đăng ngày: 01.5.2011
|
|
|
Nhân đọc “Ai Giết Phạm Quỳnh?” của một số tác giả trong và ngoài nước Nguyễn Văn Hóa Lịch sử có nhiều điều oái ăm. Oái ăm không phải tự bản thân lịch sử mà xuất phát từ con người viết lại lịch sử. Trường hợp của Phạm Quỳnh, là một. Sau tháng 4/1975, tôi được tham dự các khóa học chính trị do chế độ cộng sản miền Bắc tổ chức cho các thành phần giáo chức, sinh viên chế độ cũ …muốn học chuyển tiếp với chế độ mới. Trong thời gian ấy, tôi có đọc thường xuyên một số tạp chí định kỳ hàng tháng. Trước tiên là tạp chí “Đứng Dậy” bộ mới của “Đối Diện” ngày trước. Đọc “Đứng Dậy” làm cho mình có cảm giác thoải mái, vì dù sao cũng còn những cây viết cũ, quen thuộc của miền Nam. Hơn nữa, không có mùi tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản ở trong đó. Nhưng, một thời gian sau, tạp chí “Đứng Dậy” bị nhà nước cho nằm xuống luôn. Từ khao khát đọc và tìm hiểu trình độ sách báo của các tác giả ngoài miền Bắc ra sao, tôi mua đều mỗi tháng tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, Nghiên Cứu Kinh Tế, thỉnh thoảng mua một vài số tạp chí Cộng Sản, nếu thấy có một vài bài “lạ”, hoặc có một bài dịch thuật nào đó từ tiếng nước ngoài; và dĩ nhiên một số tạp chí khác nữa về văn học… –nhưng mua không thường xuyên. Vào lúc ấy, tôi có một số nhận xét như sau: -Tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử (NCLS) là khá nhất, vì ít tuyên truyền, đáng ca ngợi là những bài khảo cổ; tuy nhiên cái lối viết của các tác giả ngoài miền Bắc dễ làm người đọc coi thường, vì một bài lịch sử nào rồi cũng đưa tới phê phán bằng “biện chứng duy vật lịch sử, tính giai cấp (còn gọi là đảng tính)” để kết luận. Nếu so sánh NCLS với Tập san Sử Địa trong Nam, thì giá trị của tạp chí NCLS thua xa, không đáng để gọi là một tạp chí “nghiên cứu”. -Từ đó, tôi nhận xét thêm: tạp chí Nghiên Cứu Kinh Tế (NCKT) không xứng đáng để so sánh với các tạp chí trong Nam cùng loại, như : Phát Triển Kinh Tế, Phát Triển Xã Hội. Bởi, trong thực tế các chế độ cộng sản không có lý thuyết kinh tế cộng sản. Nội dung của NCKT là những bài viết về chính sách của đảng tràng giang đại hải, những con số thống kê khô khan phần lớn là để tuyên truyền. -Các tạp chí về văn học, văn chương của họ… lối viết cũng tương tự như tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử là bao giờ cũng có tính đảng (tính giai cấp) trong đó; nhất là loại văn học trong giai đoạn “chống Mỹ cứu nước” thì nuốt không vô. Người đọc không thể nào tìm thấy sự thú vị trong văn chương cộng sản được. Có lẽ ở lãnh vực khoa học, kỹ thuật cũng thế thôi. Chưa kể tới những tạp chí đặc sắc ở các Viện Đại học như Tư Tưởng (Đại học Vạn Hạnh), Đai Học (Đại học Huế) và một số tạp chí khác từ các cơ sở xuất bản của các tôn giáo và v.v.. Lượng sách báo ở miền Nam là cả một biển sách. Nhận xét qua tâm lý chung, tôi thấy giới học thức ở miền Nam (từ giáo sư tới sinh viên cũ) coi thường các “học giả”, giáo sư, trí thức ở miền Bắc với nhiều lý do rất chính đáng. Tháng 2/1979, Tàu “uýnh” đảng cộng sản Bắc Việt. Một vài năm sau, tôi tìm được vượt biển. Trong thời gian trước khi đi, tôi thấy nhà nước cộng sản đang hối hả chuẩn bị sửa lại các sách giáo khoa về bộ môn lịch sử từ trung học lên tới đại học, thu hồi các sách giáo khoa cũ. Họ chú trọng tới sự sửa đổi lịch sử trong các thời kỳ Bắc thuộc và Cận đại, có liên quan nặng nề tới Trung Hoa. Bây giờ, tôi không hiểu sau gần thập niên được bang giao với Trung Hoa, họ đã sửa đổi lịch sử ra sao cho phù hợp với tình thế mới giữa Tàu và Việt Nam. Sự thể ra sao thì tôi chưa rõ, nhưng thấy đảng cộng sản đang chuẩn bị cho một sự “đổi màu” đối với thế giới Tây phương. Sự thảm sát Phạm Quỳnh là một thí dụ điển hình. Đảng cộng sản có lẽ muốn thú nhận hành động giết hại Phạm Quỳnh là một sai lầm tai hại. Tai hại chính trị, nhất là dưới đôi mắt của phương Tây cho tới ngày nay; nhưng họ cho rằng việc đó không phải là lỗi của Hồ Chí Minh –bởi, Hồ Chí Minh là một “ông thánh”, nên kẻ được đưa ra làm con dê tế thần là Tố Hữu. Nói tới Tố Hữu thì ai cũng phải liên tưởng tới mấy câu thơ ca tụng