẻ vừa tai tiếng vừa dốt nát, cũng có thể thành công. Phóng sự này không phê phán, chỉ giới hạn để thuật lại ông ta đã nói gì. Ông Kỳ đã nói với người phỏng vấn trong nhiều giờ, với một giọng nói cứng cỏi và đôi mắt rắn (chắc). Lúc đó là một buổi chiều ngày Chủ nhật vào tháng Ba 1968, và với những tiếng đạn pháo gầm thét quanh Sài Gòn. Oriana Fallaci. Nguyễn Văn Hóa dịch xong lúc 5:00Pm, chiều thứ Sáu 19.8.2011 _______________________________________________________________________ (lưu ý của người dịch: Hàng chữ nghiêng từ đầu đến cuối là phần câu hỏi (và được đánh số thứ tự) của người phỏng vấn, để độc giả tiện theo dõi và đối chiếu.) (1) Oriana Fallaci : Này Tướng Kỳ, có quá nhiều điều rắc rối được nói về ông, nhưng điều rắc rối nhất là tôi được nghe lời ông tuyên bố cách đây mấy hôm: “Tôi biết có người đang tìm cách giết tôi. Nhưng kẻ nào đó sẽ không phải là một tên Cộng sản.” Nguyễn Cao Kỳ : Chắc chắn vậy. Nếu có ai đó giết tôi, thì người đó không phải là Cộng sản. Ai đó ở phe khác, những kẻ coi tôi còn nhiều nguy hiểm hơn là Cộng sản nữa. Phía Cộng sản không phải ai cũng là tội ác. Tham nhũng giữa chúng tôi, giữa những nhà lãnh đạo chúng tôi. Mười người thì có chín người tham nhũng. Và như tôi là người duy nhất nhận ra điều đó, nhìn thấy nó nên nhiều người thù ghét tôi, và vì quyền lợi của họ mà triệt tiêu tôi. Các chính khách không ưa tôi vì tôi không phải là một chính khách, vì tôi không phải là nhà ngoại giao, vì tôi tố giác chế độ này là chế độ không có hiệu quả, một chế độ không có năng lực, và vì tôi nói rằng dân chủ chỉ là danh xưng mà thôi. Người Mỹ không ưa tôi vì tôi nói với họ những gì tôi nghĩ, và tôi buộc tội họ là dối trá. Người Mỹ nói rằng họ đến đây nhân danh các nguyên tắc dân chủ và tự do. Tôi không tin họ; cao lắm tôi chỉ tin họ 50 phần trăm thôi. Người Mỹ không phải đến đây vì dân chủ và tự do, họ đến đây để bảo vệ quyền lợi của họ. Và quyền lợi của họ không phải luôn luôn nối kết với quyền lợi của Việt Nam. Người Mỹ đến đây vì họ muốn có mặt ở Á Châu, chiến đấu chống chủ nghĩa Cộng sản ở Á Châu, không phải vì quan tâm đến chúng tôi. Họ không hiểu chúng tôi cần gì, họ không hiểu bi kịch của chúng tôi. Hãy nhìn Robert Kennedy đấy, ông ta luôn nói về tham nhũng ở Việt Nam như là ông đang ở đây vậy. Ông ta là một người giàu có, và tôi muốn biết, giòng họ Kennedy này, liệu cha ông ta có từng tham nhũng không. Tôi muốn ông ta đến nơi nầy, không phải gởi chú em của ông, nhưng mà ông ta sợ phải đối diện với thực tế. Ông ta nói: “Dân chủ, tự do.” Toàn là chữ. Quan niệm về dân chủ và tự do của ông thật là ngu xuẩn đối với tôi, bởi vì các nước lớn đầy quyền lực nầy nói về dân chủ và tự do là những tên thực dân. Họ thường mở đầu bằng câu: “Chúng tôi đến đây để giúp đỡ các ông.” Thế rồi họ trở thành ông chủ, và họ trở thành những tên thực dân. Quá đủ rồi. (2) Tướng Kỳ nè, ông đang nói về cách mạng hả? Phải rồi. Những gì mà người Mỹ không hiểu là Nam Việt Nam cần một cuộc cách mạng chống lại lý tưởng cách mạng của Bắc Việt, để chứng tỏ rằng không phải chỉ ở Bắc Việt mới cần công chính. Người Mỹ muốn dựng nên ở Nam Việt Nam một chế độ dân chủ tôn trọng pháp lý, tự do ngôn luận và vân vân. Bầu cử. Nhưng bầu cử có nghĩa lý gì đối với những người đang chết vì đói? Quyền lập pháp và hành pháp có nghĩa gì cho những người đang cần một bát cơm cho con em của họ? Khi cô đến các làng mạc và cô nói với nông dân về bầu phiếu, họ sẽ trả lời là họ đang đói. Họ không cần tới dân chủ; họ cần công bằng xã hội. Cho nên, đối với tôi công bằng xã hội có nghĩa là, cung cấp ruộng đất, xây dựng nhà cửa và trường học, không còn nạn đói. Điều đó không có nghĩa lý gì với người Mỹ, với ông Kennedy. Tôi không thích kiểu bầu cử mà người Mỹ đề nghị; nó không có nghĩa lý gì ở một đất nước mà người đi bỏ phiếu thì dốt nát, hững hờ và sợ hãi. Trong mọi trường hợp, kẻ được bầu không phải là kẻ mà người dân muốn; họ không đại diện cho dân. Người dân bỏ phiếu cho họ vì có kẻ đi nói với dân bỏ phiếu cho họ. Những cuộc bầu cử của chúng tôi về sau này là uổng phí thì giờ và tiền bạc, một trò hề. Nó chỉ là phương tiện hữu dụng cho một chế độ sai lầm, tham nhũng và yếu kém, mà nó sẽ sụp đỗ tức khắc với một cuộc cách mạng. Thật là khó cho tôi để nói ra điều đó, vì tôi cũng có chia xẻ trách nhiệm với những cuộc bầu cử đó, tôi là ứng cử viên và được bầu lên, và bây giờ đang phục vụ như là một Phó Tổng thống của một chế độ chuyển nhượng. Nhưng ít nữa tôi cũng nhận ra tội ác, ở đâu tội ác có mặt. Và tôi nói rằng luật pháp phải được thay đổi, vì luật pháp hiện nay chỉ là luật để bảo vệ cho người giàu. Chúng tôi cần luật bảo vệ cho người nghèo. (3) Tướng Kỳ, đó là những gì mà Hồ Chí Minh nói, những gì mà Việt cộng nói. Đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-xít. Ai bác bỏ điều đó? Tôi không sợ danh từ “chủ nghĩa xã hội.” Người Mỹ đã nói đến danh từ chủ nghĩa xã hội như là danh từ dơ bẩn. Khi nói chuyện với Cabot Lodge, tôi thường dùng từ xã hội chủ nghĩa, từ “cách mạng.” Tôi nói: “Tự do? Tự do về cái gì? Về bày tỏ? Tự do mà Việt Nam chúng tôi muốn là tự do về nhu cầu, tự do để có một chén cơm. Hãy để chúng tôi xây dựng đất nước ở đó không có ai đói, rồi chúng tôi sẽ nói về tự do phát biểu, về quyền lập pháp và hành pháp.” Cô nói tôi là một người Mác-xít. Đây không phải là lần đầu tiên một người Âu nói với tôi như vậy. Có thể tôi là một người Mác-xít. Ai quan tâm? Tôi không biết ông Mác, chẳng biết Engels, hay bất cứ người da trắng nào sinh ra ở Âu Châu. Họ lập thuyết, tôi không mất thì giờ với những lý thuyết đó. Nói trắng ra, tôi không có đọc. Kể cả việc tôi chẳng hổ thẹn để nói rằng học vấn của tôi nghèo nàn. Tôi chưa qua bậc trung học, và tôi phải ngừng học khi tôi mười tám tuổi, khi người Pháp đóng cửa trường học và đẩy chúng tôi vào chiến tranh. Tôi là một phi công. Tôi dành cuộc đời với phi cơ, chẳng hề đọc sách của mấy ông Mác hay Engels nầy. Nó chẳng làm tôi thích thú, ít nữa để biết rằng ông Mác nầy đã phám phá người nghèo phải không được nghèo. Tôi không cần khám phá của ông để biết được điều sơ đẳng đó. Tôi là một người da vàng, tôi là người Á Châu, và tôi biết đất nước tôi cần gì hơn là những người da trắng viết sách kia. (4) Sự kiện vẫn còn đó, Tướng Kỳ ạ, nếu như ông đọc những cuốn sách đó ông sẽ nhận ra rằng những gì ông nói cũng giống như những gì ông đang chiến đấu. Ông có thể cho biết tại sao ông chống Cộng? À, như tôi đã nói, tôi chỉ biết những gì tôi đang thấy ở đây, ở đất nước tôi. Và những gì tôi thấy về người Cộng sản ở đất nước tôi… vâng, tôi không thích nó. Tôi muốn nói, tôi không thích thấy cảnh con nhân danh đảng đấu tố mẹ ; tôi không thích một đảng phá hủy gia đình và tình cảm gia đình vì ý thức hệ; tôi không thích một xã hội ở đó con người trở thành một đảng viên của một đảng. Chính vì thế, mặc dầu đúng là tôi chống lại sự tự do tạo nên bất ổn và