đăng ngày: 12.5.2011
|
|
|
Nhân đọc bài trao đổi giữa Bùi Văn Phú Và Hoàng Xuân Sơn về Trịnh Công Sơn qua “HXS: nơi tôi sinh sống thì hát nhạc Trịnh cũng nên dè dặt.” (*) nguyễn văn hóa
Đã có quá nhiều bài báo, sách, thậm chí có cả vài luận án văn chương (Việt Nam cũng như ở Pháp) viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sau khi ông chết. Có một số sách, bài viết hay, phân tích chi ly, mới lạ về ngôn ngữ và ca từ trong ‘nhạc Trịnh’. Trong số các tác giả đó –thường là bạn ngoài đời, bạn học hay cùng thế hệ có giao tiếp với -viết về TCS lại xuất thân từ thành phố Huế, nơi cư ngụ và trưởng thành của nhạc sĩ, bộc lộ sự mến mộ, thương tiếc, ca tụng ông như một lẽ thường nhiên. Trịnh Công Sơn, thuộc thế hệ trên tôi cả một con giáp. Tôi sinh trưởng ở Huế, nhưng tiếc thay, chưa hề gặp ông ở ngoài đời, cũng mến mộ ông, nên cứ thắc mắc và tìm đọc về TCS bất cứ một bài viết nào biết được. Trong loạt bài viết Trịnh Công Sơn của tác giả Bùi Văn Phú (mà tôi đoán cũng thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn?) được phổ biến trên damau.org, tôi nhận ra tác giả này có thắc mắc riêng và, muốn tìm hiểu, khai thác qua tài liệu và dư luận nhằm đưa tới ‘kết luận’ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “thuộc về quốc gia hay cộng sản”. Một công việc không có chi mà làm “ầm ĩ”, lại thấy hay hay. Vì vậy, tôi có phần thắc mắc là tại sao ông Phú không quan tâm tới mấy bài viết của Hoàng Xuân Sơn –vốn cũng xuất hiện trên damau.org, cung cấp một số chi tiết rất hữu ích để hiểu về Trịnh Công Sơn qua mục đích mà ông nhắm tới!?. Quả nhiên, điều đó rồi cũng đến, dù muộn, với bài phỏng vấn Hoàng Xuân Sơn: nơi tôi sinh sống thì hát nhạc Trịnh cũng nên dè dặt, vừa mới phổ biến trên damau.org. Theo tôi, “nhân chứng” Hoàng Xuân Sơn có hai ưu điểm để hiểu thêm về “cuộc đời và sự nghiệp” âm nhạc của Trịnh Công Sơn : một, phụ thân và gia đình của hai bên là chỗ thâm giao; hai, Hoàng Xuân Sơn cũng là một nghệ sĩ (ca sĩ) từng ca hát trình diễn chung với Trịnh Công Sơn, không chỉ ở mốc thời gian “quán Văn” (1965-66) đến về sau mà còn kéo dài trong nhiều cơ hội đàn đúm hát hò sau ngày miền Nam sụp đổ, ở Sài Gòn. Cái mốc “quán Văn” (1965-66) lại rất quan trọng, vì thời gian đó là cao điểm một số thành phần sinh viên học sinh ở miền Trung chống chính quyền miền Nam mạnh nhất –để chung cuộc đưa họ tới con đường lựa chọn : theo Việt cộng hay không, dù “nhảy núi” hay ở lại thành hoạt động nằm vùng. Thành phần ở lại hoạt động nằm vùng là thành phần “ngầm”, chưa bị phát hiện. Trịnh Công Sơn, trong thực tế cho thấy, không thể nằm trong trường hợp này. Theo nhà phê bình văn học Đặng Tiến, thì “Từ 1965, theo trí nhớ Ðinh Cường, Trịnh Công Sơn mới trực tiếp “xuống đường” tham dự vào những buổi hát của sinh viên, học sinh Sài Gòn, bắt đầu tại trước viện Ðại Học Sài Gòn, rồi từ khuôn viên trường