đăng ngày: 25.6.2011

ß Trờ về

 

 

 

 

 

 

 

Nhân được tin nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã đến tị nạn trên đất Mỹ

 nguyễn văn hóa

Sáng hôm nay, truy cập internet, tôi đọc được tin chị Trần Khải Thanh Thủy đã được đến Mỹ để tị nạn chính trị. Không những có con gái chị đang du học từ Âu châu đáp máy bay đến phi trường San Francisco để đón mừng mẹ, mà còn có cả bà dân biểu liên bang Hoa Kỳ Loretta Sanchez nữa. Không cần nói ra, ai cũng biết bà dân biểu Loretta đã âm thầm vận động cho chị Thanh Thủy thoát được ngục tù cộng sản Việt Nam, được định cư ở một đất nước tự do và dân chủ vào hàng nhất thế giới này.

Biết được tin này, chúng ta –những người Việt đã bỏ nước ra đi, bắt đầu từ hơn 30 năm qua và hiện tại, có thể vẫn còn có nhiều nổ lực để vượt thoát khỏi chế độ độc tài toàn trị, vui mừng cho bản thân chị Trần Khải Thanh Thủy. Nói cho đúng, thật ra tâm trạng của chúng ta cũng có nhiều phức tạp. Phức tạp xuất phát từ tâm lý vừa mừng vừa tiếc: Mừng ở chỗ, một nữ lưu đã đối đầu một cách can đảm với công an cộng sản trong nhà tù, còn là một nhà văn có tài, đã dùng ngòi bút của mình chống lại chế độ độc tài được thoát nạn; tiếc là nghĩ nếu như những nữ lưu xuất sắc, can trường như chị ra đi khỏi nước, thì chỉ làm cho Đảng Cộng sản VN thở phào nhẹ nhõm, công an mật vụ bớt đi một gánh nặng tâm trí đối phó với một kẻ thù kiên cường; trong khi đó công cuộc đấu tranh trực diện cho dân chủ ở Việt Nam mất đi một chiến sĩ vào hàng cự phách.

Tất nhiên, tôi cũng nằm trong tâm trạng “mừng-tiếc” lẫn lộn đó. Và, không gì hơn để chào mừng chị đến được đất nước tự do dân chủ, tôi đọc lại một số bài viết của chị đã được phổ biến trên Net từ nhiều năm qua.

Cũng như một số nhà đấu tranh chính trị cho dân chủ tại Việt Nam, chị Trần Khải Thanh Thủy đã dùng ngòi bút của mình để chiến đấu. Đặc điểm trong các nội dung thơ văn của mình, chị luôn nhắm tới hình tượng “Cụ Hồ”. Nhưng, chúng ta tự hỏi vì sao chị cố tình chiếu cố tới cụ Hồ? Điều đó hẳn đã sáng tỏ cho nhiều người. Cho đến nay, mọi người trên khắp thế giới ai cũng thấy rõ như ban ngày: Cụ Hồ nguyên là một cán bộ tình báo của Đệ Tam Quốc tế. Một cán bộ xuất sắc và lập được nhiều thành tích to lớn. Song, điều đáng ngợi khen là cụ vừa hành động phục vụ quốc tế cộng sản, cụ lại phối hợp với mục tiêu đấu tranh giải thực cho Việt Nam. Điều đáng buồn đau là cụ đã dùng nhiều thủ đoạn tàn ác để được độc quyền “giải thực” bằng cách thanh toán tất cả mọi đảng phải không cộng sản, những người dân tộc yêu nước; tệ hơn nữa, cụ và Đảng của cụ đã cúi rạp mình nhận mọi khí tài được cung cấp từ hai nước cộng sản đầu sỏ để giết hại người dân trong một nước, thay vì dùng những biện pháp chính trị và hòa bình để tranh thủ cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất trong hòa bình. Không may, thành tích của cụ Hồ đã tạo ra một tiền lệ và mẫu mực cho Đảng Cộng sản VN hiện nay: độc quyền cai trị trong thối nát, tham nhũng, phá hoại đất nước ( nhờ vào sách lược cấu kết với mọi thế lực bành trướng nước ngoài: thù là bạn và bạn cũng là thù) chỉ nhằm cho mục đích “độc quyền cai trị” đó. Cho nên, bất cứ người Việt yêu nước nào cũng thấy được: đụng tới cụ Hồ là một điều “taboo”, là làm cho nền móng “biệt thự Đảng” phải lung lay, sụp đổ. Thời quân chủ, đụng tới Vua người ta gọi là phạm tội “khi quân”, là tội phải bị chém đầu. Thế mà, Trần Khải Thanh Thủy đã ngang nghiên đụng tới “taboo Hồ Chí Minh”.