công bằng xã hội, cũng đúng luôn là tôi chống lại độc tài. Tôi không biết giải thích ra làm sao nữa. Tôi có thể giải thích theo cách nầy : Tôi không thích Công Giáo, và Cộng Sản thì quá giống Công Giáo. Họ tuân phục Đảng giống như Công Giáo phục tùng Giáo hội –một cách cuồng tín. Đó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Tôi không chê trách họ về chương trình phân chia của cải người giàu, và tôi đồng ý hoàn toàn với họ khi họ lấy đất của người giàu chia cho người nghèo. Tôi hoàn toàn đồng ý khi họ lấy súng giao cho người nông dân và bảo: “Chiến đấu cho cuộc sống tươi đẹp hơn.” Tôi hoàn toàn đồng ý khi họ phá bỏ giai cấp ưu đãi, và khi họ nói rằng hệ thống phân chia giai cấp là sai trái. Như Khổng Tử nói, chúng ta phải nâng người nghèo cao lên và hạ thấp người giàu xuống cho đến mức họ ngang nhau để mọi người có cuộc sống hòa điệu và hợp nhất. (5) Tướng Kỳ, bộ ông chẳng bao giờ nghĩ rằng ông đứng ở bên phía chiến tuyến sai lầm? Bộ chẳng bao giờ ông nghĩ rằng ông sẽ khá hơn, nếu đứng về phía Hồ Chí Minh? Phải…nếu vận mệnh của tôi khác đi, tôi cũng có thể đứng về phía ông ta. Nhưng tôi là gì ngày hôm nay? Tôi chỉ có thể là một cán bộ nhỏ trong Đảng, như hàng ngàn người khác thôi, hoàn toàn câm họng, và tôi không thể làm được điều gì cả. Thay vì đứng về phía nầy, tôi là Nguyễn Cao Kỳ, và tôi có thể làm được điều gì đó: nhưng thực sự thì một con én chẳng làm nên mùa hè, mà cũng có thể báo hiệu một mùa hè. Dĩ nhiên, cũng có thể dễ dàng cho tôi hơn nếu đứng phía bên kia chiến tuyến. Cũng có thể tôi sẽ mất vui nếu đứng phía bên kia. Có thể tôi sẽ bất lực, và tôi không còn mơ tưởng về cuộc cách mạng của tôi nữa. Lấy trường hợp Hồ Chí Minh. Có người hỏi: “Anh muốn biết về ông ta không?” Danh dự mà nói, tôi không thích ông ta, và cô biết tại sao không? Bởi vì ông ta thuộc về một thế hệ khác. Hẳn ông ta là một người lãnh đạo giỏi, nhưng đã già rồi. Ông ta đã trên bảy chục, còn tôi mới ba mươi bảy thôi. Thế thì chúng tôi có thể nói được cái gì với nhau nào? Tôi đang ở một đất nước mà tuổi già rất đáng được tôn kính. Nhưng khi chúng tôi nói về cách mạng, về công bằng xã hội, về xây dựng tương lai cho xứ sở, người già chẳng có gì để dạy chúng tôi cả. Những người như Hồ Chí Minh không thuộc về thế kỷ nầy, hệ thống của họ đã lỗi thời. Nếu chúng tôi nghe lời họ, chúng tôi sẽ lập lại những sai lầm của họ. (6) Vậy thì, tướng Kỳ này, giả như một ngày nào đó ông thấy rằng mình không thể mang lại một cuộc cách mạng vì đã đứng ở chiến tuyến sai lầm, liệu ông có quay về phía bên kia không? Không. Khi một người đã chọn một lý tưởng, và đã nhận ra con đường đó là lý tưởng, anh ta phải theo nó tới cùng –không thay đổi hệ thống. Nếu sớm hay muộn, tôi nhận ra rằng tôi đã đi sai đường, chọn sai chiến tuyến, tôi thà chết. Tôi biết rằng sự chọn lựa của tôi không phải dễ dàng, nó sẽ rất đau đớn. Tôi biết rõ rằng, những người Cộng sản và tôi cùng chung một ước mơ, cùng chung mục tiêu, một chủ đích. Tôi cũng biết rõ rằng hệ thống phía chiến tuyến nầy là sai lầm, nhưng tôi không thể từ bỏ một hệ thống sai lầm nầy để chọn một hệ thống sai lầm khác. Không, tôi sẽ không bao giờ theo họ. Tôi thà chết chứ không thể chọn lựa một con đường sai. Chỉ một điều tôi thú nhận rằng, sự chọn lựa của tôi hết sức không thực tiễn. (7) Ông có thật sự tin tưởng ông sẽ thành công, hay chỉ mơ ước tới sự thành công? Tôi tin tưởng vào số mệnh, cho nên tôi tin tôi sẽ thành công –ngoại trừ chúng giết tôi. Nếu chúng không giết tôi, tôi sẽ chiến thắng, bởi vì tôi không phải ở phía thiểu số. Một lượng quần chúng đông đảo –người nghèo và nông dân –đứng ở phía tôi. Và chỉ với người nghèo, với người nông dân, ta mới có thể làm một cuộc cách mạng, không phải là giới trí thức hay thành phần trung lưu. Ai mà không đói thì không thể bắn hay được. Cuộc cách mạng của tôi phải với nông dân, vì nông dân và cho nông dân. (8) Đấy là những gì mà Mao Trạch Đông đã nói. Mao Trạch Đông là người Trung Hoa, mà người Trung Hoa là những kẻ thù của chúng tôi từ bốn ngàn năm nay. Lịch sử chúng tôi đã trưng dẫn là người Trung Hoa chỉ muốn lôi cuốn chúng tôi, hủy diệt chúng tôi, và người Trung Hoa không bao giờ đồng thuận với những gì người Việt chúng tôi nói. Chúng tôi thù ghét người Trung Hoa, ở Nam cũng như Bắc. Khi một vài người Mỹ nói rằng Hồ Chí Minh sẽ yêu cầu Trung Hoa cho binh lính can dự vào cuộc chiến nầy, tôi đã trả lời, “Anh là người khùng.” Hồ Chí Minh là một người Việt Nam, và ông ta cũng như tôi thù ghét người Tầu, và ông ta biết rõ kêu gọi người Tầu can thiệp là một sai lầm trong cuộc đời ông. Nếu Trung Hoa sang Việt Nam, tất cả chúng tôi sẽ đoàn kết lại, Nam cũng như Bắc, Cộng sản và Quốc gia, chúng tôi sẽ cùng chiến đấu chống họ, và như thế mọi vấn nạn của chúng tôi cuối cùng sẽ được giải quyết, và đất nước chúng tôi sẽ không còn chia cắt nữa. (9) Tướng Kỳ, ông nghĩ gì về Việt Cộng? Ông có nghĩa rằng đây là cuộc chiến giữa huynh đệ với nhau? Ông có coi Việt Cộng như là người anh em? Người anh em là người sẽ cùng với tôi khi tôi buồn cũng như khi tôi vui. Người anh em là người cùng suy nghĩ như tôi, mà Việt Cộng thì không suy nghĩ giống như tôi. Họ nói cùng ngôn ngữ với tôi, họ cùng chung giòng máu và một đất nước, nhưng họ không phải là người anh em của tôi. Cao lắm thì tôi tội nghiệp cho họ khi thấy họ chết. Điều đó có thể làm xúc phạm tới cô, nhưng nếu như cô đặt cùng câu hỏi đó cho người Mỹ trong cuộc nội chiến của họ, chắc họ cũng sẽ trả lời như vậy thôi. Bây giờ thì nước Mỹ đã nhất thống. Một ngày nào đó thì đất nước của tôi cũng sẽ thống nhất, như Mỹ, và tôi sẽ không còn bắn vào người mà cô gọi là anh em chúng tôi nữa, và họ cũng sẽ không còn bắn vào tôi nữa : đấy là vận mệnh của chúng tôi, và là vận mệnh mà tôi đang chiến đấu cho nó. Cho tới ngày đó, thì đừng có hỏi tôi thích họ hay không. Tôi ưu tiên dành điều nầy cho những người Âu như cô. Những người Âu như cô đã “mết” Việt Cộng. Những gì chúng làm đều là tốt đối với cô; những gì mà chúng tôi làm đều là xấu cả. Chúng tôi là những kẻ hung ác, họ là những anh hùng : đúng là một người phương Tây. Cô ngưỡng mộ họ, cô đứng về một phía. Giả như chúng tôi đánh ra Bắc, cả thế giới nổi lên chống chúng tôi. Trong khi chúng xâm nhập vào Nam, thì mọi người lại chấp nhận. Tôi thật không hiểu nỗi có phải quý vị lãng mạn hay là vì ngu xuẩn. (10) Có lẽ chỉ là sự kính trọng thôi, Tướng Kỳ ạ, chẳng hạn như kính trọng về sự can đảm, niềm tin của họ. Ông phải thừa nhận rằng họ phải có sự can trường, niềm tin nhiều lắm, mới có thể đi chân trần để chống lại xe tăng chứ. Có ai phủ nhận họ can đảm, họ có niềm tin đâu? Chắc chắn là có –nhiều là khác. Chúng tôi là người Việt Nam. Nhưng binh sĩ của chúng tôi cũng có nhiều can trường nữa chứ. Các người Âu như cô buộc tội chúng tôi là hèn nhát, tôi không hiểu là dựa trên căn bản nào: khi quý vị nhìn vào trận chiến, quý vị chỉ nhìn