Ðại Học Văn Khoa. Sau đó Trịnh Công Sơn thường hát với Khánh Ly, từ 1967, theo lời Khánh Ly kể, cho đến sự cố nổ súng tại trường Ðại Học Văn Khoa cuối năm 1967. Sau biến cố này, Sơn thôi đi hát “cho đồng bào tôi nghe” hát trước quần chúng đông đảo, chủ yếu là thanh niên, sinh viên Sài Gòn. Nhưng vẫn còn về hát cho sinh viên Huế cho đến 1970-1971. ” (Trịnh Công Sơn Tiếng Hát Hòa Bình –damau.org) Nhưng “trí nhớ” của họa sĩ Đinh Cường (một người bạn của TCS) không bằng người chung vai sát cánh với TCS trong thời gian đó là Hoàng Xuân Sơn. Một nhân vật cùng sát cánh khác, cũng cần nhắc tới là Ngô Vương Toại. Ngô Vương Toại từng là một thành viên trong ban chấp hành sinh viên thời đó, rất chống cộng, và ông bị hai Việt cộng (một nam, một nữ) mưu sát một cách táo bạo bằng súng ngay vào một đêm trình diễn tại Đại học Văn khoa Sài Gòn –khuôn viên cũ, đường Cường Để, sau khi nhạc sĩ họ Trịnh bắt đầu có tiếng tăm cho đến “cuối hè, đầu thu 1967, nối tiếp sự thành công rực rỡ từ Quán Văn; Trịnh Công Sơn/Khánh Ly (TCS/KL) tái xuất hiện.” (Trích phóng bút Cũng Cần Có Nhau –Những Kinh Nghiệm Hãi Hùng, HXS.) Trong phần trả lời Bùi Văn Phú lần này, Hoàng Xuân Sơn có kể lại TCS có làm một bài nhạc lên án vụ mưu sát này dành riêng cho Ngô Vương Toại nên không phổ biến với công chúng có những cấu như “Nhân danh ai anh đến đây giết một người, cho máu em cho máu anh tuôn trên da thịt này…” ; hơn nữa TCS còn tìm cách đi thăm NV.Toại còn nằm dưỡng thương ở bệnh viện Bình Dân nhiều lần, dù TCS đang ở trong hoàn cảnh khó khăn vì trốn lính. Một người “Việt cộng nằm vùng” không bao giờ đi làm công việc như thế cả. Ai cũng có thể hiểu điều đó. (Bởi, một vụ ám sát (dù không chết) một sinh viên chống cộng, có khả năng sẽ trở thành một ông chủ tịch (chống cộng) tổng hội sinh viên Sài Gòn là một thành tích chính trị to lớn của Việt cộng.) Không ca tụng thì thôi, ai lại còn lên án kẻ sát nhân và bênh vực nạn nhân! Có một vài ẩn dụ trong ca khúc của TCS mà nếu ta không phải là người gần gũi với nhạc sĩ rất dễ bị thành kiến hướng dẫn sự suy nghĩ trong sự giải mã ngôn ngữ. Thí dụ trong bản nhạc TCS làm sau biến cố Tết Mậu Thân ở Huế “Hát trên những xác người”, có câu “Mẹ vỗ tay reo mừng xác con…”, trước đây tôi tự hiểu “xác con” này có lẽ là một anh Việt cộng đã “đền nợ nước”, nên chi người mẹ “reo mừng” với cái chết của một liệt sĩ, bây giờ được HXS giải thích : “Mẹ vỗ tay reo mừng xác con, chị vỗ tay hoan hô hoà bình, người vỗ tay cho thêm thù hận, người vỗ tay xa dần ăn năn, mà có người cho là vô lý, thì chính là hình ảnh thấy được trong cuộc chiến Mậu Thân – một bà mẹ chạy theo xe kéo xác con, vừa khóc kể vừa cười sằng sặc, vừa vỗ tay hò hát như người điên” -không những rất hợp lý, còn làm cho tôi lâng lâng xúc động. Nghệ thuật có thể chống chiến tranh, cũng có thể “vô tâm” trước chiến tranh –dù cho đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Đặc điểm từ hai phía của chiến tranh Việt Nam, một bên thì rất dứt khoát và tàn bạo với “kẻ thù”. Một bên vì hoàn cảnh buộc lòng phải cầm súng chiến đấu -mình không bắn nó thì nó bắn mình. Hành động tự vệ. Lý do là bởi, người dân miền Nam được sống trong một xã hội nhân bản, tình người còn lai láng trong xã hội. Trịnh Công Sơn là một người tài, có nhiều thiên bẩm về âm nhạc được may mắn sống trong lòng xã hội đó. Nhờ đó, âm nhạc của họ Trịnh được nuôi dưỡng, được "che chỡ" và có môi trường phát triển. Một quân nhân có thể vừa cầm súng chiến đấu hăng say ở chiến trường, đồng thời trong một phút giây nhàn rỗi, nhớ nhung, nghĩ về thân phận quê hương vẫn có thể say sưa hát nhạc Trịnh Công Sơn. Ngoài cái “vốn” xã hội nhân bản đó, cộng với tài năng âm nhạc còn phải kể thêm sự ưu ái, mến mộ nhạc Trịnh còn xuất phát từ nhân cách riêng của Trịnh Công Sơn. Nhân cách riêng ấy lây lan trong dư luận quần chúng đã tạo nên một hiện tượng. Đặng Tiến nhận xét : Ngoài ra, hiện tượng Trịnh Công Sơn cũng đã thành hình qua vài yếu tố phụ : dáng người mảnh khảnh, nho nhã, bạch diện thư sinh làm người ta yêu mà không làm người ta sợ. Anh chăm sóc kỹ lưỡng cách ăn mặc, “sang”một cách kín đáo, “thàng” khi trình diễn. Nói năng nhỏ nhẹ, giọng Huế dịu dàng, trung lập, không phải là giọng Bắc Kỳ toàn trị, hay Nam Kỳ tự trị, mà với một giọng Huế trung dung, thường thường là phát âm đúng. Lối nói thân mật, tạo ra ảo tưởng ở nhiều người : mình là người thân thiết của Trịnh Công Sơn, không “nhất” thì cũng gần gần như vậy. Cái cảm giác “gần gần” không phải lúc nào cũng lành mạnh. (Trịnh Công Sơn: Tiếng hát Hoà Bình, Đặng Tiến) “Giọng Huế trung dung” theo Đặng Tiến, còn có thể hiểu rộng ra là con người trung dung, thái độ chính trị trung dung. Thái độ chính trị trung dung đồng nghĩa với thái độ trung lập. Nhưng, căn tính của chủ nghĩa cộng sản vốn đối nghịch với “chính trị trung lập”. Anh chỉ có thể đứng với 'giai cấp cách mạng, giai cấp tiên tiến', hoặc đứng ở phía 'giai cấp phản động', chứ không thể đứng ở giữa hai giai cấp. Một cán bộ cao cấp cộng sản nào đó từng ví von kẻ đứng ở vị thế trung lập cũng giống như đứng ở chỗ “cái bẹn” giữa hai chân. Thế mà Trịnh Công Sơn lại nhận được một “đặc ân” là được cả hai phía thương quý. Hoàng Xuân Sơn giải thích : “-Trịnh Công Sơn dáng người tầm thước, da ngăm ngăm nhưng thần thái khá rạng rỡ. Anh ăn bận hơi chải chuốt nhưng nom lãng tử, nghệ sĩ với mái tóc bồng và đôi kính cận tròn gọng đồi mồi. Nói chung, bề ngoài anh nhìn dễ mến. Đặc biệt Trịnh Công Sơn có hai bàn tay với mười ngón tháp bút thật đẹp. Có phải tinh hoa phát tiết từ đây theo tướng số? Anh Sơn ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng khúc chiết và có sức thuyết phục. Anh đối xử với bạn không đơn sơ hờ hững, nhưng cũng không vồ vập thái quá. Ở anh, ta