Stalin, thơ khích động “giết người –giết kẻ thù”. Tháng 8/1945, khi Hồ Chí Minh và đồ đệ thành công trong thủ thuật chính trị lừa đảo được Vua Bảo Đại; đã tiêu diệt hết “mầm mống” yêu nước Quốc Dân Đảng; thanh trừng toàn bộ các thành phần quan trọng Cộng sản Đệ Tứ ở miền Nam, Tố Hữu đúng 25 tuổi -được phong làm chủ tịch “Ủy Ban Khởi Nghĩa” ở tỉnh Thừa Thiên. Chúng ta hãy lưu ý : “Ủy Ban Khởi Nghĩa” chỉ là cơ cấu tổ chức cấp thời của Việt Minh nhằm đáp ứng cho âm mưu cướp chính quyền từ triều đình Huế qua tay cộng sản, chỉ có thẩm quyền địa phương –dù địa phương đó đang còn là kinh đô. Như vậy, kẻ đứng đầu tổ chức đó dù có hăng say, sắt máu cỡ nào đi nữa cũng không dám tự ý hạ sát một nhân vật có tiếng tăm như Phạm Quỳnh, nếu không có lệnh từ ngoài Hà Nội của Hồ Chí Minh ban xuống. Ngay cả danh sách bắt giữ ba người : Phạm Quỳnh, Ngô đình Khôi (và con là Ngô đình Huân) cũng phải xuất phát từ lệnh của trung ương chỉ đạo. Tố Hữu, một nhà thơ “đồ tể” theo cách gọi của nhiều người thù ghét cộng sản, nhưng theo nhà phê bình văn học Đặng Tiến là “người có tài và có ý thức về thi pháp, thậm chí có khả năng cách tân thơ. Tiếc là đã không làm. Trong bài Huế Tháng Tám, 1945, ông đã viết : Cổ ta ré trăm trận cười trận khóc …Ta hét huyên thiên ta chạy khắp nhà …Ngực lép bốn nghìn năm. Trưa nay gió mạnh Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi … Nhưng Hồ chí Minh, ngay sau đó, đã gay gắt phê phán.” (trích từ Tố Hữu, Đặng Tiến) Mời đọc lại: Đặng Tiến: Tố Hữu http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=983&rb=0101 hoặc: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9782&rb=0101 Trong không khí thành công cướp được chính quyền từ triều đình Huế của Việt Minh-Hồ Chí Minh, “chú Tố Hữu” vẫn còn là cậu thanh niên mang tâm hồn cách mạng của một "chú “con nít”, nên sướng quá ré lên vừa khóc vừa cười, đến nỗi bài thơ sau đó phải bị “bác” la rầy. Và 7 năm trước đó, tâm hồn Tố Hữu còn “trong trắng” hơn nữa, khi Hoàng Nguyên Nhuận viết : “Và nếu hiểu rằng lãng mạn cách mạng là khuynh hướng nghệ thuật tiến bộ tin tưởng vào cuộc sống tương lai tươi đẹp (6) thì ngay cả cách mạng vô sản của Hoài Thanh cũng chỉ là một thứ cách mạng lãng mạn. Tố Hữu đã kết luận bài thơ Lão Đầy Tớ viết hồi tháng 6.1938 bằng hai câu : Và há mồm khoan khoái Lão ngồi mơ nước Nga” Mời đọc lại: Hoàng Nguyên Nhuận: Một tâm hồn mã thượng ham vui http://www.giaodiem.com/doithoaiII/hnn_tohuu.htm nếu đường link bị mất, xin đọc theo đường link thứ hai: Tố Hữu lãng mạn cách mạng nên như “lão đầy tớ” cũng ngồi mơ nước Nga, như tin tưởng vào cuộc sống tương lai tươi đẹp, có khác chi là Hoài Thanh đâu (!). Từ cái “cảm nhận” thi ca qua con người thi sĩ lãng mạn như vậy đó, nên ở hải ngoại chưa có ai “dám” bênh vực Tố Hữu như tác giả Hoàng Nguyên Nhuận, bởi như ông viết đã phục được Hàn Tín luồn trôn thì không thể nào chê trách Tố Hữu được. Luận văn chương như thế là một cách viết độc đáo về “nhà thơ chính trị” nhân dịp Tố Hữu chết; nhưng, nếu như Đảng Cộng sản Việt Nam –với “cha già” đứng đầu là Hồ Chí Minh, kẻ đã gián tiếp tạo nên “phẩm chất và con người” cộng sản Tố Hữu (đồng thời là một "tiểu tử" được cưng chìu của Chủ tịch) đang làm thẩm phán kết án "hồn ma" Tố Hữu chính là thủ phạm giết hại “nhà văn hóa, nhà học giả -người từng được bác Hồ gặp gỡ và quý mến” Phạm Quỳnh, thì hai nhà phê bình văn học và thi ca Đặng Tiến và Hoàng Nguyên Nhuận phải nghĩ sao đây? Điều đó, thật ra dễ trả lời lắm. Đó chính là bản chất của con người cộng sản và chế độ cộng sản. Không có việc gì, vật gì, kể cả con người trên thế gian mà không trở thành phương tiện, ngoại trừ “cha già” của Đảng. Cha già là linh hồn, là sự sống của Đảng. Cha hư là đảng hư, cha xấu là đảng xấu, cha sát nhân hàng vạn người là đảng mang tiếng sát nhân, danh cha “mất” là mất đảng. Nên chi "cha già" phải là nhân vật được "loại trừ". Hãy chờ đợi một ngày nào đó khi Nguyễn đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường/ Ngoc Phan v.v..chết đi thì chính Đảng sẽ có kẻ thừa hành làm "thẩm phán" kết tội đây chính là những "đồ tể" dân