vào người Mỹ, chẳng bao giờ nhìn vào người Việt, như thử đây là cuộc chiến chỉ riêng của người Mỹ. Phải đấy, người Mỹ chiến đấu và chúng tôi cám ơn về điều đó. Nhưng không phải chỉ có mình họ, và nếu mà Bắc Việt không xâm nhập vào miền Nam, chúng tôi đã không cần người Mỹ. Rồi cuối cùng chúng tôi cũng có thể dàn xếp công việc “khốn kiếp” riêng của chúng tôi, không cần người Mỹ. Chúng tôi không thiếu can trường so với Việt Cộng. Ngay cá nhân tôi cũng chẳng kém can đảm so với một anh Việt Cộng. Ô, có phải là cô quá ngưỡng mộ trận tấn công vào dịp Tết của Việt Cộng. Phải thôi, đó là một cuộc tấn công thông minh và gan dạ. Tôi còn gọi đó là một cuộc tấn công đáng nể. Nhưng chúng tôi chẳng thua gì họ. Họ có nhiều kỷ luật và huấn luyện hơn chúng tôi, bởi vì họ đã được tổ chức từ 1954 lận, trong khi chúng tôi chỉ khởi sự mới ba năm trước đây thôi. (11) Tướng Kỳ, theo sự đánh giá của ông, trận tấn công Tết là một thất bại. Đó là một thất bại, bởi Việt Cộng đã tin vào những điều mà báo chí Mỹ và báo chí Việt đã tạo dựng trong nhiều năm qua: rằng chúng tôi là những kẻ hèn nhát, còn chúng là những con sư tử. Họ thua vì họ đã nghĩ rằng binh sĩ của chúng tôi không dám chống trả và dân chúng sẽ tức thời ngả theo họ. Họ thua vì họ nhận thông tin sai lạc, bởi vì họ không hiểu rằng đại đa số người dân không muốn Hồ Chí Minh hay là tôi, điều mà người dân muốn là một bát cơm. Họ thua vì họ không có người như tôi dẫn dắt. Nếu mà tôi làm kế hoạch tấn công Tết, tôi đã chiến thắng bởi vì tôi biết làm sao để xóa bỏ sự thờ ơ của dân chúng. Tôi phải đánh thức ý thức của người dân. Tôi đánh thức ý thức của người dân để họ hiểu rằng quyền lợi của họ là cần có một bát cơm. Phải làm cho họ chiến đấu cho một bát cơm, thế là không có một đội quân, bom nguyên tử nào có thể làm họ ngừng lại. Họ thất bại là bởi những người lãnh đạo của họ đã già nua với thứ cách mạng phiến loạn đã lỗi thời, họ đã xử dụng những cuốn sách đã viết ra cả trăm năm trước bởi người da trắng. Những người lãnh đạo của họ dùng thứ lý trí như người Mỹ dùng, dựa vào những cái máy điện toán, thay vì dựa vào lẽ phải thông thường. Bởi thế, lấy quân sự mà nói, thì họ thất bại vì một vài lỗi lầm ngu xuẩn. Trước tiên, họ không có đủ quân. Thứ hai, quân của họ trang bị kém hữu hiệu và kém huấn luyện. Họ không biết chiếm đóng đúng chỗ và đúng thời điểm. Thí dụ, họ đã phí thì giờ tấn công vào Tòa Đại Sứ Mỹ. Ai lại quan tâm tới Tòa Đại Sứ Mỹ? Vì sao mà phải cần dồn nhiều nổ lực và sinh mạng tại Tòa Đại Sứ Mỹ? Điều họ cần làm là phải chiếm phi trường Tân Sơn Nhứt, phải chiếm các đài phát thanh, họ phải nói với dân chúng và thúc giục dân đứng dậy: “Chúng tôi đã vào đây, ở Sài Gòn. Không còn Kỳ, không còn Thiệu, không còn bọn Mỹ nữa. Chúng tôi là chính quyền, và bây giờ chúng ta là bạn.” Tôi sẽ làm như vậy đấy. (12) Có thể là lần tới? Tướng Kỳ ơi, ông có nghĩ họ sẽ tấn công lần nữa? Chắc chắn họ sẽ tấn công. Chừng nào mà họ phục hồi được những tổn thất khủng khiếp. Khắp cả nước, họ thiệt hại chừng năm chục ngàn mạng –nhưng họ sẽ tấn công một lần nữa. Mà điều nầy sẽ xảy ra rất sớm, theo sự phán đoán của tôi, có thể là trong tháng Năm hay tháng Sáu thôi. Họ sẽ tấn công Sài Gòn, vì trận chiến quyết định là sẽ xảy ra ở Sài Gòn, không nơi nào khác. Người Mỹ đã công bố là Khe Sanh, và cho sẽ là Khe Sanh. Bọn Bắc Việt không ngu xuẩn, họ biết rất rõ rằng Khe Sanh không phải là nơi quan trọng, chẳng phải là nơi quân sự, chiến lược hay chính trị gì cả. Họ không có ý định vô bổ để biến Khe Sanh thành một Điện Biên Phủ. Họ muốn Sài Gòn, thủ đô, và dân cư. Chiến tranh sẽ quyết định ở Sài Gòn. Nhưng tôi không tin họ sẽ chiến thắng. Nếu họ thắng, điều đó có nghĩa họ đúng và tôi sai, là cuộc cách mạng của họ có chính nghĩa và không còn cần tới cuộc cách mạng của tôi nữa. Và nếu họ không thắng, là bởi để thắng họ phải cần tới một cuộc tổng nổi dậy của dân chúng. (13) Tướng Kỳ, bộ ông không mệt mỏi vì cuộc chiến tranh nầy sao? Không, quý vị là người Âu, là người Mỹ -người da trắng đã nghĩ rằng người Việt chúng tôi –Nam cũng như Bắc –mệt mỏi vì cuộc chiến nầy. Điều đó không đúng. Vì lẽ chúng tôi không hề biết tới hòa bình hay hạnh phúc; chúng tôi đã quen với cái chết; chúng tôi không sợ nó. Lấy thí dụ của tôi, tôi không nhớ tới lần đầu tiên tôi biết chiến tranh, tôi sinh ra trong chiến tranh. Tôi còn là đứa bé khi người Nhật đến đây. Thế rồi Nhật đi, người Tầu –được gọi là đồng-minh, đến. Rồi người Tầu đi, thì chiến tranh với Pháp khởi sự. Thế rồi người Pháp đi, cuộc chiến nầy bắt đầu. Mỗi ngày của chúng tôi có thể là một ngày của chết chóc. Chúng tôi sẵn sàng cho điều đó, chúng tôi là người châu Á, chính là định mệnh. Chúng tôi tin vào số mệnh, chúng tôi quen với khổ đau. Quý vị là người da trắng không hiểu điều đó. Quý vị người da trắng đã xem cuộc sống quá quan trọng, tới tuổi thọ, tới tiện nghi. Quý vị không thể hy sinh cuộc đời cho một giấc mơ. Nếu quý vị sống trong cuộc chiến như thế nầy, quý vị đã đầu hàng từ khuya rồi. (14) Ông không thích người da trắng, phải không Tướng Kỳ? Tôi không thích. Tôi vừa hãnh diện để yêu cô. Tôi vừa hãnh diện tôi là người Việt Nam, Á châu, da vàng. Tôi không bao giờ nghĩ da trắng là giống dân siêu đẳng, ngược lại là khác. Giả như tôi là người có niềm tin tôn giáo –dù tôi không tin, tôi có thể nói rằng, “Tôi là con Phật, tôi là con của Chúa, tôi là Thượng Đế. Tôi là người mà Thượng Đế sai xuống để cứu đất nước nầy, thống nhất nó lại, một ngày nào đó cho nó một vai trò nào đó ở Châu Á.” Quý vị phải nhận rằng, tương lai nằm ở đây, nơi chúng tôi, không phải nơi các người da trắng. Châu Âu đã già cỗi, mệt mỏi, mờ nhạt, và Châu Mỹ thì không nên gọi nó là “Thế Giới Mới” nữa, mà nên gọi là “Thế Giới Cổ.” Bây giờ, thời điểm của quý vị đã chấm dứt –chính vì thế mà tôi không cần quan tâm tới sự phê bình của quý vị đối với chúng tôi, và cả tôi. Hãy lấy dư luận ồn ào về câu chuyện của Tướng Loan –Tôi muốn nói về chuyện ông bắn thằng Việt Cộng. Tất nhiên là tôi khiển trách ông ta, nhưng tôi hiểu ông : động tác của ông ta là động tác của một người đã đánh mất sự bình tĩnh khi thấy nhiều đồng đội của mình đã bị giết. Nhưng tôi có cái quyền để phán xét một người Việt nầy giết một người Việt kia. Tôi không chuyển giao quyền đó cho bất cứ ai khác. Tôi không nhìn nhận kẻ khác có cái quyền đó. (15) Ông không nhìn nhận, nhưng chúng tôi vẫn làm, Tướng Kỳ ạ. Không phải kết quả nào cũng mang lại lợi ích cho ông. Ông có nhận thức là ông bị người ta ghét lắm không? Có. Xem chừng người ta luôn luôn mong điều tồi tệ nhất cho tôi, đặc biệt ở nước ngoài. Tôi còn nhớ, khi tôi được cử đi Úc, tôi thấy những tấm bích chương về tôi “Tên đồ tể, tên Sát nhân, tên Độc tài.” Nhưng khi họ nhận ra tôi không tệ đến như vậy, họ phản ứng với sự kinh ngạc: “Chúng tôi chờ đợi một tên đồ tể, nhưng rồi chúng tôi chỉ thấy anh chàng bảnh bao nhỏ bé, dễ thương.” Một