thấy được sự chân tình và đáng tin cậy trong giao tiếp. Tuy nhiên tính tình Trịnh Công Sơn hơi nhút nhát, hay sợ hãi, nễ vì, sợ mất lòng bạn. Có lẽ đây vừa là ưu điểm, tạo được lòng quan tâm, quý mến đưa đến sự che chở, bảo bọc của người khác, mà cũng là khuyết điểm của anh, bị kẻ xấu lợi dụng, bắt nạt, dụ dỗ, dễ yếu lòng nghe theo. Cụ thể là đám bạn nhảy bưng, nằm vùng như đã nêu. Đối với những bằng hữu văn nghệ nhỏ tuổi hơn, Trịnh Công Sơn luôn luôn đối xử như bạn bè ngang vai vế, không hề có thái độ đàn anh, không hợm hĩnh dù anh rất thành công. Trịnh Công Sơn đã có được sự ưu ái của những nhân vật cao cấp của cả hai chính quyền, hai chế độ. Tôi nghĩ chắc hẳn anh cũng phải có điểm son đặc biệt nào đó, ví dụ như lòng chân thành và sự chung thủy trong giao tiếp bạn bè.” Trịnh Công Sơn nhận được sự “ưu ái” của chính quyền cộng sản, hẳn ai cũng biết là tác giả muốn nói tới nhân vật Võ Văn Kiệt, người đã từng “bao che, giúp đỡ” cho nhạc sĩ Trịnh từ lúc ông còn sống và làm thủ tướng. Dĩ nhiên, đây là trường hợp đặc biệt, có thể vì ông Võ Văn Kiệt không phải là người cộng sản “thuần thục”, còn mang nhiều tình người, cũng có thể vì ông Kiệt là một người cộng sản thức thời, thấy trước viễn tượng băng hoại của đảng CSVN, mà sự “ưu ái” Trịnh Công Sơn là một mở đầu giúp cho tiến trình băng hoại ấy trở nên hòa dịu, thay vì một biến trạng khốc liệt? Trong cái nhân cách của Trịnh Công Sơn, vừa ưu điểm đồng thời là khuyết điểm, theo HXS. Khuyết điểm ấy là bản tính “nhút nhát, hay sợ hãi, nễ vì, sợ mất lòng bạn…” nên dễ “bị kẻ xấu lợi, bắt nạt dụ dỗ, dễ yếu lòng nghe theo.” Đọc tới nhận xét này, tôi chợt nhận ra là Hoàng Xuân Sơn trả lời Bùi Văn Phú khi đề cập tới buổi sáng ngày 30/4/75, khi được TCS tạt ngang nhà mời gọi cùng ra đài phát thanh hát “Nối Vòng Tay Lớn” không hề nhắc lại kẻ đứng bên kia đường cùng đi với TCS là Nguyễn Hữu Thái. Trong khi nhân vật Nguyễn Hữu Thái đã để lại nhiều dấu hỏi về sự “chân thật” trong bài viết : 30/4/1975, Trịnh Công Sơn và tôi Nguyễn Hữu Thái. Viết nhân ngày 30/4 năm 2010. Có nhiều dư luận trên Net cho rằng Nguyễn Hữu Thái (người có mặt trong giây phút đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập) là người ở trong tổ chức T4, là tổ chức đã tham gia ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông trước năm 1975? Tôi lại nhớ đã đọc bài viết 40 năm hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn, Thái Hòa và tôi của bà Trần Tuyết Hoa (phu nhân của ông Nguyễn Hữu Thái). Theo Trần Tuyết Hoa, trong niên khóa 1964-65, bà ở “trong Ban đại diện Sinh viên Đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn (đường Nguyễn Trung Trực, nay là Thư viện Quốc gia)”, bà đã gặp TCS với ca sĩ Thái Thanh đến trường Văn Khoa hát. Tôi đọc bài viết này đã lâu, không biết sau này bà có bổ sung và thay đổi chi tiết gì nữa không, chưa có thời giờ kiểm chứng lại. Tuy, có vài ghi nhận Trần Tuyết Hoa cũng có “gần gũi và góp ý” trong việc sáng tác nhạc với TCS trong cách riêng của một người Phật tử tranh đấu, nhưng lại có vài chi tiết về thời gian và sự kiện lại không giống với ghi nhận của Hoàng Xuân Sơn về TCS. Một nhân vật khác là giáo sư Cao Huy Thuần, ngoài công việc là người từng giới thiệu từng bài hát một trong nhiều chương trình nhạc TCS được tổ chức ở Pháp, còn có nhiều bài viết đặc sắc về “ca từ” của nhạc TCS. Trong một bài viết khác, Nhạc chống chiến tranh của Trịnh Công Sơn , Cao Huy Thuần viết : Nhưng Huế của Trịnh Công Sơn không phải chỉ là hừng hực đấu tranh, rầm rập xuống đường, mà còn là Huế muôn thuở mà chúng tôi nói đùa là "Huế thơ, Huế mộng, Huế tộng bộng hai đầu" bởi vì chẳng có gì khác ngoài mộng với thơ. Đó là Huế của Diễm Xưa, tay dài và mắt xanh xao, tha thiết, chung tình, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Trịnh Công Sơn là giọt máu của Huế. Trong giọt máu đó, có phẫn nộ, uất ức, đấu tranh, và đồng thời có cả một khối đa tình, nghĩa là đa lụy. Thơ mộng và tranh đấu, Huế - Sài Gòn - Hà Nội, quê hương ơi ... Có lẽ Trịnh Công Sơn là người cuối cùng vinh danh Huế như thế, nhởn nhơ, vô tư để Huế đứng đầu sổ trong ba tên. Nhưng mà thật như vậy, Từ sông Hương ta kêu sông Hồng về Cửu Long Có áo cơm vàng / một bình minh dân ta ca hát / khắp giang sơn…” Theo tôi, Cao Huy Thuần là một cây bút sâu sắc, thâm trầm, ngôn ngữ uyên bác mà cẩn trọng. Vì vậy, khi đọc Cao Huy Thuần, tôi cũng rất cẩn trọng với từng chữ nghĩa. Tôi hơi thắc mắc với cụm chữ gần như là ca dao ở Huế : “Huế thơ, Huế mộng, Huế tộng bộng hai đầu”. Có ít nhất là bốn người Huế trong cơ hội gặp gỡ, tôi đã nhắc lại câu này với lời giải thích riêng. Huế thơ, Huế mộng…là đặc tính lãng mạn của người xứ Huế, thì không có ai phản đối, nhưng khi tôi nói “Huế tộng bộng…” có nghĩa ruột ngựa, thẳng đuột từ đầu ra tới đầu vào, không thâm, không nham hiểm…thì bị phản đối ngay. Có người cho rằng nếu giải thích theo ý trên thì phải dành cho người Nam mới phải, trong khi ngụ ý của câu nói là "xấu"! Tôi đành phải tra cứu từ điển vậy. Trong Đại-từ-điển tiếng Việt (Hà Nội xuất bản) thấy ghi là “tộng phộng” : 'Rỗng, không có phần lõi, phần ruột ở bên trong. Trông thì to nhưng tộng phộng, ăn thua gì.' (Nhà xuất bản Văn hóa&Thông tin, 1998, trang 1673.) Tìm thêm trong cuốn từ điển phương ngữ “Từ điển tiếng Huế” của bác sĩ Bùi Minh Đức thấy ghi : ‘tồn bộn’ (tộng bộng): trống rỗng (trái bầu tồn bộn để đựng nước) [trang 910]; nghĩa khác: Huế thành thật (dân xứ Huế rất thành thật đúng với câu: ‘Huế thơ, Huế mộng, Huế tộng bộng hai đầu’) [trang 444]. Đối với văn học dân gian, tập tục, thói quen, cá tính… khi đã trở thành truyền thống của đa số thì sẽ trở thành ca dao, tục ngữ. Hẳn là chúng ta không có gì để thắc mắc với “Huế chân thành” cả. Trịnh Công Sơn