Tuy vậy, Trần Khải Thanh Thủy không hề viết về Hồ Chí Minh một cách hằn học, hận thù. Chị dí dỏm hóa cụ Hồ, chị dựng-nhân-cách cụ Hồ một cách rất thực, rất người. Đọc chị, ai cũng thấy vui vui, có khi nở một nụ cười sảng khoái, nụ cười tội nghiệp thay vì một nụ cười chua cay, khinh bỉ. Cái độc đáo của văn chương Trần Khải Thanh Thủy là ở chỗ đó.

Thời đại ngày nay là một thời đại của thông tin toàn cầu, nhân loại hóa phương tiện thông tin. Điều quan trọng nhất của thông tin toàn cầu, theo tôi, là đã phá vỡ khái niệm giai cấp –một đặc quyền của giai cấp. Bởi, bất cứ ai trên hành tinh này cũng đều có cơ hội, có phương tiện (có khi không phải do mình sở hữu) vẫn có thể thoải mái tiếp cận với thông tin. Đó là phương tiện Internet.

Hoàn cảnh của chị Trần Khải Thanh Thủy, cũng như hàng triệu người Việt khác -đã thừa hưởng “phương tiện toàn cầu đại chúng” đó, nhờ vậy chị có được sự bùng vỡ hiểu biết về con người thật của cụ Hồ, của Đảng Cộng sản VN. Chị nhìn nhận và thực chứng sự kiện đó:

“…Tuy nhiên thế hệ trẻ - những người một thời đã phải nhai nhải hát bài hát "Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng, ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em Việt Nam" nay đã thành thanh niên, trung niên ưa tìm tòi khám phá, thích vượt qua những bức tường lửa ken dày để lướt trên mạng, đọc lại các tác phẩm của người, lại không dễ dàng bị thuyết phục, nếu không nói là quá thất vọng về thần tượng của dân tộc mình.

Trong hàng ngũ “công thần, lập quốc” của lãnh đạo Việt Nam, người được đào tạo cơ bản nhất là đại tướng Võ Nguyên Giáp, từng là giáo viên trường tiểu học Thăng Long, còn lại đúng như nhận định của nhà văn Vũ Thư Hiên: "Người dân thất học, còn lãnh đạo khinh học". Không kể đến thành phần bất hảo như Đỗ Mười là dân nhà quê cục cằn, chuyên nghề hoạn lợn, đã từng bị dân làng vác đòn gánh đuổi theo đánh cho chí chết... Gã chột Lê Đức Anh vốn là cai đồn điền, đã nhiều lần đánh đập anh em công nhân, mật báo quan thầy lĩnh thưởng, nhờ khai man lý lịch mà leo cao, luồn sâu... lên tận chức chủ tịch nước. Bộ trưởng bộ công an Trần Quốc Hoàn xuất thân từ kẻ trộm vặt, khi bị bắt, nhờ trà trộn vào đám tù chính trị, phục dịch Lê Đức Thọ trong tù, mà trở thành tay sai của đảng, được cất nhắc, đề bạt...

Chính vì nền tảng học vấn thấp, khó tạo ra tư tưởng của chính mình, nên ngày nay ta bắt gặp nhan nhản các câu đạo trích của cụ trong các tư liệu để lại.

Cụ Hồ - ngôi sao sáng giá nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam lại chỉ tốt nghiệp tiểu học Pháp Việt Đông Ba (Huế) năm học 1906-1907, khi 17 tuổi. Chưa đầy một năm sau đó tháng 5-1908 đã bị đuổi khỏi trường Quốc học Huế...

Ai cũng rõ “thời niên thiếu của cụ Hồ” hết sức bi thảm, đáng thương tâm. Cha làm quan ở cấp khá, nhưng lại nghiện rượu nặng rủi ro đánh chết người, bị hạ cấp quan, rồi bị cho về vườn… nên gia đạo của cụ Hồ túng bấn. Mẹ cụ chết trong cô đơn nghèo nàn, khổ đau, em cụ sơ sanh cũng chết vì thiếu dinh dưỡng. Bản thân cụ bị đuổi học vì tham gia biểu tình chống thực dân, cụ phải lang thang khắp nẻo. Tuổi thơ của cụ Hồ là tuổi thơ của khốn khổ, đọa đày. Bởi thế, có nhiều nhà sử học hiện nay đã chứng minh ngày xưa cụ Hồ xuất dương là nhằm vào mục đích “cứu gia đình, cứu bản thân” mình chứ không phải là “tìm đường cứu nước” đã phản ánh hoàn toàn vào sự thật. Tuổi thơ cụ Hồ là thế đó, cho nên lớn lên, vốn liếng học hành của cụ đạt được như thế cũng tạm gọi là “khá”, không nên chê trách làm gì.