Huế trong Tết Mậu Thân, còn Đảng thì vô can nên lúc nào cũng xót đau cho gia đình các nạn nhân. Kẻ thừa hành để bảo vệ “cha già” của đảng mà tôi muốn đề cập hôm nay chính là “Đại Tá, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan” trong bài viết “Về Ngày “Ủy Ban Khởi Nghĩa Thuận Hóa Mời Phạm Quỳnh Ra Làm Việc Để Rồi “Đi Không Bao Giờ Trở Lại””. Xin lưu ý, Nguyễn Văn Khoan không chỉ là một Đại tá Quân Đội Nhân Dân mà còn là một tiến sĩ sử học nữa! Với một xuất thân lộng lẫy như thế, nên ông đã nhấn mạnh rằng, công việc của ông mang “tính khoa học lịch sử”. Nhưng, trước khi đi vào chữ nghĩa khoa-học-lịch-sử của tiến sĩ Khoan, xin mời độc giả đọc trước bài viết ‘TẠI SAO CỘNG SẢN GIẾT PHẠM QUỲNH ?’ của Trần Gia Phụng, kế tiếp là nối kết (link) bài viết của Đại tá tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan. nguyễn văn hóa _________________________________________ TẠI SAO CỘNG SẢN GIẾT PHẠM QUỲNH ?’ Trần Gia Phụng
Việt Minh cộng sản đã giết Phạm Quỳnh (1892-1945) hai lần: Lần thứ nhất hạ sát, che giấu và phi tang thân xác ông tại Huế năm 1945. Lần thứ hai, bóp méo lịch sử, viết sai lạc về Phạm Quỳnh, nhằm hủy diệt luôn sự nghiệp và thanh danh của ông. Một câu hỏi cần được đặt ra là lúc đó Phạm Quỳnh đã rút lui khỏi chính trường, tại sao cộng sản lại giết Phạm Quỳnh, trong khi cộng sản không giết Trần Trọng Kim và toàn bộ nhân viên nội các Trần Trọng Kim, là những người đang còn hoạt động? Câu hỏi nầy cần tách ra làm hai phần để dễ tìm hiểu: Thứ nhất : Từ khi đến Trung Hoa hoạt động năm 1924, Hồ Chí Minh, điệp viên của Đê Tam Quốc tế Cộng sản, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, đã chủ trương “giết tiềm lực”. Giết tiềm lực là tiêu diệt tất cả những cá nhân có khả năng tiềm tàng mà không chịu theo chủ nghĩa cộng sản hay đảng Cộng Sản, có thể sẽ có hại cho đảng Cộng sản trong tương lai. Những người nầy về sau có thể sẽ hoạt động chính trị và có thể sẽ gây trở ngại, gây nguy hiểm cho sự phát triển của cộng sản. Nạn nhân danh tiếng đầu tiên của chủ trương giết tiềm lực của Hồ Chí Minh là Phan Bội Châu (1867-1940). Phan Bội Châu bị Lý Thụy bán tin cho Pháp, để Pháp bắt Phan Bội Châu năm 1925 tại nhà ga Thượng Hải, nhằm đoạt lấy tổ chức của Phan Bội Châu. (Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, bản dịch của Nguyễn Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.) Từ đó, Hồ Chí Minh và phe đảng thi hành chủ trương giết tiềm lực, ngầm thủ tiêu rất nhiều thanh niên sinh viên hoạt động chính trị, và nhất là năm 1945, khi nắm được quyền lực, Việt Minh (VM), mặt trận ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), đã giết hầu hết những nhân tài không theo VM. Tại Huế, VM tìm tất cả các cách nhắm cô lập vua Bảo Đại. Cách tốt nhất là cách ly nhà vua với những người có khả năng và uy tín thân cận bên cạnh nhà vua, trong đó quan trọng hơn cả là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi. Do đó, VM ra lệnh bắt Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi cùng con của ông Khôi là Ngô Đình Huân ngày 23-8-1945. Đồng thời VM sắp đặt những người của VM như Tạ Quang Bửu, Phạm Khắc Hòe vây quanh rỉ tai nhà vua, phóng đại về kháng chiến, về Việt Minh.(Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tr. 184.) Theo David G. Marr trong Vietnam 1945, The Quest for Power, sau khi Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi bị bắt, người Nhật can thiệp một cách yếu ớt không hiệu quả. Ngày 28-8, sáu người Pháp nhảy dù xuống một địa điểm cách kinh thành Huế khoảng 20 cây số nhắm mục đích bắt liên lạc với vua Bảo Đại và các cựu quan Nam triều. Lúc đầu, VM địa phương tưởng những người Pháp nầy là người của phe Đồng Minh, cho họ trú tạm tại một ngôi nhà thờ, nhưng khi biết rằng đây là những người Pháp có ý định tìm cách liên lạc với các quan chức Nam triều cũ, VM liền giết bốn người, và cầm tù hai người đến tháng 6-1946. (David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực] University of California Press, tt. 452-453.) Trong khi cô đơn, lại bị Phạm Khắc Hòe xúi giục và hù