không thể nào không mang một trộn lẫn giữa cái chung của xứ Huế và cái riêng của ông: nhút nhát, nễ vì…nên dễ bị bắt nạt dụ dỗ, dễ yếu lòng nghe theo, theo nhận xét của Hoàng Xuân Sơn và tha thiết, chung tình theo Cao Huy Thuần, đã tạo thành một hợp-tố-chất-Trịnh-Công-Sơn. Không có chất Huế thì không thể có con người Trịnh Công Sơn! Nhưng, chúng ta đừng nhầm cá nhân Võ Văn Kiệt là Đảng CSVN. Nếu một người cộng sản đích thực thì không bao giờ họ “ưa” nỗi Trịnh Công Sơn –một thành phần giai cấp “tiểu-tư-sản” lừng khừng, lưng chừng, nhu mì, yếu nhược…làm hư hoại tính bạo lực cách mạng và kiên quyết. Lẽ ra Trịnh Công Sơn đã có thể chết trên những bãi mìn ở Huế sau “giải phóng” trong thời gian đi lao động cải tạo ở Huế. Và, chắc là “cũng đáng đời thôi!” Nhưng, ông đã sống và đã may mắn trên cả mức bình thường. Sự may mắn ấy chưa hẳn là một điều hay. Bởi, như Hoàng Xuân Sơn nhận xét sau cùng, TCS đã có “biến chất” : Sau này, khi gặp lại Trịnh Công Sơn một lần duy nhất ở Canada, một vài bạn cũ, và chính tôi cũng nhận thấy anh có phần biến chất: một người đã từng được hưởng ơn mưa móc của chế độ mới qua cách suy nghĩ, diễn đạt và ứng xử. Như thế, từ thời điểm này, bảo Trịnh Công Sơn là người của cộng sản cũng không ngoa. [Hoàng Xuân Sơn trả lời Bùi Văn Phú, câu hỏi 22] Theo tôi, câu trả lời này thừa, bởi cái “chất” của TCS chẳng thể nào “biến” được cả, bởi, cái chất ấy nó đã nằm trong những “cá tính” mà HXS đã nhận xét về con người của TCS rồi mà; cho nên nói TCS “là người của cộng sản” cũng tội tình đấy. "Tội tình" ấy, vả chăng xuất phát từ 'ân tình' với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt mà có. TCS không thể là cộng sản nằm vùng thì rõ như ban ngày rồi, lại càng không thể là người của cộng sản, nhưng cộng sản qua từng giai đoạn chính trị đã biến TCS thành một "ân nhân" của họ, với kết thúc là con đường mang tên Trịnh Công Sơn ở Huế. Đó là hành vi “ăn gian” văn hóa (và chính trị, dĩ nhiên), dù họ có quyền làm điều đó và họ làm đúng. Trịnh Công Sơn không bao giờ là người của họ cả. Một số thành phần ở hải ngoại, dù ghét cái chuyện đặt tên đường đó cũng không thể phản đối được. Cộng sản có cả chế độ, chính thể để thi triển chính sách, đường lối (và có khi chính sách rất lưu manh, nếu cần!). Ở hải ngoại cũng như một phần trong nước là những cá nhân, những nhóm, đoàn thể…cứ mãi miết chống cộng một chiều, nên nhiều khi khôn mà không ngoan. Lẽ ra, họ phải biết "ôm giữ" TCS về phía mình, bởi đích thực TCS là phẩm chất, là con người, là một phần tử do xã hội nhân bản ấy tạo nên, cuối cùng lại bị đối phương “dụ dỗ”, xưng tụng, tôn vinh thành là người của phía mình. Đến đây, tôi nghĩ “vấn đề” của Trịnh Công Sơn “quốc gia hay cộng sản” nên chấm hết là đúng lúc. nguyễn văn hóa Thursday, May 12, 2011 (*) Bài viết được bổ sung vài ý nhỏ ngày 14/5/2011.
|
© copyright giaodiem.us | 2009