đăng ngày: 15.7.2011
|
|
|
Chuyện “sư giả” và chế độ giả
(hình: VnExpress.net) Sáng nay (15/7/11), tôi đọc được bản tin về chuyện “sư giả” đăng trên vnexpress.net. Sự “giả” trong mọi lãnh vực đã trở thành hiện tượng phổ biến dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam : giả danh, giả bộ, giả dối, giả nhân giã nghĩa, bằng giả, “học giả”, thi giả, hàng giả, thực phẩm giả, thạc sĩ giả, tiến sĩ giả…thậm chí người ta còn đề cập đến chế độ chính trị giả. Như vậy, “sư giả” không hẳn là một hiện tượng khác thường! Bản tin nói về một sư nữ “giả” làm nhà tu đi ăn xin, nhưng không phải là đi ăn xin thực phẩm mà chỉ nhận tiền thôi, có nội dung như sau: “Cảnh giác với sư giả đi khất thực (nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/07/canh-giac-voi-su-gia-di-khat-thuc/) Hàng chục năm nay, hình ảnh nhà sư cầm chiếc bát đồng đi khất thực trên đường đã trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, Thành hội Phật giáo Việt Nam khuyến cáo đa phần sư đi khất thực là sư giả. Buổi sáng trên đường Sư Vạn Hạnh (quận 10, TP HCM), một sư cô mặc áo cà sa vàng nâu, tay cầm bát đồng, chuỗi hạt và cây gậy nâu, chân đi dép lào, khoan thai chậm rãi bước đi. Cứ đi được một đoạn, sư cô lại quỳ xuống giữa đường cúi đầu chạm đất. Khi người dân cho tiền vào chiếc bát đồng, sư lại tiếp tục bước đi. Ni cô tự xưng pháp danh là Thích Nữ Liên Nghiêm, khoảng 29 tuổi. Tay chỉ lên trời và bảo: "Ở chùa trên núi Cấm, tỉnh An Giang, mới xuống đây hôm qua". Tuy nhiên khi được hỏi về giấy giới thiệu của Hội Phật giáo và mục đích của việc khất thực thì sư cô chỉ ậm ừ ngạc nhiên: "Giấy nào? Mình làm mọi thứ là từ tâm, có Phật biết, không cần ai biết...". Thấy sư mồ hôi nhễ nhại, bước đi khoan thai, mặt cúi xuống đất, từ các em học sinh, bác xe ôm, bà bán vé số cũng đứng lại cho tiền. Theo quan sát của VnExpress.net, cứ khoảng 5 phút lại có người lại gần bố thí, ít thì 5.000 đến 10.000, nhiều thì 20.000 đến 50.000 đồng. Sư cô đứng dậy, ngước mắt lên trời thở, miệng "Nam mô ai đà Phật" rồi lại gom tiền bỏ vào tay nải và đi. Đến 11 giờ trưa, ở ngã tư Sư Vạn Hạnh - Lý Thái Tổ có một thanh niên đi xe máy đến đợi sẵn và sư cô trèo tót lên xe rồi lao đi mất dạng…” Ở miền Nam, trước tháng 4/1975, người ta gọi các nhà sư đầu trần, chân đất, mặt nghiêm trang cúi xuống không nhìn ngang liếc dọc, tay cầm bình bát lặng lẽ đi qua các con đường nơi phố thị… là những nhà sư đi khất thực. Họ là những tu sĩ Phật giáo thuộc phái Tiểu Thừa. Hiện tượng nhà sư đi khất thực không phải là quá phổ biến dưới chế độ miền Nam, nhưng thỉnh thoảng ta vẫn thấy, gặp họ ở một góc đường phố nào đó. Có khi sư khất thực chỉ đi một