tờ báo đã viết như vậy. Tôi biết là tôi bị buộc tội là đã ngưỡng mộ Hitler: thật là ngu ngốc, một ngu ngốc ấu trĩ. Chuyện bắt đầu là, một ngày nọ, khi tôi còn là Thủ tướng, tôi bị đảo chánh mỗi ngày, tôi đã la toáng lên trong cáu tiết: “Đất nước nầy cần có một Hitler.” Tôi muốn nói là cần một người mạnh. Tôi chọn Hitler để thoát khỏi sự mâu thuẫn và điên rồ kia. Thế rồi, Quốc hội Anh đã làm to chuyện lên rồi gửi một đại sứ đến hỏi tôi giải thích. Nhưng với quyền gì chứ? Quyền một giống dân da trắng? Tôi trả lời ông ta, “Nếu ông đến đây như một người bạn, tôi sẽ giải thích cho ông tất cả. Nhưng nếu ông đến đây như một đại sứ, hãy cút khỏi nơi đây; bởi vì nếu cho ông có quyền bắt tội tôi là ngưỡng mộ Hitler, nếu ông cấm tôi cái quyền chọn lựa để ngưỡng mộ Hitler, thì sớm muộn gì ông cũng sẽ tự cho mình cái quyền ép tôi phải ngưỡng mộ nữ hoàng của ông à. Và tôi không chấp nhận cái lý do đơn giản vì bà ta là nữ hoàng, và tôi nghĩ rằng những nữ hoàng, những vua, hoàng tử, công chúa kia thật là lố bịch trong một xã hội tân thời mong chờ cách mạng.” (16) Tướng Kỳ, thế thì có ai trong cõi đời nầy mà ông thán phục, trừ ông ra? Tôi không thán phục ai ngoại trừ người nghèo đang chiến đấu cho bát cơm của mình. Vậy nên, hãy dùng chữ kính trọng thay vì thán phục. Này nhé, tôi kính trọng De Gaulle, cách mà ông đã chiến đấu trong Kháng chiến để mang lại uy tín cho nước Pháp. Tôi kính trọng Churchill, cách mà ông đã chiến đấu trong Thế chiến Thứ II. Rồi Stalin, cùng lý do. Có lẽ, thay vì Stalin, tôi muốn nói là dân Nga, về tinh thần yêu nước và can đảm của họ. Hồ Chí Minh, thì tôi không biết, thật khó để phán xét về Hồ Chí Minh một cách khách quan. Và, tôi kính trọng những con gà đá của tôi khi chúng đấu. Như cô biết, tôi không phải là người giàu có, tôi chẳng sở hữu gì ngoài một trăm con gà đá. Lý do mà tôi nuôi chúng vì tôi kính trọng chúng. Và còn lý do mà tôi kính trọng chúng vì chúng can đảm. Chúng chiến đấu cho tới chết, kể cả khi đối thủ mạnh hơn, lớn hơn và dù bị mù mắt trong cú đá đầu. Có can đảm là điều quan trọng nhất trong cuộc đời, quan trọng như có một lý tưởng. Và tôi có lý tưởng. Nếu họ không giết chúng tôi, tôi sẽ chiến thắng bởi vì có can đảm và một lý tưởng, là điều quan trọng và hữu ích hơn cả văn hóa nữa. (17) Ông là người đang gặp phiền phức đó, Tướng Kỳ. Ông có thể bị mất mạng như chơi. Này, với một người như tôi chỉ có hai giải pháp thôi: chiến thắng hoặc bị tiêu diệt. Có thể là cô đúng, khi nói tôi đang gặp rắc rối. Nhưng có lẽ đúng hơn nữa nếu nói tôi là một người đầy bi kịch. Sự thật làm một người Việt Nam luôn luôn là bi kịch. Làm một người Việt Nam có nghĩa là đứng giữa sự đối chọi của hai, ba thằng khổng lồ, chúng chẳng cho cô cái “đéo” gì hết và xử dụng cô như một khẩu súng để bắn nhau: thằng Mỹ và thằng Nga, thằng Mỹ và thằng Tàu, thằng Nga và thằng Tàu. Chúng tôi là lý cớ cho sự kiêu căng của họ, chỉ nhằm tới việc thủ đắc quyền lực và quyền lợi tối cao của họ. Với sự tranh giành kiểu đó, chúng tôi rủi ro bị chèn ép không thương tiếc. Kể cả Hồ Chí Minh biết rõ sự thật trần truồng đó. Cả người Âu của cô. Mọi người đều biết. Mọi người, trừ bọn Mỹ. Thế nhưng, thử tìm cách giải thích điều này cho bọn Mỹ thì cũng khó như giải thích cho họ chủ nghĩa xã hội không phải là danh từ dơ dáy, và không có đáp số nào khác cho một thứ văn minh mà họ áp đặt lên chúng tôi. Nền văn minh của họ là nền văn minh người máy. Đó là điều bất khả để nói chuyện với bọn Mỹ, không phải vì họ không muốn nói, nhưng bởi vì họ không hiểu. Có lần tôi đã thử nói với một chuyên viên về ngoại viện. Anh ta muốn biết tại sao mà người Mỹ bị ghét quá nhiều trên thế giới hiện nay, mặc dầu với sự giúp đỡ mà họ đã mang đến. Tôi nói, “bởi vì không phải anh cho đi những gì, mà là cách anh cho như thế nào.” Và anh ta hỏi, “Vậy thì chúng tôi phải cho như thế nào?” Thế rồi tôi nói, “Tôi có thể dạy cho anh. Nhưng phải mất hàng chục, hàng chục năm lận. Tốt hơn, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tốt hơn nữa, phải có một nền văn minh hàng ngàn năm.” Anh ta không hiểu. Anh ta không thể hiểu. Anh ta là sản phẩm bị chiếm ngự bởi máy điện toán, kỹ thuật, bởi ba anh khổng lồ đã dùng người Việt chúng tôi và đất nước nhỏ bé chúng tôi như là công cụ để giành dựt nhau. Nếu như tôi không thể chiến thắng, thì điều đó là bởi một người cô đơn không thể nào thắng trong một thế giới với những thằng khổng lồ kia, với những máy móc điện toán, kỹ thuật của họ. Đó là lý do duy nhất. (18) Cám ơn Tướng Kỳ. Cám ơn cô, đã lắng nghe tôi. Cô thấy không, tôi là người cô đơn. Quá cô đơn. Thật sự cô đơn. Thật hiếm khi tôi nói chuyện với ai –tôi muốn nói những người thật sự muốn nghe tôi. Và khi điều đó xảy đến, tôi cảm thấy vui, bởi tôi thấy mình bớt cô đơn. Saigon, March, 1968 Dịch xong lúc: 8/14/2011 3:26:37 PM Nguyễn Văn Hóa
II. Phần hai (đăng phần của HV. Giàu đã đăng trên web Chuyển luân, trích dẫn và dịch một vài đoạn trong bài phỏng vần...)
Người Phu Đào Huyệt Hoàng Nguyên Nhuận (đăng ngày 28/07/2011)
Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về... Câu sấm ấy một lần nữa lại được ứng nghiệm. Nguyễn đây không phải là một người thuộc dòng dõi Nguyễn Hoàng. Nguyễn đây là Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không Quân, cựu Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. Hành động can đảm của một đứa con hoang. Chuyện phải đến đã đến, thế thôi. Quyết định về Việt Nam đón Tết Giáp Thân 2004 của Nguyễn cao Kỳ khoanh trọn một chu kỳ lịch sử vừa oai hùng, vừa oan nghiệt, nếu không của cả dân tộc thì ít ra cũng cho cá nhân và gia đình Nguyễn cao Kỳ. Cuộc chiến vì độc lập, hòa bình, thống nhất của quốc gia kết thúc ngày 30/4/1975. Lịch sử như một con tàu, đến rồi đi, nhưng thường cũng để rơi rớt lại một số người ngơ ngác ồn ào trên cả hai phía sân ga như bao giờ. Con tàu VN cũng thế. Thay vì độc lập, những người này lại muốn đất nước vẫn tiếp tục bị lệ thuộc, không Pháp, Mỹ thì cũng Nga, Trung Quốc. Thay vì hòa bình, họ lại muốn đất nước vẫn dây dưa trong một cuộc nội chiến, tiếp tục xa lìa nhau bằng những biên giới huyễn hoặc có tên là Việt Cộng và Quốc Gia, Bắc Kỳ cũ và Bắc Kỳ mới, vô thần và hữu thần, nguỵ và cách mạng. Chiến tranh kết thúc đã gần ba mươi năm nhưng họ vẫn suy nghĩ, ăn nói, hành động như năm, sáu mươi năm trước. Họ là những xác chết biết đi đang ngấp nghé sắp hàng với những người Nga đào tỵ sau năm 1917, những người Hoa chạy khỏi lục địa sau năm 1949, những người Cuba di tản năm 1959, hay với Kim chính Nhất của Bắc Hàn hôm nay. Chuyến hồi hương của Nguyễn cao Kỳ là một lát cuốc xẻng khơi sâu mộ huyệt cho những xác chết chưa chôn đó. Ðối với những người Việt chạy khỏi nước từ năm 1975, về thăm nhà hay về quê ăn Tết không còn là chuyện hiếm hoi, liều lĩnh hay mới lạ. Nhưng với những xác chết biết đi, chuyến về của Nguyễn cao Kỳ là một sự phản bội. Phản bội