Điều đáng chê trách là khi được đệ tử tôn xưng là “cha già dân tộc”, làm lãnh tụ một Đảng ở tuổi 46, Trần Khải Thanh Thủy đã “khám phá” ra cụ đã “đạo trích” thơ văn. (Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ: sự thể này vẫn còn là vấn nạn, bởi chưa hẳn chính bản thân cụ Hồ muốn vậy, mà do chủ ý của các đảng viên cộng sản cao cấp quẩn quanh bên cụ, muốn dùng cụ như một phương tiện nhằm mục tiêu tuyên truyền chính trị.)

Thành tích “đạo trích” thơ văn hay làm thơ dỏm của cụ Hồ, theo Trần Khải Thanh Thủy, không chỉ ở mức độ “lớn”, bài bản, có hệ thống như “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật Ký Trong Tù), làm báo Paria (Người Cùng Khổ) ở Paris, Pháp v.v…mà còn ở mức độ “ti tí” như trong các bài thơ 3 chữ, 5 chữ…

Trong bài thơ “Hòn Đá” của cụ Hồ có những câu:

Hòn đá to,
Hòn đá nặng
Một người nhắc
Nhắc không đặng

Hòn đá nặng
Hòn đá bền
Nhiều người nhắc,
Nhắc lên đặng.

Và "Bài ca du kích":

Ào ào ào
Già nào
Trẻ nào
Lính nào
dân nào,
đàn ông nào,
đàn bà nào
Ai có súng dùng súng
Ai có dao dùng dao
Người có cào dùng cào
Không có gươm thì dùng cuốc, xẻng gậy gộc...

Thơ như thế chưa hẳn là những bài thơ quá dỡ. Bởi qua ngòi bút luận thơ tài tình của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc, bài thơ “Con Cóc” (Con cóc trong hang; con cóc nhảy ra; con cóc nhảy ra; con cóc ngồi đó…) cũng có thể cho là bài thơ hay mà !. Tuy vậy, trong tâm lý đời thường của một người bình dân Việt khi đọc lên các câu thơ với nội dung như thế có thể họ bĩu môi, bởi vì họ sẽ tự so sánh trong ca dao Việt Nam vốn xuất phát từ đồng quê, ruộng vườn đã có những bài ca dao hay và sâu sắc hơn, như:

Cóc chết bỏ nhái mồ côi,

Chẫu ngồi chẫu khóc, chàng ôi là chàng.

Ễnh ương đánh lệnh đã vang,

Tiền đâu mà giả (trả) nợ làng nghé ôi!..

Hay lãng mạn và tình tứ như:

Đêm khuya ra đứng bờ ao,

Trông cá cá lặn,

Trông sao sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhên ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai.

Buồn trông chênh chếc sao mai,

Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ

Nhưng, những câu ca dao tuyệt vời như trên vốn là những bài thơ vô danh, trong khi những bài thơ “kiểu con cóc” của cụ Hồ là những bài thơ ký tên của lãnh tụ thiên tài. Chưa đủ, Trần Khải Thanh Thủy đã tiết lộ bài thơ “Tặng đồng chí Trần Canh” (một cố vấn quân sự Đảng cộng sản Trung Quốc) lại “đạo trích” từ bài thơ Đường của Vương Hàn.

Ta thử so sánh:

Sâm banh, rượu ngọt, chén lưu ly

Toan nhắp tỳ bà ngựa giục đi

 

(Tặng đồng chí Trần Canh , Cụ Hồ) 

 

Bồ đào rượu ngọt chén lưu ly

Toan nhắp tỳ bà đã giục đi 

 

("Lương Châu Từ " của Vương Hàn)

Từ những cái đáng trách “nhỏ” về cụ Hồ, Trần Khải Thanh Thủy nêu ra những cái đáng trách “to lớn”: Dùng bút hiệu lạ (Trần Dân Tiên), viết sách tự khen mình để cho hậu thế tôn vinh, chị gọi đó là hành động “mạo phạm tới liệt tổ, liệt tông”:

“Ấy thế, khi viết chuyện mình để hậu thế tôn vinh, Hồ Chí Minh còn mạo phạm tới liệt tổ, liệt tông khi dám so sánh mình với những người anh hùng dân tộc: "Bác Hồ được nhân dân ta coi là Cha già dân tộc, bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Đạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa".

Thật tình mà nói, trong 15 bài viết được phổ biến trên mạng, tôi thích nhất là những bài thơ về cụ Hồ dí dỏm của Trần Khải Thanh Thủy. Thí dụ : nhân dịp sinh nhật cụ Hồ năm 2006 (19/5/1890-19/5/2006), chị làm bài thơ 10 đoạn ví von về hai nhân vật lịch sử “Bác Hồ và Bác Tôn” như sau:

Nếu đời không có Sinh Cung

Dân đâu phải họa Hồ Khùng... chí Minh

Mải mê Bác chỉ làm tình

Bước chân trải khắp... thân hình chị em

II 

Bác Hồ là lão già dê

Năm thê, bảy thiếp, ra bề... trai tân

Sự nghiệp "Kách mệnh" trong quần

Chúng con... lớn... giữa hai chân Bác Hồ

 

III 

Bác Hồ thuở nhỏ học Nho

Cùng chung đèn sách với "lò" Bác Tôn

Trong lớp Bác chẳng làm ồn

Mải mê Bác bắt mất... “hồn” chị em

Thế rồi từ đó đêm đêm

Sự nghiệp "Kách mệnh" trèo lên mặt giường

Đảng ta chỉ một con đường

Vùng lên! Chăn gối, chiếu giường... vùng lên!

 

Chị em nằm dưới ngợi khen

"Việt Nam đẹp nhất có tên... cu Hồ"

 

IV 

Bác Hồ có một con chim

Bác nhờ chị Định đi tìm cái lông.

Nỗi băn khoăn mãi chất chồng

"Lông đen, chim đỏ... rõ dòng Chí Minh"

 

Thảo nào Bác đến đa tình

Minh Khai, cùng với Tuyết Minh... vợ đời

Ra đi cuối đất cùng trời

Bao nhiêu con vãi, con rơi, vợ ngày (2)

 

Bao nàng Kiều chết bỏ thây

Tôn vinh Bác, lũ dân cày ngợi ca:

"Bác là cha của mọi nhà

Là ông triệu cháu, là... bà con xa"

 

Bác ơi tim Bác bao la

Ôm trọn phụ nữ nước Nga, nước mình

Nhớ thương con dán tấm hình

Vào nơi tôn kính... cửa mình... Bác ôi (!)

 

Cả đời Bác sống đảo điên

Đảng tôn thờ Bác thành tiên giữa trần

Ban ngày Bác hoá thánh thần

Ban đêm bác lại tần mần như ma

 

Ban ngày Bác mãi làm Cha

Ban đêm Bác lại “rầy rà như con”

Chị em như giữa đảo Côn

Lôn rộng bát ngát bồn chồn... Bác vô! (2)

 

VI 

Bác Hồ cùng với bác Tôn

Rủ nhau ra suối nhìn... Minh Khai

Nhìn xong tấm tắc khen hoài

Tóc nàng quả thật rậm dài làm sao ?!!!!

Cứ tưởng nàng ấy vô mao??

Nào hay rậm rạp khác nào Castro...

 

Ghé tai Tôn nịnh anh Hồ

"Râu Bác cũng giống "râu" đồ Minh Khai"

Hồ rằng: "Chú nói khí sai

Thực ra... râu nó còn dài hơn tôi"

 

Bác Tôn ngắm nghía một hồi

"Bác nói chí phải, là tôi nhìn lầm

Bác trông thanh thoát bội phần

Castro rậm, xoắn, ngó dâm hơn nhiều”.

 

Bác Hồ ra vẻ đăm chiêu

Con đường "kách mệnh" cần nhiều hy sinh

"Minh Khai không giữ cửa mình

Lập ngay hội nghị... phê bình, nghe chưa"?

 

VII 

Bỗng nghe một tiếng xọet ngang

Bác Hồ đang sống chuyển sang... từ trần

Bỗng đâu một tiếng xoẹt gần

Bác Hồ đang sống... từ trần... chuyển sang

 

Chứa chan nước mắt hai hàng

Xót thương goá phụ, lỡ làng cô nhi

Thế là Bác đã ra đi

Chị em thương xót tỉ ti... khóc gào

"Bác ơi bác nghĩ thế nào

Quảng trường không ở, lại nhào ra lăng"?