mình, có khi là hai người. Dân chúng gặp họ với đôi mắt nhìn thản nhiên, vì dưới một xã hội tự do, ai cũng biết đó là những nhà sư chọn con đường đi tu khổ hạnh, không phê bình mà cũng không xót thương. Dân chúng kính trọng họ một cách tự nhiên, tùy theo thiện tâm của mỗi người, có khi họ cúng dâng trái cây, đồ ăn chay, có khi là đồ ăn mặn. Trên nguyên tắc tu dưỡng, nhà sư khất thực không từ chối một cái gì. Vì ý thức về hạnh nguyện của những nhà sư khất thực, mà dân chúng không ai cúng dường tiền bạc hay của cải. Ở miền Nam Việt Nam là như thế, nhưng ở các nước như Thái Lan, Miến Điện, Cămpuchia..thì hiện tượng nhà sư khất thực rất phổ biến, vì các quốc gia này là những nước có tiếng là sùng đạo Phật (phái Tiểu Thừa), và không ai gọi họ là những nhà “sư giả” bao giờ. “Sư giả” là một danh xưng và là hiện tượng chỉ có ở Việt Nam ngày nay. Giả ở đây là giả danh, không phải là sư mà giả đóng làm một nhà sư khất thực, với mục đích đi xin tiền. Theo bản tin, trung bình cứ 5 phút, “sư giả” xin được là 10.000 đồng (theo bản tin, có khi nhiều hơn đến 50 ngàn đồng!), vậy một giờ “sư giả” thu được 120.000 đồng. Nếu đi ăn xin trọn ngày chừng 10 tiếng có thể kiếm được đến 1 triệu 200 ngàn tiền Đồng (?). Một tháng có thể kiếm ngót nghét đến hơn 30 triệu đồng! Nhưng cứ bình tâm mà xét, ta thấy đây không phải là một hiện tượng của tôn giáo suy đồi. Hiện tượng tôn giáo suy đồi là khi nhà sư Phật giáo đi tu mà không ăn chay chỉ thích ăn mặn, thậm chí ăn thịt chó mà khen là thơm ngon, ngày tụng kinh gõ mõ, tôi nhậu bia rượu, thông dâm la liệt với phụ nữ. Nhà sư mà chỉ đua nhau mua, cỡi xe máy loại mắc tiền máy mới mạnh chạy mới mau, nếu được ngồi lái “xế hộp” càng tốt. Hoặc giã, đi tu mà tìm mọi phương kế kinh tài, nhận tiền cúng dường của thập phương càng nhiều càng tốt để làm giàu. Khi đã dư giã tiền bạc thì xây nhà cao cửa lớn cho bà con gia đình, thân nhân đứng tên. Ta có thể cho rằng các hiện tượng suy đồi này là do nghiệp quả của mỗi cá nhân tạo ra. Ai gây nhân nào gặp quả nấy, ai làm nấy chịu. Vậy nên, hiện tượng tôn giáo suy đồi tệ hại, nghiêm trọng hơn… là khi một tôn giáo đã bị đoàn ngũ hóa, nói cho đúng là bị chính trị hóa. Tôn giáo trở thành công cụ của bộ máy chính quyền. Thậm chí là của một chính quyền trấn áp dân chúng. Khi một tôn giáo đã bị chính trị hóa rồi, tất nhiên, hiện tượng nhà sư “giả” đi xin tiền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện lặt vặt. Bởi từ quyền lực chính trị, một tôn giáo đã chính-trị-hóa những nhà sư có quyền có thể đi “ăn mày” một cách có hệ thống, có tổ chức, tinh vi hơn… không ai cần phải đóng vai làm nhà “sư giả” khốn đốn đi ăn xin ngoài đường.