dọa, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8-1945, và làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8-1945, với sự hiện diện của đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, và Cù Huy Cận. Theo hồi ký của Trần Huy Liệu, sau khi Nhật đầu hàng, người Pháp nhảy dù xuống Huế, liền hỏi ngay đến Bảo Đại, Phạm Quỳnh và những người cộng tác với Pháp trước đó. Việt Minh bắt được toán người Pháp nầy và "xử lý thích đáng" Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. (Nguyên văn lời của Trần Huy Liệu.) Theo lối chơi chữ của Trần Huy Liệu, "xử lý thích đáng" có nghĩa là thủ tiêu hai ông Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. Nhiều người cho rằng việc người Pháp muốn kiếm cách liên lạc với cựu hoàng Bảo Đại và Phạm Quỳnh (vì lý do gì không được rõ) vô tình đã làm cho VM lo ngại, sợ rằng một khi người Pháp trở lui, Pháp sẽ nhờ Phạm Quỳnh và những người đã từng làm việc với Pháp như Ngô Đình Khôi giúp Pháp lật ngược thế cờ, đưa cựu hoàng trở lại cầm quyền. Do đó VM vội vàng "mời" cựu hoàng Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945, ra Hà Nội làm cố vấn chính phủ, để cách ly cựu hoàng với cố đô, chiếc nôi của nhà Nguyễn, đồng thời cách ly cựu hoàng với những cận thần cũ. Vì vậy VM giết ngay các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi ngày 6-9 để trừ hậu hoạn. Trong khi đó, nếu người Pháp trở lui Huế, người Pháp cũng không hợp tác với Trần Trọng Kim, vì ông Kim và nội các của ông bị gán cho là thân Nhật. Thứ hai : Khi cướp chính quyền, VM đã chủ ý giết một số người trong đó có Phạm Quỳnh. Việt Minh chủ ý giết Phạm Quỳnh vì: 1) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quân chủ lập hiến tại nước ta, và cho rằng cộng sản là "nạn dịch" gây bất ổn xã hội. (Phạm Quỳnh, “Ce que sera l’Annam dans cinquante ans?”[Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?], Essais franco-annamites (1929-1932), Huế: Nxb. Bùi Huy Tín, 1937, tr. 500.) Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền quốc học trong khi Việt Minh muốn phổ biến chủ nghĩa cộng sản. 2) Ở trong nước, Phạm Quỳnh tiêu biểu cho giới trí thức làm văn hóa, theo chủ nghĩa dân tộc, lập trường quốc gia, bất bạo động, dấn thân hoạt động chính trị. Việt Minh giết Phạm Quỳnh để đe dọa, uy hiếp và khủng bố tinh thần giới trí thức hoạt động văn hóa trên toàn quốc. Đây là lối mà người xưa gọi là "sát nhất nhân, vạn nhân cụ "(giết một người, mười ngàn người sợ). 3) Đối với nước ngoài, Phạm Quỳnh là người được Pháp ủng hộ và rất có uy tín trên chính trường Pháp. Với đường lối ôn hòa, ông còn có thể được cả Nhật, Trung Hoa (lúc bấy giờ do Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cầm quyền), Anh, Hoa Kỳ chấp nhận hơn là đường lối cực đoan theo Liên Xô của Hồ Chí Minh. 4) Hồ Chí Minh muốn chụp lấy ngay thời cơ tạo ra do khoảng trống chính trị sau tối hậu thư Potsdam vào cuối tháng 7-1945, nên chủ trương tiêu diệt tất cả những người nào có khả năng tranh quyền với Hồ Chí Minh, để cho ở trong cũng như ngoài nước thấy rằng chỉ có một mình Hồ Chí Minh mới xứng đáng lãnh đạo đất nước. Phạm Quỳnh đã từng là thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều đình Huế. Đặc biệt những điều ông viết về tương lai thế giới mà ông đưa ra từ 1930 trong bài "Ce que sera l ' Annam dans cinquante ans?" [Nước Nam sẽ ra sao năm mươi năm sau?] đều đã diễn ra đúng theo ông tiên liệu, như mối đe dọa của Nhật Bản, nạn dịch cộng sản, xung đột Thái Bình Dương, đại hỏa hoạn ở châu Âu [thế chiến 2]. Nhờ thế mà uy tín Phạm Quỳnh lên rất cao. Phạm Quỳnh có uy tín và tư thế lớn đối với dư luận trong và ngoài nước, là một trong những người có thể trở thành đối thủ đáng ngại của Hồ Chí Minh, nên Hồ Chí Minh quyết tiêu diệt Phạm Quỳnh để tránh trở ngại về sau. 5) Khi mới nổi dậy năm 1945, để lôi cuốn quần chúng, Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, chứ không phải là đảng viên cộng sản, và Hồ Chí Minh ra đi để tìm đường cứu nước, đồng thời Hồ Chí Minh tự giấu thật kín chuyện xin vào học trường Thuộc Địa Paris mà bị loại. Một chuyện nữa cũng thuộc loại “thâm cung bí sử” của Hồ Chí Minh là việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) ở Paris vào đầu năm 1922. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue Française d'Histoire d'Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d'Histoire d'Outre-mer, tr. 105.) Hội Tam Điểm là một hội có chủ trương chính trị đối lập với đảng Cộng Sản và là kẻ thù của đảng Cộng Sản. Cũng trong năm 1922, theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”. Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp. Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật ký là đã gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đã gặp trong nhật ký. Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rõ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.] Như thế, Phạm Quỳnh là một trong những người biết rõ tung tích Hồ Chí Minh ở Paris, biết rõ Hồ Chí Minh đã gia nhập hội Tam Điểm Pháp, và đặc biệt Phạm Quỳnh còn sống cho đến 1945. (Những người khác như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đều đã từ trần.) Phạm Quỳnh là một nho sĩ chính trực nên ông không tiết lộ cho vua Bảo Đại biết điều nầy, do đó nhà vua mới bị Phạm Khắc Hòe dẫn dụ về nhân vật Hồ Chí Minh. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, tt. 184-185.) Phải chăng vì là người đã lỡ "biết quá nhiều" về Hồ Chí Minh mà Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh ám hại? Do những lẽ trên, nếu không có những người Pháp nhảy dù xuống Huế như tác giả David G. Marr viết hay Trần Huy Liệu kể, cộng sản cũng vẫn giết Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim đều là hai nhà văn hóa, và chính trị nổi tiếng trên toàn quốc. Trần Trọng Kim viết khảo cứu có tính cách hoàn toàn chuyên môn, chứ không có chủ trương chính trị lâu dài; nội các Trần Trọng Kim gồm những chuyên viên cần thiết cho việc xây dựng cơ sở căn bản trong giai đoạn chuyển tiếp từ chính quyền Pháp qua chính quyền Việt. Trần Trọng Kim ít biết về những hoạt động của Hồ Chí Minh lúc còn ở Paris. Ngược lại, Phạm Quỳnh trước tác với một ý hướng chính trị rõ ràng: xây dựng một nền văn hóa dân tộc, bảo tồn quốc tuý, nâng cao trình độ văn hóa của dân chúng bằng cách phổ biến văn hóa Âu tây, dịch thuật những tư tưởng dân quyền của Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Phạm Quỳnh tham gia triều đình Huế cũng nhắm đến một chủ đích rõ ràng: tranh đấu ôn hòa, nhưng cương quyết yêu cầu Pháp trả lại chủ quyền cho triều đình, và xây dựng một hiến pháp làm luật lệ căn bản của quốc gia. Ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Phạm Quỳnh khá rộng rãi trên các tầng lớp quần chúng, nhất là giới trí thức trung lưu, từ lớp trí thức Nho học đến cả lớp trí thức và thanh niên tân học. Tạp chí Nam Phong được các lớp người ưu tú ở các địa phương lúc bấy giờ trên toàn quốc xem như loại sách báo giáo khoa chỉ đường. Đó là điều mà cộng sản chẳng những không thể chấp nhận và cũng không thể dung thứ, vì cộng sản muốn nắm độc quyền lãnh đạo chính trị, độc quyền yêu nước, độc quyền chân lý. Xin hãy chú ý thêm ngày Phạm Quỳnh bị sát hại : Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bị nhóm VM địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945 với sự chứng kiến của đại diện chính phủ Việt Minh từ Hà Nội đến là Trần Huy Liệu (bộ trưởng bộ Tuyên truyền), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận (bộ trưởng không bộ nào tức quốc vụ khanh). Phạm Quỳnh bị giam giữ một thời gian, rồi mới bị giết ngày 6-9-1945, nghĩa là lúc đó đã có mặt của đại diện trung ương của VM và của đảng CSĐD. Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ VM địa phương chắc chắn không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc nầy. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế để giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh? Sau khi Phạm Quỳnh bị giết, hai người con gái đầu của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh. Dưới đây là lời kể của bà Thức:"... Tháng 8 năm 1945, Thầy tôi ra đi!... Sau đó, chị tôi [tên Giá] và tôi nhờ một anh bạn là Vũ Đình Huỳnh ngày ấy là garde-corps [cận vệ] cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm cụ và hỏi truyện [tức chuyện Phạm Quỳnh]. Cụ bảo: "Hồi ấy tôi chưa về... Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc..." (Hồi ký viết tại Paris ngày 28-10-1992 của bà Phạm Thị Thức, nhân kỷ niệm 100 năm sinh niên Phạm Quỳnh, tài liệu gia đình.) Phạm Quỳnh bị giết ngày 6-9-1945. Hồ Chí Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, ra lệnh “mời” Bảo Đại ra Hà Nội, và Bảo Đại rời Huế ngày 4-9-1945. Như thế có nghĩa là Hồ Chí Minh đã về Việt Nam, đã cướp được chính quyền, đã nghĩ đến cựu triều đình Huế, đến việc đưa Bảo Đại ra Hà Nội, vậy chắc chắn Hồ Chí Minh không thể quên hay không biết chuyện Phạm Quỳnh. Lối lý luận của Hồ Chí Minh là cách chối tội thông thường cổ điển của VM: "Mất mùa là tại thiên tai,/ Được mùa là tại thiên tài đảng ta.) Giết xong Phạm Quỳnh, cộng sản tính việc hủy diệt luôn hình ảnh sáng chói nhà văn hóa Phạm Quỳnh, tức giết Phạm Quỳnh lần thứ hai. Việc nầy thì không thể nói là Hồ Chí Minh không biết gì cả. Đảng Cộng Sản quy chụp cho Phạm Quỳnh tội "phản quốc, làm tay sai cho Pháp". Gần 40 năm sau, trong Từ điển văn học, gồm 2 tập, mỗi tập trên 600 trang, gồm nhiều người viết, do Uỷ ban Khoa học Xã hội xuất bản tại Hà Nội năm 1984, vẫn không có mục "Phạm Quỳnh". Khi viết về các nhóm văn hóa, sách nầy không thể loại nhóm Nam Phong vì nhóm Nam Phong có khá nhiều tác giả nổi tiếng. Nói đến nhóm Nam Phong, trang 121-123, tập 2, tác giả Nguyễn Phương Chi, trong ban biên tập từ điển, vẫn còn gọi Phạm Quỳnh là "bồi bút, phản động". Hơn thế nữa, năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, do nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội ấn hành, Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên tập, mục "Phạm Quỳnh", trang 758-759, hai tác giả nầy viết: "Hoạn lộ của ông [chỉ Phạm Quỳnh] lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân...Ngày 23-8-1945, Phạm bị các lực lượng yêu nước bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở l.[làng] Hiền Sĩ, t.[tỉnh] Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi." Các tác giả cộng sản thường đưa ra chiêu bài yêu nước và dân tộc để quy chụp những người không theo khuynh hướng của cộng sản là phản động, phản quốc, trong khi chính vì Hồ Chí Minh khăng khăng đi theo cộng sản Liên Xô mà Việt Nam không được các nước Đồng Minh thừa nhận sau năm 1945. Cũng chính vì đảng Cộng Sản chủ trương ý thức hệ cộng sản mà gây ra mâu thuẫn quốc cộng, phá hoại tình đoàn kết dân tộc, là một trong những nguyên nhân chính đưa đến chiến tranh Việt Nam từ 1946 đến 1975, và hậu quả còn kéo dài mãi cho đến ngày nay. Sau năm 1954, rồi 1975, chính đảng Cộng sản Việt Nam đã nhập cảng và áp dụng một cách máy móc chính sách văn hóa Mác, Mao và kinh tế chỉ huy rập theo khuôn Liên Xô và Trung Cộng, đã làm cho Bắc Việt rồi cả Việt Nam suy kiệt về mọi mặt cho đến ngày nay mà chưa tìm ra lối thoát. Nếu nói rằng : Phạm Quỳnh hợp tác với Pháp để mưu cầu chủ quyền cho Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của quốc gia là làm tay sai cho ngoại bang, còn Hồ Chí Minh và đảng cộng sản theo Nga Hoa, bán đứng quyền lợi đất nước, thì không phải là tay sai ngoại bang? Nếu nói rằng Phạm Quỳnh hợp tác công khai với Pháp, viết bài trình thuật rõ ràng các hoạt động của ông là phản quốc, trong khi Hồ Chí Minh làm gián điệp cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản, cầu viện Trung Quốc và Liên Xô là không phản quốc? Nếu nói rằng Phạm Quỳnh viết bài quảng bá học thuật Âu tây, đề cao tư tưởng dân quyền của Voltaire, Montesquieu, Rousseau là không có tinh thần dân tộc, còn cộng sản phổ biến tư tưởng Marx, Lenin, và nhất là chủ nghĩa Stalin thì gọi là gì? Phạm Quỳnh dịch thơ Corneille, Racine là bồi bút, còn Tố Hữu làm thơ gọi Stalin là ông nội, "thương cha thương mẹ thương chồng / thương mình thương một thương ông thương mười", thì không bồi bút? Nói cho cùng, nếu Phạm Quỳnh chỉ là người học trò bình thường của Voltaire, Montesquieu hoặc Rousseau thì cũng đáng mừng cho dân tộc Việt Nam, vì tư tưởng của các