 

Bác rằng Bác chẳng mần răng

Làm "Cha" không thích, ra lăng... chộp rình

Đứa nào không biết giữ mình

Xin đừng dại trách thằng... mình chí hô (3)

 

VIII 

Vào trong lăng bác âm u

Chị em phụ nữ... hu hu... thét gào

"Ông là đứa mả mẹ nào

Sao không hạ xuống để đào đất chôn" ?

 

Chửi cho đến tận tông môn

Xác thây không rữa, mãi còn lừa dân

Chửi cho đến cả vạn lần

Khắp trên thế giới xa gần đều nghe

 

"Rằng ông một lão già dê

Vợ rơi con vãi: ba bề, bốn bên

Vẫn còn ra dáng bề trên

Làm gương cho đám cháu hiền, con ngoan

 

Cảnh nhà nheo nhóc lầm than

Nhờ bao mưu kế gian thần, đảo điên

Lưu đầy đến cả tổ tiên

Tương lai, số kiếp tối đen, mịt mù

 

Vào trong lăng bác âm u

Ô danh, tì vết, ngàn thu... vọng về

 

IX 

Sâu, dài thăm thẳm là đêm

Bác lần ngang bụng "mần" thêm một hồi

Đinh ninh là vợ bác rồi

Sang mai bác nỡ thốt lời... Sở Khanh

"Phi tang chuyện cũ cho nhanh

Còn lưu luyến nữa, Đảng thanh trừng liền"

 

Bác Hồ thuở nhỏ chăn trâu

Lớn lên yêu đại... bị Tầu bắt giam

 

Bác khiêm tốn nhất trần gian

Nếu không cứ hỏi Trần Dân Tiên gàn

Không tin thì hỏi T. Lan

"Vừa đi vừa kể" chuyện gần chuyện xa

 

(nguồn:

http://xoathantuong2.tripod.com/nthtktt/nth_nshcm.htm ).

Trước khi từ trần “bất đắc kỳ tử”, cụ Võ Văn Kiệt có viết, biến cố “giải phóng miền Nam tháng 4/1975, đã làm cho triệu người vui thì cũng có triệu người buồn." “Triệu người vui” là những ai, chúng ta đã hiểu, nhưng triệu người buồn thì nhiều lắm: họ là những nạn nhân trực tiếp (tù cải tạo, tù chính trị v.v…) và nạn nhân gián tiếp (những người dân không ưa chế độ cộng sản, chế độ đã làm cho họ tan gia bại sản, bị kỳ thị trong hành chính-việc làm-học vấn vì lý lịch, thất nghiệp, làm cho dân bị nghèo túng đi v.v…) Giả như có người thực hiện được bản thống kê nghiêm túc, tôi tin có đến 90% người dân miền Nam bất mãn với chế độ cộng sản, cộng thêm trên 75 phần trăm người dân miền bắc thù ghét cộng sản, sau khi đã trừ đi 25% thành phần cán bộ, gia đình cán bộ, thành phần giàu có mới nhờ làm ăn bất chính, cướp giật tài sản, đất đai… Và, nếu với số lượng lớn dân chúng bất mãn với chế độ độc tài, gian dối cộng sản đến tỷ lệ đó (75+90/2 = gần 83%), hẳn người dân khi đề cập tới nhân vật Hồ Chí Minh thì người ta sẽ hình dung tới một “hung thần tàn bạo, quỷ quyệt”. Trong lịch sử nhân loại, một nhân vật lãnh tụ tệ hại nhất là một lãnh tụ bị dân vừa thù ghét vừa sợ; chị Trần Khải Thanh Thủy đã làm hành động ngược lại với xu thế tâm lý “ghét và sợ” đó trong những bài thơ châm biếm, dí dỏm về cụ Hồ. Có nghĩa là chị đã làm cho sự thù ghét bị giảm xuống, chuyển hóa “sự thù ghét” thành sự cảm thông con người trong cuộc sống đời thường.

Thật ra, có lúc chị cũng bộc lộ sự “hằn học, bực bội” vì những hành động trong lịch sử của cụ Hồ, mà sự thật có khi chỉ vì bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản tạo ra. Thí dụ: không có ai trơ trẽn, can đảm khi tự ví mình (lại còn cao hơn) với những anh hùng lịch sử dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi. Tôi không tin cụ Hồ tự làm điều đó, thủ phạm chính là Đảng Cộng sản. Chẳng hạn sự kiện Đảng Cộng sản (do Lê Duẫn chủ động) đã tự ý sửa lại di chúc của Hồ Chủ tịch. Trong “Đọc Lại Di Chúc Hồ Chí Minh”, với bút hiệu thứ hai (Nguyễn Thái Hoàng), Trần Khải Thanh Thủy viết:

Trần Thủ Độ là người vô cùng xảo hoạt, đầy uy lực, quyền bính, nên đã thao túng được toàn bộ triều đình nhà Lý.

Bản thân Hồ Chí Minh quyết định học theo tấm gương đại gian đại ác này, hy vọng “đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và đời sống”. Vì thế suốt thời trai trẻ để đạt được ý đồ “đảo lộn Sơn Hà” ông đã không bỏ qua bất cứ một thủ đoạn độc ác nào. Từ việc mượn danh Nguyễn Ái Quốc của nhóm ngũ Long để tạo lập uy tín cho mình đến việc mật báo với chính quyền thuộc địa bán đứng cụ Phan Bội Châu (6-1925) để lấy 150.000 quan và toàn bộ tổ chức Tâm tâm xã cũng như uy tín tên tuổi của cụ, rồi mượn tay Pháp tiêu diệt thẳng tay cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng để họ không xâm phạm ngôi bá chủ của mình. Còn chiếm tên Hồ Chí Minh của ông Hồ Học Lãm (một nhà ái quốc lừng danh lưu vong sang Tàu) cùng toàn bộ tổ chức “Thanh niên Cách Mạng đồng chí hội” của ông để phô trương thanh thế, khi bị con gái ông Lãm phát hiện đã bí mật cho người thủ tiêu trên đường bà này về thăm quê ở Thanh Hoá.

Cũng vì học gương thoán ngôi, đoạt quyền của Trần Thủ Độ, ông còn thẳng tay đàn áp tất cả các đảng phái không đi theo con đường vô sản, tuyệt diệt dân tộc của ông. Trang sử vàng Việt Nam hiện nay vẫn còn lưu giữ những bí mật lớn. Tại sao Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn thị Minh Khai, Hà Huy Tập… lại bị Pháp bắt và phải nhận bản án tử hình? Tại sao cụ Huỳnh Thúc Kháng - chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng Hoà, Lâm Đức Thụ - người đã cùng bày mưu tính kế với ông trong việc bán đứng Phan Bội Châu, cũng là người đưa ông về ăn ở hàng năm trời tại nhà rồi giới thiệu Tăng Tuyết Minh - là bạn thân của Lý Huệ Quần (vợ Lâm) thành vợ ông (10-1926), lại bị thủ tiêu ngay sau thời điểm cách mạng tháng tám thành công? ? ? Chừng nào những câu hỏi loại này chưa được giải đáp thì hình búa liềm của Đảng trên nền cờ đỏ mãi mãi chỉ là hình dấu hỏi trong con mắt các nhà sử học, giới nghiên cứu, tri thức… mà thôi.

Chưa kể, ông còn mắc tội hiếu chiến, hiếu sát, dìm cả dân tộc vào trong biển máu, từ phong trào xô viết Nghệ tĩnh 1930-1931, đến chiến dịch Mậu Thân 1968… máu chảy một giây, di hoạ đủ một đời. Máu của người dân Việt Nam chảy thành sông thành suối, ròng rã suốt nửa thế kỷ, từ khi “đời ta có Đảng”, đến khi Miền Nam bị “phỏng giái”, thì di hoạ biết bao nhiêu mà kể xiết?”

Nguồn:

http://xoathantuong2.tripod.com/nthtktt/nth_dldchcm.htm )

Ai đã tạo ra thảm kịch lịch sử đẫm máu “Xô-viết Nghệ Tĩnh”, Cải Cách Ruộng đất 1954-55, Mậu Thân Huế 1968, đâu phải chỉ một cá nhân cụ Hồ -dù cho cụ mang danh là lãnh tụ, là “cha già dân tộc”. Đó là chưa nói tới những tiết lộ lịch sử sau này cho thấy, cụ Hồ còn mang bản chất nhu nhược trước sự hung dữ, hiếu sát của những đồng chí lãnh đạo khác, đến độ cái chết của cụ cũng do thủ đoạn bị bức tử : “…Trước khi biết mình bị đầu độc bằng mũi tiêm của bác sĩ Tôn Thất Tùng, cụ đã mong ước cho nước ta và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa sớm ra khỏi ách cộng sản.” (“Tôi viết về Hồ Chí Minh”, Nguyễn Thái Hoàng).