lại công việc kinh doanh ảo tưởng và đầu tư thù hận của những kẻ đang chờ đợi đất nước sạch bóng quân thù để giải thể chế độ đương hành và tái lập chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa. Hành động tôn vinh tưởng niệm Ngô chí sĩ hàng năm của họ nói lên cuồng vọng đó. Họ không muốn chết và không muốn cho anh em nhà Ngô siêu thăng. Sự chờ đợi này được đặt cho nhiều tên gọi nhưng tựu trung vẫn có hai đặc điểm rõ rệt. Thứ nhất, đó là một cuộc đấu tranh ủy nhiệm, viễn khiển. Người chủ chốt không trực tiếp nhúng tay vào, họ chỉ dùng gian dối, lừa mị, khủng bố, già họng xúi dục kẻ khác làm thay cho họ chuyện CCCB - chống cộng chết bỏ, hay CCCÐ - chống cộng cực đoan hoặc chỉ mấy người chủ chốt, hay cầm cu chó đái để chỉ mấy người bị lừa và bị lợi dụng. Thứ hai, họ là công cụ của những thế lực chính trị và tôn giáo quốc tế đang muốn quay trở lại VN để làm những điều mà cả trăm năm qua những thế lực này đã cố gắng làm và đã thất bại. Chuyến về quê sau gần 40 năm lang bạc kỳ hồ, lên bổng xuống trầm, đi ngang về ngược của Nguyễn cao Kỳ đã phơi bày hai đặc điểm đó. Họ đã tung ra và chạy theo những chiếc bong bóng thời sự như phục quốc, chống văn hóa vận, chống Trần Trường, thắp sáng niềm tin, tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo, chống bỏ cấm vận, chống cá tra, ủng hộ Linh Mục Nguyễn văn Lý, bảo vệ biên giới và lảnh thổ, phất cờ vàng ba sọc đỏ chống SBS-TV và tấn phong Huyền Quang-Quảng Ðộ-Tuệ Sĩ thành tam đầu chế đối kháng giải thể chế độ cộng sản. Nguyễn cao Kỳ xuất hiện như một cây kim đâm xì hơi những cái bong bóng thời sự ấy. Nguyễn cao Kỳ là cái phao cuối cùng, cái thế dựa của những xác chết biết đi, cái phao đó đã trôi theo dòng nước,cái thế dựa đó đã không còn. Năm 1966, Nguyễn cao Kỳ đã tự đào huyệt vùi lấp công danh sự nghiệp của mình khi đánh phá Phật giáo Ấn Quang, dẹp phong trào đòi hỏi Quốc Hội Lập Hiến phát xuất từ Miền Trung, làm ngựa cho Nguyễn văn Thiệu cưỡi vào Dinh Ðộc Lập. Năm 2004, từ một lãnh tụ của những người tự nhận là CCCB - CCCÐ, Nguyễn cao Kỳ trở thành phu đào huyệt cho những người chưa chịu chết, cho những cái xác biết đi. Nguyễn cao Kỳ là biểu tượng của một thứ trai thời loạn thiếu định hướng, một kẻ có lòng lạc loài. Nguyễn cao Kỳ là một đặc sản của Việt Nam thời Pháp độc quyền chống Việt Minh, và tiếp đó là một đặc sản của Miền Nam thời Hoa Kỳ độc quyền chống Việt Cộng. Ðời Nguyễn cao Kỳ thật sự lên hương từ ngày 19/6/1965, ngày mà chính Nguyễn cao Kỳ đã rửa tội cho thành Ngày Quân Lực trong buổi lễ ra mắt tại hội trường Diên Hồng, Sàigòn. Với lối rửa tội này, Tòa Ðại Sứ Mỹ đang dùng Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu để làm điều Nguyễn Khánh muốn làm nhưng chưa được: quân đội là cha, thiết lập một chính quyền quân phiệt làm bình phong cho Mỹ leo thang chiến tranh. 19/6/65 là ngày trình diện Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Nguyễn văn Thiệu làm chủ tịch, một thứ Quốc Trưởng hàm và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Nguyễn cao Kỳ làm chủ tịch, một thứ chính phủ nắm thực quyền. Buổi lễ ra mắt này khởi diễn với lời giới thiệu của ban tổ chức: Nhị vị chủ tịch bước lên sân khấu. Câu nói ấy thể hiện đúng thực chất của Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu, hai ông tướng phường chèo bước lên sân khấu để chính thức nhận lảnh vai trò những công cụ cho Hoa Kỳ độc quyền điều khiển cuộc chiến ở Việt Nam. Ðại sứ Lodge gọi Nguyễn cao Kỳ là thằng con thứ của tôi - my second son. Tướng Nguyễn chánh Thi kể rằng để điều hợp cuộc leo thang chiến tranh ở Việt Nam, TT Johnson đã tổ chức một hội nghị chiến lược ở Honolulu ngày 2/8/65, Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu được phép tham dự để nhận chỉ thị. TT Johnson ra tận phi trường nghênh đón nhị vị chủ tịch. Khi thấy Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu từ trên phi cơ bước xuống, TT Johnson đã vẫy tay reo lên: Eh boys! NCK, Phạm văn Liễu, Ngô trọng Anh và cả Lê văn Thái hay Thái Trắng vẫn còn đó cả, và có thể còn nhớ là sau khi nhận chức Chủ Tịch UBHPTƯ, Nguyễn cao Kỳ đã nhờ Liễu ra Huế đón một số người ở Huế vào nhà Ngô trọng Anh để góp ý thành lập nội các cho Nguyễn cao Kỳ. Một số anh em đồng ý hợp tác với Nguyễn cao Kỳ. Ngày hôm sau, anh Bùi tường Huân và tôi đã hẹn vào Trại Phi Long - Tân Sơn Nhất gặp Nguyễn cao Kỳ để gián tiếp xác nhận sự ủng hộ của nhóm Huế đối với Nguyễn cao Kỳ. Chúng tôi đến trong lúc Nguyễn cao Kỳ đang ăn sáng. Cà-phê sữa, mì, trứng chiên, Nguyễn cao Kỳ mặc quân phục ka-ki đà đậm, ủi láng bâng... chừng như có thể làm gương soi mặt. Lần đó, tôi nhớ tôi chỉ lưu ý Nguyễn cao Kỳ ba chuyện. Thứ nhất, phải nghĩ đến chuyện dùng lá phiếu dân chủ như một lá chắn để đương đầu với những sức ép của Mỹ và ngăn tham vọng chính trị của những tướng tá bị ra rìa rắp ranh đảo chánh. Qua kinh nghiệm bầu cử Hội Ðồng Tỉnh Thị thời Phan huy Quát, tôi nghĩ chúng tôi có thể bảo đảm thắng lợi cho Nguyễn cao Kỳ. Thứ hai, đừng quá nhu nhược với Westmoreland và Lodge. Thứ ba, phải coi chừng Nguyễn văn Thiệu, vừa thâm vừa nhát lại có nhiều tham vọng. Về điểm 1, Nguyễn cao Kỳ ngần ngừ không đưa ra một thời khóa biểu dân chủ hoá nào cả mà chỉ nói chuyện cách mạng xã hội, chống gian thương tham nhủng. Về điểm 3, Nguyễn cao Kỳ cam đoan sẽ không làm bồi Mỹ. Tôi nửa đùa nửa thật: Tôi e là họ đã chọn ai là bồi cho họ rồi, và từ đó lưu ý Nguyễn cao Kỳ về Nguyễn văn Thiệu. Tôi nhớ mãi hình ảnh Nguyễn cao Kỳ chìa bàn tay xinh như bàn tay con gái ra lật qua lật lại và nói: Anh đừng lo. Thiệu thì tôi muốn cho ở cho đi lúc nào chẳng được. Tôi là cái dù mà! Tôi gật đầu cười nhẹ: Vâng, ông là cái dù, nhưng coi chừng Thiệu có thể làm cái cán đấy... Tôi cũng nói với Nguyễn cao Kỳ là chúng tôi sẽ tránh liên hệ mật thiết với Nguyễn cao Kỳ vì tôi nghĩ Mỹ không thích những người được quần chúng ủng hộ đâu, để gián tiếp lưu ý Nguyễn cao Kỳ là chỉ còn cách công khai hóa sự ủng hộ ấy bằng bầu cử. Sau cuộc họp thượng đỉnh ở Honolulu về thì Nguyễn cao Kỳ hoàn toàn thay đổi. Không nói gì dân chủ, hiến pháp, bầu cử nữa, mà chỉ nói phải huấn luyện và giáo dục dân chủ cho dân trước, và cách mạng xã hôi trở thành xây dựng nông thôn. Cố gắng thiết thực nhất của Nguyễn cao Kỳ là tuyên bố thành lập Nội Các Chiến Tranh, lập ủy ban chống tham nhủng, Ðoàn Thanh Niên Trừ Gian, và đem Tạ Vinh bị tội gian thương Chợ Lớn ra xử bắn để tế cờ. Ðiều này lại càng làm cho Mỹ khó chịu với Nguyễn cao Kỳ hơn vì ngán Nguyễn cao Kỳ có thể điên điên không vâng lời mình, và nhất là vì chủ trương của Mỹ là dùng tư sản mại bản để khống chế kinh tế Miền Nam như người ta nuôi bệnh nhân bằng cách chuyền nước biển. Cứ nhớ lại vụ Tòa Ðại Sứ Mỹ và tay sai hè nhau đánh Tướng Nguyễn văn Vỹ khi ông thành lập Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội với tham vọng có được một chút tự túc về tài chánh và phương tiện chứ không mỗi chút mỗi ngữa tay xin Mỹ như thế nào thì đủ rõ. Chuyện gì xảy ra thì mọi người đã biết. Nguyễn cao Kỳ đã trút hết tất cả những đắng cay ấm ức đối với Hoa Kỳ và Nguyễn văn Thiệu cho ký giả Oriana Fallaci qua một buổi trò chuyện diễn ra hồi tháng 3/1968, sau vụ Tết Mậu Thân đợt 1 và trước vụ Mậu Thân đợt 2, được đăng lại trong quyển The Egotists, [Tempo Books, NY 1969, tt. 53-67]. Thông thường, mặn hết ngon, giận hết khôn, trái lại ở đây, trong cơn đắng cay ấm ức, người ta mới thấy rõ Nguyễn cao Kỳ là ai, nghĩ gì? Cảm nghĩ của Fallaci sau cuộc phỏng vấn là Nguyễn cao Kỳ đáng... " là lãnh tụ của một vùng đất thiếu lãnh tụ một cách đau đớn. Qúy vị sẽ nhận thấy điều đó khi ngỡ ngàng lắng nghe ông ta khoảng hơn 10 phút. K không phải là một thằng ngố, ông ta có điều muốn nói, và ông nói huỵch toẹt mà không sợ vạ miệng. Ðầu tiên, ông ta là một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng không phải là thứ xã hội chủ nghĩa hồng, đang tiến thối lưỡng nam giữa một đàng là cãi tạo, và một đàng là thỏa hiệp. Ông ta là một người theo xã hội chủ nghĩa Mác-xít y hệt như Hồ chí Minh. Và cũng như Hồ chí Minh, ông ta không tin vào dân chủ theo ý chúng ta (người da trắng), không tin vào tự do theo như chúng ta quan niệm. Dưới mắt ông, hạng giàu là những kẻ hư đốn đứt đuôi con nòng nọc, hạng nghèo là những kẻ hẳn nhiên vô tội; cách mạng xã hội là giải pháp duy nhất cho vấn đề Việt Nam. Ðó không phải là một cuộc cách mạng ôn hòa, cũng không phải là một cuộc cách mạng hiến chế. Ðó phải là một cuộc cách mạng bạo động, một cuộc cách mạng đẩm máu, nếu cần" (sđd. tr.56). Hãy nghe một vài đoạn đối thoại giữa Nguyễn cao Kỳ và Fallaci... (2) Fallaci: -Tướng Kỳ này, có phải ông đang nói về cách mạng không? Nguyễn cao Kỳ: -Ðã hẳn. Ðiều người Mỹ không biết là Miền Nam cần một cuộc cách mạng để ngang hàng với lý tưởng cách mạng ở Miền Bắc, để chứng tỏ không phải chỉ ở Miền Bắc mới cần công chính... Tôi không màng những cuộc bầu cử mà Mỹ đòi hỏi phải có. Hầu hết nhữg người được bầu ra ở Miền Nam không phải là những kẻ dân muốn chọn, họ không đại diện cho ai cả... Những cuộc bầu cử vừa rồi của chúng tôi là một cách phung phí thì giờ và tiền bạc, một trò hề... Tôi cũng đã ra ứng cử, đã đắc cử như một Phó Tổng Thống của một chế độ đã được chọn ra như thế, nghĩa là tôi cũng có trách nhiệm với trò hề đó. Nhưng ít ra thì tôi cũng thấy được cái xấu xa quỷ quái chỗ nào. Và tôi nói luật pháp phải thay đổi, vì những luật lệ hiện hành của chúng tôi là luật bảo vệ nhà giàu. Chúng tôi cần những luật lệ bảo vệ người nghèo. (3) Fallaci: -Tướng Kỳ này, đó chính là điều Hồ chí Minh nói, điều Việt Cộng nói. Ðó là xã hội chủ nghĩa, là Mác-xít. Nguyễn cao Kỳ: -Thì có ai chối đâu? Tôi đâu có ngán mấy chữ "xã hội chủ nghĩa". Chính người Mỹ đã làm cho mấy chữ đó trở thành xấu xa... Cô bảo tôi là một tay Mác-xít. Ðây không phải là lần đầu tiên một người Âu Tây bảo tôi như thế. Như vậy, có thể tôi là một tay Mác-xít. Thì đã sao? Tôi không hề biết Marx, Engels, hoặc bất cứ một lý thuyết gia nào gốc Âu châu. Họ lập thuyết và tôi không hơi đâu mất thì giờ với lý thuyết. Thành thật mà nói, tôi không đọc sách. Tôi cũng không xấu hổ nhận rằng tôi ít học. Sức học của tôi chưa quá trung học. Tôi nghỉ học lúc 18 tuổi khi người Pháp đóng cửa trường và đẩy chúng tôi đi đánh nhau. Tôi là một phi công, sống chết với máy bay chứ không phải với sách của Marx hay của Engels. Tôi không cần bận tâm chuyện Marx đã khám phá ra rằng nhà nghèo không cần phải nghèo mãi. Tôi không cần khám phá của Marx mới biết điều sơ đẳng đó. Tôi là người da vàng, người Á châu, tôi hiểu đất nước tôi hơn những người da trắng đã viết ra sách vở. (4) Fallaci: -Tướng Kỳ ơi, nói gì thì nói sự thật là nếu ông đọc những sách đó thì ông sẽ ý thức rằng ông đang nói những điều mà chính những người ông đang đánh nhau với cũng nói y hệt. Ông có thể cho tôi biết tại sao ông chống Cộng Sản không? Nguyễn cao Kỳ: -Tôi chỉ biết Cộng Sản trong xứ tôi thôi. Và tôi không thích thứ Cộng Sản ấy. Tôi không thích thấy một đứa con nhân danh đảng đấu tố mẹ mình. Tôi không thích một đảng nhân danh ý thức hệ để đạp đổ gia đình và những tình cảm gia tộc. Tôi không thích một xã hội trong đó mỗi người là một đảng viên. Do đó, dù tôi chống cái tự do đã gây nên hỗn độn và ngăn trở thực hiện công bằng xã hội, nhưng tôi cũng chống độc tài nữa. Tôi không biết phải nói sao về điều ấy. Có lẽ tôi nên giải thích như thế này: Tôi không ưa Công giáo và Cộng Sản lại y hệt Công giáo. Người Cộng Sản thần phục đảng y hệt như người Công giáo quỵ lụy Giáo Hội - một cách cuồng tín. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Nhưng dĩ nhiên tôi không chống Cộng khi họ phân chia tài sản, và tôi đồng ý trăm phần trăm với họ khi họ tước đất của người giàu đem phân phát cho người nghèo. Khi họ trao súng cho nông dân và bảo: Hãy đấu tranh cho một cuộc đời tốt đẹp hơn. Khi họ tước bỏ những đặc quyền đặc lợi giai cấp, khi họ nói rằng phân chia giai cấp là sai. Như Khổng Tử từng nói, chúng ta phải nâng kẻ nghèo lên và hạ người giàu đến một mức mà mọi người có thể hoàn toàn hòa hợp chung sống. (5) Fallaci: -Tướng Kỳ này, có lúc nào ông nghĩ rằng ông đã lựa chọn sai chỗ đứng không? Có bao giờ ông nghĩ rằng ông có thể hợp với Hồ chí Minh không? Nguyễn cao Kỳ: -Vâng... nếu số phần của tôi khác thì tôi đã đứng về phía ông ấy rồi. Nhưng theo ông ấy thì bây giờ tôi là gì? Tôi có thể chỉ là một cán bộ quèn câm nín trong guồng máy đảng, chẳng làm nên tích sự gì. Còn ở phía bên này, tôi là Nguyễn cao Kỳ; và tôi có thể làm được việc này việc khác. Dĩ nhiên, con ém không làm nên mùa hạ nhưng con én ít ra cũng báo hiệu mùa hạ... Ðôi khi người ta hỏi tôi: anh có muốn biết qua về Hồ chí Minh không? Thành thật mà nói tôi không muốn, và cô biết tại sao không? Vì ông ấy thuộc thế hệ khác. Dĩ nhiên ông ấy là một lãnh tụ tài ba, nhưng ông ấy già rồi. Ông ấy ngoài 7 mươi còn tôi thì mới 37... Những người như Hồ chí Minh không thuộc thế kỷ này, hệ thống chính trị của họ cũng đã lỗi thời... (6) Fallaci: -Nhưng Tướng Kỳ ơi, nếu ngày nào đây, ông thấy ông không thể thực hiện cuộc cách mạng của ông, rằng ông đã chọn lầm phe, ông có sẵn sàng nhảy qua bên kia không? Nguyễn cao Kỳ: -Không. Ðã chọn thì phải đi đến cùng. Sớm muộn gì, nếu tôi thấy tôi đã chọn nhầm thế đứng thì tôi thà chết còn hơn là đổi phe... Tôi thà chết hơn là phải thú nhận mình đã chọn lầm đường đi... (7) Fallaci: -Ông thực sự tin ông sẽ thành công, hay ông chỉ mơ ông thành công? Nguyễn cao Kỳ: -Tôi tin vào vận mạng của tôi, cho nên tôi tin tôi sẽ thành công, trừ trường hợp chúng (không phải là cộng sản) giết tôi. Nếu chúng không giết tôi thì tôi chắc thắng vì tôi không thuộc phe thiểu số. Ðại khối quần chúng - người nghèo, nông dân- ủng hộ tôi. Nguyễn cao Kỳ múa tay trong bị không phải vì Hoa Kỳ không cho phép Nguyễn cao Kỳ đổ bộ Miền Bắc hay tham dự oanh tạc. Bởi chiếc Skyrider của Nguyễn cao Kỳ chỉ đủ sức vượt vỹ tuyến ra đến Cồn Cỏ, Vĩnh Linh. Nguyễn cao Kỳ múa tay trong bị vì Hoa Kỳ và tập đoàn Nguyễn văn Thiệu không để cho Nguyễn cao Kỳ thử thời vận với cuộc cách mạng xã hội của ông. Vụ Miền Trung bùng nổ mùa Hạ 1966. Nguyễn cao Kỳ và nhóm của ông đã đội nón rơm chữa lửa bằng cách bắt nhốt tất cả những ai đòi hỏi dân chủ, hiến pháp vào tù và tổ chức bầu cử độc diễn hợp thức hóa chức Tổng Thống cho Nguyễn văn Thiệu. Nguyễn cao Kỳ đồng ý đứng phó với điều kiện các chức vụ ông đã thiết lập trong thời làm Chủ Tịch UBHPTƯ phải giữ nguyên, và ông được quyền chọn Thủ Tướng. Kẻ được ông chọn là Luật sư Nguyễn văn Lộc. Nhóm Nguyễn văn Thiệu đồng ý nhưng khi bầu cử xong rồi, Nguyễn văn Thiệu đã được hợp thức hóa thì ông trở mặt, lần lữa mãi đến ngày lễ đăng quang vẫn không chịu tấn phong Nguyễn văn Lộc. Hôm đó, Nguyễn ngọc Loan thông báo thẳng cho Nguyễn văn Thiệu biết là đâu đó trong đô thành có một chiếc xe bít bùng trên xe trí sẵn súng cối và tọa độ được điều chỉnh là trụ sở Hạ Viện, địa điểm cử hành lễ đăng quang. Nguyễn văn Thiệu không chấp nhận Nguyễn văn Lộc thì buổi lễ đăng quang coi như không có. Nguyễn văn Thiệu buộc lòng phải nhận cho Nguyễn văn Lộc làm Thủ Tướng. Cho đến khi vụ Mậu Thân xảy ra. Tất cả tay chân Nguyễn cao Kỳ bị dứt gọn ở Chợ Lớn vì "hỏa lực bạn" như Ðại Tá Văn văn Của - chỉ bị thương - Ðô Trưởng Sài Gòn-Gia Ðịnh, Trung Tá Phó quốc Trụ Giám Ðốc Thương Cảng Sài Gòn, Trung Tá Ðào bá Phước Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân Thiếu Tá Nguyễn bảo Thụy Phụ Tá Tổng giám Ðốc CSQG Nguyễn ngọc Loan và Thiếu Tá Lê ngọc Trụ Quận Trưởng Quận 5. Nguyễn ngọc Loan bị bắn gãy giò mất luôn chức Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát Quốc Gia, Lưu kim Cương kẻ trách nhiệm an ninh cho Nguyễn cao Kỳ trong trại Phi Long bỏ mạng ngoài vòng đai Tân Sơn Nhất, Nguyễn văn Lộc mất chức Thủ Tướng, Nguyễn cao Kỳ chỉ còn là một con cua bị lảy hết cọng hết càng nằm chình ình một đống bên cánh trái Dinh Ðộc Lập với hư danh Phó Tổng Thống, ăn rồi ngồi đọc truyện kiếm hiệp và truyện trinh thám. Trước ngày 30/4/75, trong khi Nguyễn văn Thiệu lủi mất rồi sau khi trút hết gánh nặng cho Nguyễn bá Cẩn, rồi Trần văn Hương và Dương văn Minh thì Nguyễn cao Kỳ nhảy ra hô hào thà chết chứ không đầu hàng... Trong khi Tướng Nguyễn khoa Nam và Tướng Lê văn Hưng chờ đợi Nguyễn cao Kỳ về Vùng 4 bắt tay hành động thì Nguyễn cao Kỳ đã... di tản chiến thuật. Bằng cách nào? Trong một bài bào trên tờ New York Times ngày 26/1/04 nhan đề Sau Nhiều Thập Niên, Một Người Có Tiếng Tăm của Sài Gòn Thăm Lại Việt Nam Với Sự Ðồng Thuận của Hoa Kỳ (After Decades, Saigon Figure Visits Vietnam With U.S. Nod) tác giả là Jane Perlez kể rằng: Trong cuốn tự truyện "Con Cầu Tự" viết chung với Marvin J. Wolf, ông Kỳ đã kể một câu chuyện không màu mè hoa hòe hoa sói về cuộc trố khỏi xứ của ông như thế này... Trong khi quân Bắc Việt đang tiến gần vào Sài Gòn thì ông đề nghị bảo vệ đô thành, không để mất một nhà, không thiệt mất một người. Nhưng khi thấy không còn ai nghe mình nữa thì ông và một số đồng sự leo lên trực thăng bay ra biển. Ông Kỳ kể rằng khi trực thăng bay đến gần hàng không mẫu hạm Midway ông đã ném khẩu súng lục bá khảm ngà do John Wayne tặng ông xuống biển. Người Mỹ thế nào cũng tước khí giới mình, ông thà tự mình làm lấy. Khi trực thăng của ông hạ cánh xong đâu đó, các thủy thủ Mỹ đã lật nhào chiếc trực thăng của ông xuống biển một cách tàn nhẫn. Nguyễn cao Kỳ kể chuyện di tản của mình như thế đó nhưng lật quyển NAM - The Vietnam Experience 1965-1975 (Tim Page & John Pimlot biên soạn, Orbis Publishing Ltd, London 1990), đến trang 562 ai cũng thấy hình ông và gia đình trên một xe buýt của Mỹ chở ra Tân Sơn Nhất. Hai lối kể chuyện di tản đó có thể khiến người ta phân vân không biết tin ai. Nhưng điều chắc chắn là Nguyễn cao Kỳ đã di tản, đã nhường câu thà chết chứ không đầu hàng cho Tướng Nguyễn khoa Nam và Tướng Lê văn Hưng đang chờ ở Vùng 4. Cuộc đời của Nguyễn cao Kỳ sang trang từ đó. Cả bài phỏng vấn của Oriana Fallaci, câu trả lời đáng ghi nhận của Nguyễn cao Kỳ có lẽ là câu này: Tôi không ưa Công giáo và Cộng Sản lại y hệt Công giáo. Người Cộng Sản thần phục đảng y hệt như người Công giáo quỵ lụy Giáo Hội - một cách cuồng tín. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Qua câu nói đó, vô hình chung Nguyễn cao Kỳ đã nói lên một sự thật lịch sử bi đát đó là Ðệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, Chiến Tranh Lạnh 1951-1989 và cái gọi làcuộc chiến chống khủng bố khởi phát từ biến cố 11/9 đến nay thực tế đã mang màu sắc một cuộc chiến tranh tôn giáo của Tây phương và do người Tây phương phát động. Cuộc chiến chống khủng bố - hay Ðệ Tứ Thế Chiến - là cuộc chiến giữa một bên là Hồi giáo, một bên là Do Thái giáo và Ki-Tô giáo, cả ba đều thờ cùng một Thiên Chúa, cả ba đều là con cháu của một tổ phụ là Abraham. Lập lại cái luận điệu của những đoàn Thập Tự Quân ngày xưa, Hitler đã lợi dụng chiến dịch ngàn năm chống Do Thái giết Giê-Su của Công giáo và Tin Lành để phát động chiến tranh, cũng như Hitler đã lợi dụng chiến dịch ngàn năm chống Chính Thống giáo của Công giáo và Tin Lành để xâm chiếm Nga. Chiến Tranh Lạnh vẫn thường được mô tả như là cuộc chiến giữa Hữu Thần của Khối Tự Do chống Vô Thần của Khối Cộng Sản. Giáo Hoàng Pius XII còn ra lệnh tuyệt thông - nghĩa là khai trừ khỏi giáo Hội để rồi phải đọa hỏa ngục - những ai theo Cộng Sản, vì họ đã phạm tội trọng Vô Thần. Hồng Y Spellman đến Việt Nam ban phép lành cho những chiến binh Mỹ lùng diệt ‘quỷ đỏ’ VC. Thực tế đó chỉ là một cuộc chiến giữa hai phe cùng đọc một Thánh Kinh, cùng thờ một Thượng Ðế, một bên là Công giáo và Tin Lành, một bên là Chính Thống giáo. Thật vậy, nếu Lenin, Stalin thực sự là những Satan quỷ đỏ phản Chúa, là những kẻ vô thần quyết tận diệt những ai thờ lạy Chúa, như Công giáo Spain và Portugal triệt hạ tín ngưỡng địa phương ở Nam Mỹ thì làm sao mà sau 70 năm thống trị của quỷ đỏ cộng sản vô thần, Nga và Romania vẫn còn 80%, Bulgaria vẫn còn 85% dân theo Chính Thống giáo, Poland vẫn còn 95% dân tự nhận là Công giáo? Như vậy thì phải chăng chỉ có những kẻ điên - hay những kẻ tưởng thiên hạ điên hết - mới bảo chống cộng là chống Satan quỷ đỏ vô thần? Cuộc trò chuyện với Oriana Fallaci diễn ra tháng 3/1968, đến bây giờ là đã 36 năm. Những lời bộc trực của Nguyễn cao Kỳ với Fallaci như tiên đoán trước chuyến về quê ăn Tết năm nay của ông. Về phương diện chính trị, chuyến đi Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ có ý nghĩa gì? Jane Perlez của tờ New York Times trong bài báo kể trên trả lời câu hỏi ấy bằng cách cho rằng chuyến về của Nguyễn cao Kỳ phù hợp với mưu định của chính quyền Bush mong muốn cải thiện bang giao Mỹ-Việt thể hiện qua những hành động cụ thể như việc chiến hạm Mỹ đến