(hình: open source's internet) Phóng viên Thi Ngoan của VnExpress –người viết bản tin này, đã bỏ công đi trao đổi với Đại đức Thích Phước Nguyên, rồi đến Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP HCM “cùng” khẳng định, từ sau năm 1975 việc khất thực của nhà sư gần như không còn và không được cấp phép nữa. Câu trả lời trên còn hàm nghĩa là ai đi tu theo phái Phật giáo Tiểu Thừa là bất hợp pháp. Nhưng, ta thử đặt ra câu hỏi: dưới hình thức thực hành tôn giáo hợp pháp với hình ảnh, Ban Tôn giáo chính phủ bỏ tiền ra xây một ngôi chùa thật nguy nga, đồ sộ, chung quanh sân chùa đặt hàng chục thùng phước sương để nhận tiền “cúng dường” của thí chủ thập phương có phải là một hình thức đi xin tiền hay không? Và, nếu đây là hình thức không trái với Phật Pháp thì hành động làm “sư giả” (cũng có thể là họ tu thật) lặn lội đi xin tiền trên đường phố của một cá nhân nào đó khác nhau ở chỗ nào!?. Ở trên, tôi có viết, ở xã hội Việt Nam ngày nay, “sự giả” xuất hiện trong mọi lãnh vực, kể cả trong lãnh vực cầm quyền: Một bí thư tỉnh ủy, một bộ trưởng, một thứ trưởng, một cấp chủ tịch tỉnh, thậm chí đến cả ông thủ tướng.. để tạo một ảo tưởng trong dư luận là chức vụ mà mình nắm giữ rất xứng đáng đặt ngang hàng với các nhân vật của các quốc gia tân tiến khác, vì mình cũng có bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ... (dù lại là bằng giả). Tuy nhiên, đã có không biết bao nhiêu trường hợp người ta đã khui ra là các cán bộ cao cấp của nhà nước CHXHCN Việt Nam có bằng giả và học trường dỏm. Không khác gì với tinh thần người “dốt ưa khoe chữ”, nên giờ đây họ lại tìm cách hợp thức hóa bằng tiến sĩ giả của mình bằng hiện tượng mà Giáo sư Y khoa Nguyễn Văn Tuấn gọi là “tiến-sĩ-hóa” (‘doctorization’). Ông Tuấn phân tích hiện tượng này như sau: “Tiến sĩ hóa ở đây phải hiểu theo nghĩa hợp thức hóa văn bằng tiến sĩ bằng mọi cách cho các quan chức trong bộ máy công quyền. Tiến sĩ hóa cũng có thể hiểu là nâng cấp bằng cách thay đổi tên gọi. Chúng ta biết trước đây có bằng phó tiến sĩ (tương đương với MPhil hay MSc (research), chứ không thể xem là tương đương với PhD của các đại học phương Tây được), vậy mà đùng một cái, người ta ra qui định gọi tất cả là tiến sĩ, tương đương với PhD ở phương Tây! Trong tiếng Anh, chữ doctor còn là một động từ, có nghĩa là làm giả, giả tạo (như he doctored a document – hắn làm giả tài liệu); do đó, tiến sĩ hóa cũng có thể hiểu là làm giả tiến sĩ, qua mua bằng cấp. Dù hiểu theo nghĩa nào, tiến sĩ hóa là một diễn tiến tiêu cực trong hệ thống giáo dục, vì nó chẳng những làm biến dạng mà còn tầm thường hóa một nền học thuật…” (Nguồn: http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1295-tien-si-hoa-doctorization ) Cái “giả” này mới thật sự là cái “giả” đáng sợ. Bởi cán bộ công chức chính phủ là những người phục vụ cho dân, cho quốc gia mà còn muốn mang “nhân cách giả”, thì sớm muộn gì họ cũng sẵn sàng hại dân hại nước. Nhưng “tiến-sĩ-hóa” không thể gọi là hiện tượng của vài cá nhân, như hiện tượng một vài “sư giả” hành khất đi xin tiền, mà là một hiện tượng tập thể của những kẻ cầm quyền –có nghĩa là cả một chế độ. Một chế độ cố mang danh giả “xã hội chủ nghĩa”, nhưng thực chất là một chế độ “tư bản đỏ rừng rú”. Một chế độ vừa giả hiệu về danh nghĩa và bản chất. Cho nên, nếu ta muốn xóa bỏ cái “giả” cũ để xây dựng cái “thực” mới thì trước hết, chế độ đó phải cáo chung.
Nguyễn Văn Hóa Friday, July 15, 2011
|
© copyright giaodiem.us | 2009