Nói tóm lại, tôi thích nhất là bài thơ “Đêm Nay Bác Không Ngủ” của Trần Khải Thanh Thủy.  Những lãnh tụ cách mạng, chính trị cộng sản trong đời họ có rất nhiều đêm mất ngủ. Mất ngủ để đối phó với kẻ thù, để sáng tạo những kế sách, âm mưu… trước những tình cảnh khó khăn, nguy nan; nhưng cái đêm “mất ngủ” lần này của cụ Hồ là để chuẩn bị cho một cuộc mây mưa với “người tình chăn gối”, được Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn vào thời đó tuyển chọn:

Nguyễn Thị Xuân thức dậy

Thấy trời khuya lắm rồi

Mà sao Bác vẫn ngồi

Đăm đăm nhìn cô ngủ

 

Lặng yên như ông chủ

Vẻ mặt Bác trầm tư

Ngoài trời mưa âm u

Mái nhà sàn rung lắc ...

Bỗng dưng, Xuân-tình-nhân thức giấc, nhìn ánh mắt đam mê của cụ đang nhìn mình, lòng bồi hồi vừa hoảng sợ:

Nguyễn Thị Xuân nhìn Bác

Càng nhìn lại càng lo

Người Cha mái tóc bạc

cứ quẩn quanh bên giường

 

Rồi bác đến bên cô

Thì thầm từng lời một

Sợ cháu mình chạy vội

Bác vuốt ve thề bồi

 

Nguyễn Thị Xuân bàng hoàng

Như nằm trong ác mộng

Mắt Bác long sòng sọc

Đốt cháy thân hình nàng

Thì ra, từ bao lâu, cụ đã ngồi lặng để nhìn ngắm thân hình nàng. Một tấm thân nõn nà, hớ hênh, căng tràn nhựa dục. Biết đâu trong giây phút ấy cụ nhớ tới những bài thơ “Vịnh Quả Mít” , “Thiếu Nữ Ngủ Trưa”… của Hồ Xuân Hương? Cụ cười mỉm, cụ sung sướng, lòng phơi phới xuân tình. Với cách thế diễn tả này, tôi nghĩ, cụ đã áp dụng thiền trước khi làm chuyện chăn gối. Bản chất của thiền là tĩnh, cho nên người thiền phải trầm tĩnh, im lặng, hành vi cần phải tinh tế, êm ái, nhẹ nhàng. Trong khi “làm tình” là động tác mạnh, phản với thiền, nếu không được chuẩn bị chu đáo trước, khi hành động sẽ không lâu bền, giống như con gà trống “cục tác” trên lưng con gà mái. Người ta thường ví von “làm tình như gà” để chỉ những người không có kinh nghiệm, từng trải về phương diện “làm tình”. Đằng này, cụ Hồ đã áp dụng “dâm thiền” vào cung cách chăn gối, là một nghệ thuật mà các nhà tâm lý về tình dục học gọi là “premature”, có nghĩa là “khúc dạo đầu”. Nếu như người tình chăn gối không có đủ kinh nghiệm để gợi tình, gợi hứng cho người phối ngẫu, người đàn ông phải biết cách tạo ra một ‘khúc dạo đầu’ cho chính mình. Trong trường hợp của cô Xuân (là người tình chăn gối thường xuyên của cụ Hồ, nhưng sau đó bị Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn giết chết…) là cô đang ngủ say (thụ động), và cụ Hồ đã áp dụng sự say đắm lặng trầm, ngắm nhìn thân xác nàng (chủ động). Trong từng hơi thở của cụ -hít vô thở ra, mắt cụ chăm chú đi trên từng làn da, ngỏ ngách cơ thể của nàng Xuân, hứng tình ban đầu từ tốn đến một lúc ngùn ngụt bốc cháy. Tôi cho đó là cụ Hồ đã áp dụng “thiền dâm” trước khi có động tác “mây mưa”. Cụ đã biết cách làm cho bộ phận sinh lý của mình đạt tới cường độ cao của sự ham muốn. Đó là phương pháp hết sức khoa học. Như chúng ta biết ngày nay, các nhà khoa học Y-Dược đã tốn nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để tìm ra thuốc uống Viagra chữa bệnh thời đại “bất lực” (Impotence) cho phái nam, và trong tương lai gần các nhà khoa học Y-Dược ở Anh sẽ tung ra loại thuốc bôi trơn Viagra để bôi trong “cửa mình” của phụ nữ hay “của quý” của phái nam, thì cách nay hơn nửa thế kỷ, bất lực được coi là “căn bệnh” nan y; do đó, biết cách áp dụng “dâm thiền”, có lẽ cụ Hồ là người tiền phong đã có kiến thức, nghệ thuật gây hứng tình cao cấp cho người đàn ông.