nhà học giả Pháp nầy là ánh sáng soi đường cho nhân dân toàn thế giới xây dựng nền tự do dân chủ phân quyền pháp trị. Trong khi đó Hồ Chí Minh là "một người học trò trung thành của Các Mác và V. I. Lê-nin" (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 160.), và nhất là người học trò xuất sắc của Stalin, thì thực tế lịch sử đã chứng minh rằng đó là hiểm họa độc tài đen tối khốc liệt nhất từ trước đến nay trong lịch sử Việt Nam. Dầu sao, việc tuyên truyền của cộng sản một thời gây nhiễu xạ hình ảnh của Phạm Quỳnh và ảnh hưởng không ít đến dư luận dân chúng, làm nhiều người, kể cả vài kẻ tự mệnh danh là trí thức tiến bộ, hiểu sai về Phạm Quỳnh, và hiểu sai luôn về một số nhân vật chính trị theo khuynh hướng quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh đã từng nói: "Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông...". (Thư ngày 30-12-1933 của Phạm Quỳnh gời Louis Marty, Hành trình nhật ký, Paris: Nxb. Ý Việt, 1997, phần “Dẫn nhập”, không đề trang.) Ngày nay, sau những biến động đảo điên của thời cuộc, mọi người nên công tâm tìm hiểu Phạm Quỳnh và nhìn lại sự nghiệp của ông. Trước ngã ba đường vào đầu thế kỷ 20, giữa cựu học, Tây học, và tân học, Phạm Quỳnh chọn con đường tân học, cải tiến và hoàn chỉnh văn học Quốc ngữ để làm phương tiện xây dựng quốc học, vừa bảo vệ quốc hồn quốc túy, vừa bồi đắp thêm bằng cách du nhập những tinh hoa văn hóa nước ngoài. Chủ trương hòa nhập văn hóa (acculturation) của Phạm Quỳnh xét cho cùng rất quý báu và cần thiết cho đất nước, vì nếu chỉ mãi mê tranh đấu chính trị và quân sự, mà không xây dựng nền văn hóa dân tộc dựa trên quốc hồn, quốc học và quốc văn, thì người Việt vẫn bị trì trệ trong sự nô lệ tinh thần. Những đóng góp của ông trong việc phát triển nền văn chương Quốc ngữ thật lớn lao. Những vấn đề văn chương, triết lý tổng hợp đông tây ông đã viết, những ý kiến do ông đưa ra trong các bài báo, kể cả những ý kiến ông tranh luận về truyện Kiều, về Nho giáo, vẫn còn có giá trị. Giấc mơ của Phạm Quỳnh về quốc học, quốc hồn lại càng cần được cổ xúy làm nền tảng giáo dục tinh thần cho mọi người Việt Nam ngày nay ở trong cũng như ở ngoài nước. Phạm Quỳnh là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời hiện đại. Về chính trị, Phạm Quỳnh viết nhiều tiểu luận bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng Pháp để tranh đấu thực hiện lý tưởng chính trị của ông. Nhiều người thường đồng nghĩa nền quân chủ với phong kiến hoặc thực dân, nên cho rằng quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh là thủ cựu. Cần phải chú ý là Phạm Quỳnh chủ trương bất bạo động. Ông chọn thể chế quân chủ lập hiến với hy vọng thúc đẩy Việt Nam chuyển biến một cách ôn hòa trong trật tự. Nhìn ra nước ngoài, hiện nhiều nước trên thế giới vẫn duy trì nền quân chủ lập hiến, nhưng vẫn là những nước hết sức dân chủ như Anh Quốc, Nhật Bản, Thuỵ Điển, Bỉ... Ở trong nước, xét trên chiều dài của lịch sử, từ ngày Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 đến năm 1945, tuy các vua nhà Nguyễn bị người Pháp khống chế, nhưng vua vẫn là biểu tượng cao cả của đất nước, nên các cuộc nổi dậy kháng Pháp từ Bắc vào Nam đều quy hướng về một mối, đó là triều đình ở kinh đô Huế. Trái lại từ năm 1945 trở đi, khi VM cộng sản cướp chính quyền, người Việt Nam bị chia rẽ trầm trọng thành nhiều phe nhóm khác nhau, theo những quan điểm khác nhau. Do đó, Phạm Quỳnh có phần hữu lý khi ông chủ trương cải cách ôn hòa, và chọn quân chủ lập hiến theo đại nghị chế thay thế cho nền quân chủ chuyên chế. Ngày nay, cục diện chính trị Việt Nam đã thay đổi hẳn, quan niệm quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh không còn phù hợp, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận tinh thần ái quốc, lòng can đảm và sự tận tình của ông trên con đường phụng sự quê hương. Phạm Quỳnh đã âm thầm tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi chủ quyền cho đất nước. Ông đã hết lòng hoạt động vì nước và đã hy sinh vì lý tưởng của mình. Đó là điều thật đáng trân quý nơi Phạm Quỳnh, nhà trí thức dấn thân hoạt động chính