thăm Sài Gòn, Tướng Phạm văn Trà sang Mỹ gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng D. Rumsfelt và Ngoại Trưởng Colin Powell, và Phó Thủ Tướng Vũ Khoan gặp Ngoại Trưởng Colin Powell. Cải thiện bang giao Mỹ Việt cũng là điều hay cho Việt Nam trong cố gắng quân bình quan hệ với Trung Quốc. Nói thế khác, chuyến về Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ không phải là một quyết định bốc đồng thẳng ruột ngựa như tính tình của Nguyễn cao Kỳ. Cũng theo Jane Perlez, hai điều Nguyễn cao Kỳ muốn nhắn nhủ là tìm cách giảm bớt tệ nạn tham nhủng và thu hẹp hố ngăn cách giữa giàu và nghèo. Trong cuộc tiếp đón của Mặt Trận Tổ Quốc dành cho mình tại Hà Nội ngày 27/1/04, Nguyễn cao Kỳ tuyến bố: Nếu như Ðảng thực hiện được những chính sách đường lối đề ra, đưa đất nước phát triển, làm cho dân giàu nước mạnh, tôi sẵn sàng đứng lên hô: Ðảng Cộng Sản Muôn Năm. Chuyến về Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ đã làm cho những người CCCB, CCCÐ vất vả choáng váng. Nói gì cũng không ổn cả, giải thích sao cũng không xong cả. Bởi Nguyễn cao Kỳ đã làm điều họ nói nhưng họ không muốn kẻ khác làm: Tự Do! Nhất là tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do yêu cái mình yêu, tự do nói không yêu cái mình không yêu. Ðồ tễ một phút buông dao còn có thể thành Phật huống nữa là Nguyễn cao Kỳ... Ðời ai cũng thế cả. Nguyễn cao Kỳ đã có lần nghĩ đúng, có lần nghĩ sai. Ðiều quan trọng là biết mình sai. Chuyến trở lại quê hương của ông nói lên rằng ông đã nghĩ sai, và ông muốn không tiếp tục nghĩ sai nữa. Ðó là một điều can đảm, một dấu hiệu trưởng thành. Của một đứa con cầu tự, Một Người Con Phật, như tựa đề một quyển sách mới xuất bản năm ngoái của Nguyễn cao Kỳ. Ghi Chú: Trước đây, khi Nguyễn cao Kỳ chuẩn bị về nước, đám cọng kẽm cọng rau muống đã thua me gỡ bài cào bằng cách đánh Nguyễn cao Kỳ Duyên. Tờ Việt Báo ở Hoa Kỳ trong số ngày 22/1/04 có một mẩu tin như sau về phản ứng của cô con gái rượu của Tướng Râu Kẽm như sau: Nghệ Sĩ Kỳ Duyên Chia Xẻ Về Quyền Tự Do QUẬN CAM - Cũng nhân dịp Kỳ Duyên tham gia tổ chức đêm văn nghệ gây quỹ ở Washington DC vào ngày 20 tháng 2 sắp tới để giúp 2000 thuyền nhân Việt Nam vẫn còn kẹt lại tại Phi Luật Tân, phóng viên nhân tiện hỏi cô về chuyến đi của cha cô, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, về Việt Nam trong dịp tết vừa qua. Đây là những lời chia xẻ của cô trong vấn đề này: ‘Trước nhất, được sống và lớn lên trong một xã hội tự do, Kỳ Duyên hoàn toàn tôn trông sự tự do chọn lựa của mỗi cá nhân, trong đó có Bố của Kỳ Duyên. Thứ hai, trong cương vị của một người con, Kỳ Duyên rất mừng cho Bố vì ông đã đạt được nguyện vọng cuả ông là được trở về thăm lại quê hương như hàng trăm ngàn người Việt Hải Ngoại khác đã về thăm mỗi năm. Ở tuổi 73 của Bố, mà được viếng thăm quê hương trong dịp tết, về lại Sơn Tây thăm viếng mộ Bà Nội, sau 50 năm, thì đó là một sự an ủi, một niềm hạnh phúc lớn đối với Bố trong quãng đời còn lại. Cũng như Kỳ Duyên có nói với phóng viên của đài BBC tuần trước, Kỳ Duyên rất mừng cho Bố đã về thăm lại Việt Nam. Riêng đối với vai trò chính trị và những lời phát biểu của Bố, Kỳ Duyên không có ý kiến vì đó là sự tự do ngôn luận và suy nghĩ của riêng ông.’ Nhưng trên Thượng Ðế dưới cộng đồng, họ còn sợ con cóc tía nào nên bị Nguyễn cao Kỳ Duyên chặn họng nhưng tay chân họ vẫn vùng vẫy, và cô luật sư nghệ sĩ này lại cũng không chịu thua. Lần này thì cô nói thẳng ném đá dấu tay và cậy đông hiếp... con nít là thiếu giáo dục... THƯ GỬI BAN ÐẠI DIỆN CỘNG ÐỒNG Nguyễn cao Kỳ Duyên Thưa Toàn Thể Các Bác, Cô, Chú và Các Anh Chị: Trong tuần lể vừa qua, Kỳ Duyên (KD) đã nhận được những email của Ban Đại Diện Cộng Đồng ("BĐCD") ở vùng Hoa Thịnh Đốn yêu cầu ban tổ chức của buổi gây quỹ "Xin Đừng Quên Tôi" loại bỏ KD ra khỏi chương trình. Trong tinh thần kính trọng hội đoàn và những người lớn tuổi, KD đã ngỏ lời xin đến gặp BĐCD để bày tỏ tất cả những khúc mắc vì KD hoàn toàn tin tưởng đây là một sự hiểu lầm, nhưng BĐCD đã từ chối thiện chí của KD. Điều này làm KD rất ngạc nhiên. KD sinh sau đẻ muộn và lớn lên ở Mỹ nên KD vẫn cứ nghĩ rằng chúng ta không thể kết án một người trước khi cho họ một cơ hội để đối chất. Trong hiến pháp Hoa Kỳ thì "the right to self defense and the presumption of innocence until proven guilty" vẫn được coi là những quyền lợi tối cần của một xã hội tự do, nhưng có lẽ nó chỉ áp dụng cho người Mỹ? Tuy không được gặp BĐCD nhưng qua email, KD cũng được được biết rằng BĐCD phản đối sự có mặt của KD vì KD đã ủng hộ bố của KD. Về điểm này KD đã tuyên bố nhiều lần trên báo chí Việt/Mỹ cũng như trên đài truyền hình là KD ủng hộ bố của KD trong phương diện cá nhân về thăm quê hương như trăm ngàn người Việt khác hàng năm đã về. Còn vấn đề chính trị cũng như những lời tuyên bố của ông thì KD không có ý kiến vì đó là quan điểm riêng và quyền tự do ngôn luận của ông. KD không có ý kiến vì từ trước đến nay lập trường của KD vẫn chỉ là muốn làm một người nghệ sĩ thuần túy. Ngoài những câu chuyện vui để đem lại những nụ cười cho khán giả thì KD chưa bao giờ phát biểu tư tưởng về những vấn đề chính trị quan trọng khác như abortion, equal rights, human rights v.v. KD khẳng định rằng, ngày nào KD còn làm một người nghệ sĩ thì KD sẽ không dính đến vấn đề chính trị.. Nhưng cũng nhân dịp này KD xin hỏi ý kiến những bậc thượng trưởng trong BĐCD để học hỏi thêm về cách cư sử (sic) và đạo làm người. Thưa các bác, trong văn hoá Việt Nam chúng ta đặt trọng nhất là năm chữ trung, hiếu, lễ, nghĩa, tín. Và nhất là với đạo làm con thì chữ hiếu phải đi đầu. Theo cháu được biết thì thủ đoạn độc ác nhất và dã man nhất của cộng sản mà chúng ta lên án là họ đã bỏ đi nền tảng của gia đình bằng cách bắt con cái phải tố khổ bố mẹ, ném đá, kết tội, hoặc từ bỏ bố mẹ.. Sở dĩ chúng ta bỏ nước ra đi vì chúng ta không đồng ý với chủ nghĩa "vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo" của cộng sản. Trong trường hợp của cháu thì các bác nghĩ rằng cháu phải làm gì? Phải chăng cháu cũng nên tố khổ bố cháu? Nên kết tội, từ bố cháu, hoặc có những lời nói vô lễ, thất kính với bố cháu? Cháu xin các bác hãy trả lời cho cháu, vì bài học này không phải chỉ dành riêng cho cháu mà còn cho cả thế hệ trẻ tại hải ngoại trong đó có cả chính con cái của các bác. Trong phiên họp Chủ Nhật 15 tháng 2 vừa rồi với LS Trịnh Hội, BĐCD đã công nhận rằng KD không làm điều gì sai quấy cả tuy nhiên vì những việc làm của bố của KD mà BĐCD không đồng ý cho KD góp mặt trong công cuộc từ thiện này. Một lần nữa, KD lại rất bỡ ngỡ. KD cứ nghĩ theo đường lối tự do là trên 21 tuổi thì ai làm người ấy chịu, nên KD không hiểu tại sao BĐCD lại phản đối KD hoặc giả BĐCD chưa (sic) quen được lề lối của cộng sản là phải duyệt và xét lý lịch của ba đời? Kỳ Duyên xin trân trọng kính chào và cám ơn quý vị..
|
© copyright giaodiem.us | 2009