…Nguyễn Thị Xuân vội vàng:

"Mời bác ngủ bác ơi

Già như bác lúc này

Thức khuya là bất lợi"

 

"Cháu cứ việc nằm chơi

Ngày mai ta trọng thưởng

Nhiệm vụ cháu bây chừ

Là làm ta sung sướng"

 

Không biết nói gì hơn

Xuân nằm nhăn với nhó

Mặc cho bác thụt thò

Miệng tru rên ú ớ…

Song khi bị nàng Xuân phát hiện mình đang ngồi nhìn ngắm thân thể nàng, cụ Hồ có một chút ngượng ngịu, nhưng chân thật, cụ đành nói thật là cô ta hãy làm cho “Bác sung sướng”. Nói đúng ra, ý của cụ cho rằng đó là nhiệm vụ của con dân đối với vị “cha già dân tộc”. Quả nhiên, với trợ lực của “dâm thiền”, cụ Hồ đã chứng tỏ bản năng “make love” cao cường của mình.  Kết quả, không chỉ cụ Hồ mà ngay cả thị Xuân cũng sung sướng, làm sao mà nàng “muốn giơ tay mà tát” cụ được. Cái “muốn tát” ấy chẳng qua là cái muốn tát yêu, tát thương mà thôi.

Mái đầu Xuân ngọ nguậy

Chòm râu bác phủ đày

Lòng đau đớn xót cay

Muốn giơ tay mà tát

 

…Lần thứ ba khiếp sợ

Xuân hốt hoảng giật mình

Bác vẫn ngồi tô hô

Toàn thân …năng năng nhắc

 

Xuân vội vàng nằng nặc:

"Để cháu ngủ bác ơi

Trời sắp sáng mất rồi

Bác ơi để cháu ngủ"

 

Cháu hãy vì tình thương

Mà cho ta tận hưởng

Bác thấy mình thật sướng

Nếu ngủ sao an lòng?

Trần Khải Thanh Thủy nói đây là bài thơ “nhái” của nhà thơ Minh Huệ nào đó. Thơ “nhái” mà lại tuyệt vời, sáng tạo. Nội dung bài thơ cho thấy, cụ Hồ có “dâm tính” đặc thù của một người đàn ông sung mãn, nhưng rất điêu luyện, nghệ thuật trong vấn đề chăn gối.  Nghệ thuật đó đã chuyển biến một người người nữ phối ngẫu từ trong trạng thái  hốt hoảng, sợ, lo, bàng hoàng… trở nên thỏa mãn, chấp nhận, pha trộn tình cảm hòa hợp thân xác giữa một người nữ đang độ tuổi xuân thì với ông lão râu tóc đã lơ thơ bạc. Từ tình cảm thân xác, cô Xuân nảy sinh lòng ghen, giận hờn cho chính thân phận của mình…rồi sẽ ra sao khi mặt trời ban mai đã tỏa sáng.

(Bác thương gì Xuân đâu?

Đêm nay ngủ cùng rồi

Trải phút giây thần thánh

Mai bác lại quên nhanh...)

 

Nhìn chòm râu lơ thơ

Lòng cô thêm bực tức

Càng căm càng bất lực

Mong người biến ngay cho

 

Thôi thì thôi đành cố

Cho bác ấp, bác vầy

Lòng tê tái đắng cay

Trước trò đời nhăng nhố

 

... Đêm nay bác không ngủ

Đêm nay bác làm tình

Vì một lẽ thường tình

Bác là Hồ Chí Minh

Đọc xong bài thơ này, tôi (và tôi tin cũng như mọi độc giả khác) có lúc bật tiếng cười, có lúc cười đến tức bụng, cũng có thể cười như nắc nẻ nếu ở trong hoàn cảnh có từ 2 đến 3 người trở lên cùng thưởng thức.) Cười –là biểu hiện kết quả bài thơ “biếm” đạt đến mức độ nghệ thuật cao, thành công. Nhưng điều quan trọng hơn là bài thơ đã làm cho ta phà ra làn hơi dài, xóa hết mọi sự ghét, thù… Trần Khải Thanh Thủy đã chuyển hóa sự thù ghét chính trị thành một tiếng cười, mà tiếng cười thì rất gần gũi với sự tha thứ. Một tiếng cười nhân bản.

Nguyễn Văn Hóa

Saturday, June 25, 2011

* Độc giả có thể đọc trọn 15 bài viết của Trần Khải Thanh Thủy (Nguyễn Thái Hoàng) theo đường link dưới đây:

http://xoathantuong2.tripod.com/nthtktt/nth_00.htm

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA