đăng ngày: 18.6.2011
|
|
|
Tiến sĩ Hồng Quang: "...Thiền, Tịnh và Mật tông có khả năng làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật..."
Photo source: Getty Images |Nude man @ woman standing together
Thiền "chống giặc ngoại xâm" và "thiền nhịn" Nguyễn Văn Hóa
Nói tới Thiền, mọi người trong và ngoài giới Phật Giáo, dễ liên tưởng tới Thiền sư Nhất Hạnh, vì sư có một bài kệ về “thở” khá phổ biến: “Hít vô tâm tĩnh lặng; Thở ra miệng mĩm cười…” Với một lối tập thở bình dị này, ai cũng có thể làm được và thực hành được và, nó không có gì mới lạ vì trong cuộc sống thường nhật của bao đời qua, nhất là trong giới học võ, tập thể thao thể dục đều có áp dụng cả. Chỉ khác là sư Nhất Hạnh cố nhấn mạnh tới cái “tâm” khi thở và nụ cười. Tập luyện được như thế là một điều lợi ích, làm cho lòng mình an nhiên thanh thản, giảm được những cơn bực bội, nóng giận, mệt mỏi trong những lúc bị kẹt giao thông trên xa lộ, đường phố, gặp những hoàn cảnh ngang trái oan ức dễ gây nên bất bằng, buồn giận… Có người không đồng ý gọi sư Nhất Hạnh là “thiền sư”, kể cả một số Phật tử mà tôi từng gặp. Họ cho rằng, chức năng “thiền sư” rất cao trọng, sư Nhất Hạnh chưa thể đạt tới danh hiệu đó. Tôi cho rằng, điều đó không quan trọng, vả lại với một người bỏ gần cuộc đời để tu học và đặc biệt trong mấy chục năm ở xứ người, sư đã thực hành, xiển dương, giáo dục về Thiền quán, ông cũng đáng được nhận lãnh danh hiệu “thiền sư”. Lạ thay, thời thế cũng có ảnh hưởng tới “hành thiền” của sư ông Nhất Hạnh. Kể từ lúc chế độ cộng sản Hà Nội cho tổ chức đón rước linh đình sư ông về nước lần cuối vào năm 2005, cho đến tai họa (cũng do công an nhà nước cộng sản tổ chức và điều động) chống phá chương trình “trụ thiền” của sư tại Lâm Đồng, đến độ cả thầy lẫn đệ tử phải cuốn gói thoát ra khỏi nước Việt Nam, hiện tượng “thiền thở” của sư ông, dù chưa mai một, nhưng khí thế giảm đi hẳn, có lúc không còn nghe nói tới nữa. Trong khi đó, trong nước đang rầm rộ phổ biến một phong trào “thiền cho sức khỏe, thiền chữa được hết bệnh tật v.v…” đang nở hoa. Đơn cử người đi đầu trong hiện tượng này là ông Hồng Quang (chủ tịch tổ chức Giao Điểm ở Mỹ). Nay thì ông Hồng Quang còn có thêm một học vị đứng trước tên nữa là ông…tiến sĩ. Tiến sĩ Hồng Quang quả là một người năng động. Ở Mỹ, hăng hái làm báo, ra sách chống Công Giáo La Mã, Tin Lành-Phản Thệ, lại móc nối được các cơ quan từ thiện của Tin Lành như tổ chức C.A.R.E. xin được hàng tấn sữa Insure, thuốc tây, các nhu yếu khác… gởi về trong nước nhờ các đại diện tổ chức chính quyền cộng sản phân phối cứu trợ dùm cho các người nghèo. Và khi ở trong nước, tôi mới biết, cuối cùng thường các sản phẩm "cứu trợ" thặng dư hay "chào hàng" (sample products) của đế quốc này bày bán đầy ở các chợ, hay dọc bên các hàng quán lề đường, như đường Phan Huy Ích -quận Tân Bình, chợ Gò Vấp, Bà Chiểu, Kỳ Đồng… thậm chí chạy về tới các đường phố chính mới xây to ba, bốn lằn ở Bình Dương. Có lần tôi dừng xe máy, check giá mới biết, một bịch 6 bình sữa bằng nhựa giá 200 ngàn đồng, tương đương với 1/10 lương tháng của một công nhân. Nay thì chuyện chống Công Giáo La Mã và Tin Lành đã được bàn giao cho các ACE (anh chị em) nặc danh khác ở các trang mạng internet, Hồng Quang về “công cán thiền” trong nước trong một vài năm trở lại đây. Trong một bài diễn thuyết mới đây ( Thiền và sức khỏe- Giao Lưu về Thiền, được phổ biến trên website của ‘cựu lãnh tụ tranh đấu’ Hoàng Nguyên Nhuận ), tư tưởng thiền của ông Hồng Quang là “…không những nhấn mạnh Thiền, Tịnh và Mật tông có khả năng làm cho con người đẹp hơn, Thông minh hơn, Mạnh khỏe hơn, Chống bệnh tật và lão hóa mà còn giải thích tại sao và trưng bày bằng chứng và hình ảnh để minh họa cho lời khẳng định của mình về các lợi ích của Thiền. Ông nói rằng, nếu thế hệ trẻ thực tập Thiền, Tịnh hoặc Mật ngày hai lần, mỗi lần tối thiểu mười phút cũng có thể tạo cho dân tộc Việt Nam của thế hệ kế thừa được đẹp hơn và thông minh hơn vì tính di truyền của cha mẹ cho con chiếm đến 50%. ) [dẫn theo đường link ở trên.] Vai trò của Thiền như vậy quả thực là siêu vượt, không những “cứu độ” cho người già yếu, bệnh tật, còn là thông tin dễ gây sốc cho các cô gái chân dài, trẻ đẹp của cụ Nguyễn Minh Triết. Thiền với kiến thức Phật Pháp của Hồng Quang quả là phép lạ. Song, chỉ đề cập tới Thiền tới chừng đó thôi, chưa đủ. Tôi vừa đọc một bài báo của Đỗ Hồng Ngọc ( Gươm Báo Trao Tay, ĐHN., tạp chí Phật Giáo Việt Nam số 150 –tháng 5-2011.) Nghe nói Đỗ Hồng Ngọc là một vị bác sĩ, cư sĩ Phật tử trong nước. Ông Ngọc viết, “Thiền! Thiền đã có từ xa xưa. Ngay hồi còn nhỏ xíu, một hôm, thái tử Tất Đạt Đa trong lúc ngồi dưới bóng cây coi người ta làm ruộng đã tình cờ rơi vào trạng thái sơ thiền.” (trang 54, PGVN) Đây là thông tin lần đầu tôi đọc biết. Hóa ra, từ lúc nhỏ, Phật đã có bản năng “sơ thiền” rồi. Ta có thể cho bản năng này cũng tự nhiên như “nhân chi sơ tính bản thiện” được không, và liệu con người trong vũ trụ ai cũng có bản năng “sơ thiền”?. Nhưng, để hỏi ngược lại, thế nào là một “trạng thái sơ thiền”, tôi nghĩ rất là khó trả lời, và hẳn sẽ rất khó có sự đồng tình của mọi giới, kể cả những người đang “tu thiền”. Như thế thì con đường từ “sơ thiền” đến “thiền đốn ngộ” quả là bước dài và thật nhiêu khê. Bởi nhiêu khê, nên chi Phật nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, vẫn mãi mãi là một hứa hẹn nhức nhối, đầy ảo ảnh… trong suốt dòng đời biến dịch trên hai ngàn năm nay, đã có được bao người trên thế gian này thành Phật!. Bs. Đỗ Hồng Ngọc thì cho rằng đối với Thiền, chẳng có gì khó. Để đạt tới cái mục đích tối thượng của Thiền là “an trụ tâm”, thì cần có ba thứ thuốc : Giới, Định và Tuệ. Ông viết: “Muốn an trụ tâm ư? Dễ lắm! Thì đừng có trụ vào đâu cả! “Ưng vô sở trụ” là xong hết! Đừng trụ vào đâu cả thì sẽ được an trụ? Câu nói nghe lạ, nhưng tuyệt diệu! Muốn an tâm ư? Thì hãy vô tâm! Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Trần Nhân Tông).” (trang 56, PGVN) Và nhờ cái “Ưng vô sở trụ” của Trần Nhân Tông, mà Vua đã từ bỏ ngai vàng ở ẩn tu đạo trên đỉnh núi Yên Tử, phải hạ sơn để đánh tan giặc Nguyên. Đỗ Hồng Ngọc giải thích tiếp, “Vô tâm ở đây không phải là bỏ mặc, là kệ! Không phải thế. Trần Nhân Tông đã rời bỏ vương triều, đi tu trên núi Yên Tử, vậy mà khi nghe quân Nguyên sang xâm lấn nước ta, nhà sư đâu có mặc kệ, ông tức khắc xuống núi, bày mưu tính kế, góp sức đánh đuổi ngoại xâm. cái “vô tâm” của ông là đánh duổi giặc xong thì xoa tay, về núi tu tiếp.” (trang 56, PGVN) Đọc đoạn văn trên, ai cũng hiểu được rằng Vua Trần Nhân Tông dù đã từ bỏ ngai vàng lên núi tu thiền, học đạo…, đang “an trụ tâm”, thế mà khi nghe tin giặc Nguyên từ đất Bắc kéo xuống xâm lược, Vua tức thì “xả thiền”, cầm gươm xuống núi đi giết quân thù. Một ông Vua yêu nước, thương dân, có tinh thần trách nhiệm bảo vệ sơn hà xã tắc. Song le, nếu chỉ hiểu hành trạng của Vua Nhân Tông là như thế đâm ra giữa thiền “an trụ tâm” và hành động “chống xâm lăng” không có tác tương nhân quả nào cả. Thiền và hành động chống xâm lăng là hai thực thể nội tại độc lập; nên cũng có thể viết lại cách khác, là nhờ vào tinh thần “an trụ tâm”, nên tuệ giác của ngài chói sáng, Vua ý thức được trách nhiệm của một người từng đứng đầu quốc gia, ý thức được tinh thần “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, biết lo trước cái khổ của dân khi bị nạn ngoại xâm, biết nước sẽ mất khi quân thù đang dẫm lên bờ cõi. Thiền, trong trường hợp này là một trợ lực tinh thần yêu nước hy sinh cao quý. Nhưng, viết thế thì đâm ra ngoa ngôn, ngoa luận, đâu còn là tinh hoa “diệt thọ tưởng định” cao quý của Phật Pháp!. Tôi tạm gọi thiền của Vua Trần Nhân Tông là “thiền chống giặc ngoại xâm”. Qua các biến cố chính trị tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng trong vài năm vừa qua, nhận xét về các thái độ ứng xử của những người lãnh đạo nước Việt Nam CHXHCN hiện nay, tôi thấy họ cũng đang áp dụng thiền vào đường lối chính trị ngoại giao. Tôi gọi đó là “thiền nhịn”. Theo tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc thì họ đã “nhịn” như thế nào? “…Trước, chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách chịu đựng và nhường nhịn đến mức, dưới mắt đông đảo dân chúng Việt Nam, không thể chấp nhận được. Tàu Trung Quốc tấn công các thuyền đánh cá Việt Nam, họ không dám nêu đích danh, chỉ nói bâng quơ là tàu "lạ": Tàu "lạ" xua đuổi ngư dân Việt Nam; tàu "lạ" đâm chìm thuyền đánh cá Việt Nam; tàu "lạ" bắt cóc ngư dân Việt Nam chở về nước "lạ" rồi đòi tiền chuộc, v.v... Với đông đảo người Việt Nam, chữ "lạ" ấy đi vào kho từ vựng chính trị Việt Nam như một từ đồng nghĩa mới của chữ "hèn": hèn nhát và hèn hạ.” ( Lòng dân như một vũ khí, blog Nguyễn Hưng Quốc ) Và, theo ông Quốc cao điểm của sự nhịn mà ông gọi là “nhịn tới mức tối đa” đã được bộc rõ trong các bài phát biểu công khai tại diễn đàn an ninh châu Á được tổ chức trọng thể ở Singapore vào đầu tháng 6 với sự có mặt của Bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh. Trước khi ra đi tham dự hội nghị hai ông này đã được sự ủng hộ của cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh cũng như nhiều tướng lãnh khác. Hẳn là các người lãnh đạo nước Việt Nam phải mang một tâm lý rất sợ hãi Trung Cộng. Tinh thần “sợ và xấu hổ” của Việt Nam xen lẫn với nhau, vì Trung Cộng luôn công khai và nhắc nhỡ cho họ thấy nếu không có sự trợ giúp tối đa, hết lòng của Tàu thì Bắc Việt không thể nào chiếm trọn miền Nam vào tháng 4/1975. Cho nên, không ngờ “thiền nhịn” giúp cho những lãnh tụ cộng sản thời-đại-gia vừa che dấu được sự nhục nhã, đồng thời tránh được nạn chính quyền sụp đỗ, dễ mất trọn hết mọi của cải, quyền lợi vật chất thu tóm được của dân trong bao nhiều năm qua. Bởi thế, nên dù đã mất đất, mất đảo rồi… họ vẫn cố nói chưa mất. Lính hải quân VN cộng sản đã từng bị Trung Cộng thảm sát một cách man rợ trên biển Đông họ cố tình dấu nhẹm và, Trung Cộng đã tắm máu hàng vạn dân, quân Bắc Việt năm 1979, 1984…họ cho rằng đó chỉ là tai nạn lịch sử, vân vân và vân vân… Bà Song Chi, một phụ nữ yêu nước vì đã từng không chấp nhận cái “nhịn hèn” của nhà nước Việt Nam, trốn thoát ra nước ngoài để tranh đấu cho dân chủ và tự do ở Việt Nam, thì cho rằng : “Trung Quốc đã tấn công Việt Nam năm 1979, 1984, xâm chiếm Trường Sa năm 1988. Trung Quốc đã lấn lướt được của Việt Nam hàng trăm kilomet vuông lãnh thổ dọc biên giới phía Bắc và hàng trăm dặm vuông lãnh hải, thông qua Hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ VN-TQ năm 2000, bởi sự nhân nhượng của nhà nước Việt Nam. Hiện tại, Trung Quốc có thể chưa vội dùng vũ lực trên đất liền với Việt Nam, nhưng họ chắc chắn sẽ đánh chiếm nốt những hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đang nắm giữ để thực hiện âm mưu chiếm trọn 80% khu vực biển Đông này. Bởi đó là lợi ích cốt lõi của họ. Là chiến lược và tham vọng lâu dài tiến tới xưng hùng xưng bá trên cả khu vực này, đối trọng với Mỹ. Đã là chiến lược, là tham vọng lâu dài của “kẻ khác” thì chúng ta có nín nhịn, có ngoan ngoãn phục tùng cũng chẳng được yên.” ( Biển Đông sẽ không bao giờ yên tĩnh nếu..., Song Chi ) Xem ra, “thiền nhịn” mà các nhà lãnh đạo Việt Nam đang thực hành là loại thiền cho ra kết quả chênh vênh và thấp nhấp, kể từ “sơ thiền” của Đức Phật, “thiền chống giặc ngoại xâm” của Vua Trần Nhân Tông, và “thiền chống bệnh tật, thiền tạo sắc đẹp” của tiến sĩ “Uncle Sam” (Hồng Quang) hiện nay.
Nguyễn Văn Hóa Saturday, June 18, 2011
|
© copyright giaodiem.us | 2009