trị. Một điều đáng ghi nhận cuối cùng trong cách thức hành xử của Phạm Quỳnh. Ông theo đuổi một lý tưởng chính trị trường kỳ và bất bạo động, nên ông luôn luôn cố gắng làm những gì có lợi cho đất nước và đồng bào, đồng thời tránh không làm bất cứ việc gì có hại cho quốc gia dân tộc. Phạm Quỳnh sống lương thiện, không tham ô nhũng lạm, và cũng không hề gây tội ác giết hại đồng bào. Thái độ nầy là điều mà rất ít nhà hoạt động chính trị của mọi khuynh hướng thực hiện được, và là một điểm son sáng chói phân biệt Phạm Quỳnh với những người ra hợp tác với Pháp để trục lợi cầu vinh. Đây là điều cần phải được tách bạch. Trong việc hợp tác với Pháp, có hai hạng người: hạng thứ nhất là những kẻ hợp tác để mưu cầu danh lợi riêng tư, lợi dụng quyền thế, hống hách bóc lột đồng bào; hạng thứ hai ra tham chính, làm việc với Pháp, không dựa vào quyền thế để hiếp đáp dân chúng, mà dùng quyền thế để cứu giúp đồng bào, và vẫn giữ được khí tiết riêng của mình như Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và biết bao nhiêu người vô danh khác. Phải tránh vơ đũa cả nắm, và phải rõ ràng như thế mới hiểu được tâm trạng cùng sự can đảm của những nhà trí thức, trong hoàn cảnh éo le của đất nước, dấn thân hoạt động chính trị, phụng sự dân tộc, nhất thời đã bị hiểu lầm sau những cơn lốc tranh chấp chính trị kéo dài trên quê hương yêu dấu, trong đó Phạm Quỳnh là trường hợp điển hình nhất.
TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, Canada) ___________________________________________________________________ “Tư liệu về cái chết của Phạm Quỳnh” với vài lời giới thiệu của Nguyễn Văn Tuấn.: Ngày nay chắc chẳng còn bao nhiêu người nhớ đến ông Phạm Quỳnh. Ông là một nhân vật lịch sử, một quan chức cao cấp trong triều Nguyễn. Ông còn là một đại trí thức, nhà văn hóa, nhà báo kiệt suất. Ông giỏi tiếng Pháp (cách đây 4 năm, tôi có giới thiệu một cuốn sách tập hợp những bài tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của ông). Ông cũng là nhà báo xiển dương việc dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Nho và tiếng Pháp. Là người đấu tranh độc lập và tự trị cho Việt Nam. Thế nhưng ông chết thảm. Theo wikipedia, ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp, và chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở Huế. Ngày 23/8/1945 ông bị chính quyền cách mạng bắt giam ở Huế, kết án tử hình, và sau đó không lâu bị hành hình cùng với ông Ngô Đình Khôi (là anh ruột của nguyên tổng thống Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của ông Ngô Đình Khôi). Mãi đến tháng 2 năm 1956 người ta mới tìm thấy di hài của ông trong một chùa ở Huế. Cái chết của ông vẫn còn là một bí ẩn, vì ít ai biết được chi tiết ra sao, và tại sao một người yêu nước như thế mà bị chính quyền giết. Bài dưới đây đăng trên blog của Pham Ton vén bức màn bí ẩn cho chúng ta. Đọc thấy chữ "làm việc" mà chắc nhiều người thấy quen quen. Vẫn không có gì thay đổi về cách làm việc dù đã gần 70 năm trôi qua. Thấy tư liệu quí, tôi copy về để bạn đọc tham khảo. N.V.T. VỀ NGÀY “ỦY BAN KHỞI NGHĨA THUẬN HÓA MỜI PHẠM QUỲNH RA LÀM VIỆC” ĐỂ RỒI “ĐI KHÔNG BAO GIỜ TRỞ LẠI” -Đại tá, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi đã đăng bài Góp phần tìm hiểu và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất Tất Nhiên” của Đại tá Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, ký bút danh Sông Hương, và được đông đảo bạn đọc ở trong nước và cả ngoài nước nữa hoan nghênh, khen ngợi, truyền cho nhau đọc… Kỳ này chúng tôi lại may mắn được Đại tá Tiến sĩ ưu ái gửi cho một bài mới, kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, đúng phong cách của nhà sử học chân chính, nhưng vẫn với bút pháp rất độc đáo của ông, lật đi lật lại vấn đề nhiều lần, dưới nhiều góc nhìn khác nhau, thể hiện sự tin tưởng vào lương tri và trình độ hiểu biết của bạn đọc. Xin mời các bạn cùng thưởng thức để có thêm những suy nghĩ mới về một vấn đề xảy ra cách nay đã hơn 60 năm. đọc ở đây: http://nguyenvantuan.net/vip/7-vip/1257-tu-lieu-ve-cai-chet-cua-pham-quynh
|
© copyright giaodiem.us | 2009