ß Trờ về

đăng ngày: 28.12.2011

 

Nghĩ vắn, nghĩ dài.. một số chuyện trong những ngày cuối năm Tây lịch 2011

Nguyễn Văn Hóa

(tác giả edited lần thứ nhất -29.12.2011)

 

một

Trong trang mục ‘nguyễn văn hóa’ của web Hội Tụ, tôi có nêu một ý: “Mục đích viết của tôi là để tự đánh thức sự lười biếng của tư duy và kiểm soát cường độ nhảy vọt của trái tim.” Câu nói ấy là thái độ tự xét việc làm của mình –viết để làm gì và, viết về cái gì? Hơn nữa, phải biết tự đánh giá trong cung cách thật sự khiêm tốn, xem xét việc làm vốn ‘hao tâm tổn lực’ này có ơn ích gì cho ai, và nếu có thì ơn ích về cái gì?.

Trong hơn 5 năm (từ tháng 4/2001-2006), tôi đã bỏ biết bao công sức để cáng đáng website có tên là Giao Điểm (giaodiem.com) nhằm phổ biến và phổ cập chính nghĩa cuộc đấu tranh của Phật Giáo từ 1963 cho đến cuộc đàn áp Phật Giáo ở trong nước sau khi cướp được chính quyền miền Nam, song song với chiến dịch được gọi là ‘giải hoặc Công Giáo’. Đó là thỏa ước chung của một số người trong nhóm, nhưng lại cưu mang mục đích âm thầm của riêng tôi (không hề được chia xẻ với người trong nhóm) là hòa giãi dân tộc. Nhưng, trước khi hòa giãi dân tộc, không thể không đạt được hòa giãi tôn giáo: Phật Giáo và Công Giáo. Có người sẽ cho rằng làm gì có mâu thuẫn giữa Công Giáo và Phật Giáo mà đòi hòa giải? Điều đó đúng trên bình diện quốc tế, nhưng trong bối cảnh lịch sử xung đột tôn giáo của Việt Nam từ quá khứ kéo dài là một vấn nạn vẫn còn tồn đọng, âm ỷ bốc lửa. Phủ nhận sự xung đột của hai tôn giáo này trong con người Việt là phủ nhận thực tại lịch sử và che đậy tinh thần tránh trách nhiệm.

Người ta không thể mang một nội dung của khoa học để phản ánh tinh thần khoa học, phê phán một tôn giáo khác là phi khoa học hay phản khoa học. Ý thức giác ngộ tôn giáo là ý thức tự ngã, là nghiệm sinh, là sự đánh thức từ vốn liếng tư duy thủ đắc cá nhân, cho nên chống một tôn giáo qua phương diện tín lý là chống xã hội. Sức nặng của ngôn ngữ không có khả năng chế ngự và chinh phục sự thay đổi tín lý trên bề rộng xã hội, vì vậy chỉ có súng đạn, gươm dao được con người xử dụng để giải quyết những xung đột tôn giáo trong lịch sử thế giới.

Riêng, hòa giãi Phật Giáo – Công Giáo trong sự tồn đọng của lịch sử Việt Nam chỉ có thể đạt được, khi giữa hai cá nhân, hay giữa tập thể nào đó thuộc hai tôn giáo có thể dùng với nhau những ngôn từ mang tính phỉ báng, như : ‘theo Đạo để có gạo mà ăn’, ‘kiêu dân Công giáo’, ‘Công Giáo Việt gian’.. hay, ‘đồ Phật Giáo’, ‘những kẻ ghen tỵ với Công Giáo’, ‘đồ cái đạo bi quan yếm thế’, ‘ngoài miệng thì tụng Nam mô, trong bụng thì cả một bồ dao găm’ v.v.. trong tinh thần anh em mà không hề giận, tức bực nhau, thì lúc ấy mới có thể cùng nêu ra một số giải pháp để có thể sống chung với nhau trong tình tương thân, tương ái.. trong một quốc gia.

Có hòa giãi tôn giáo rồi, lúc ấy mới có thể đạt được vấn nạn ‘hòa giãi dân tộc’. Muốn đạt được điều đó, phải có một cơ chế dân chủ, một xã hội dân sự được bảo vệ bằng luật pháp. Nói cách khác, cần có một xã hội mang ‘tính mở’, như sự giao tiếp giữa hai người bạn thân luôn luôn là tinh thần mở, nói thật và nói thẳng trong tinh thần tương trợ, tương kính, nên không thể coi nhau như kẻ thù. Một cơ chế dân chủ còn làm cho con người biết tự trọng chính mình (cá nhân), trước khi trọng luật pháp (xã hội). Tự trọng là tinh thần tự do tuyệt đối hòa nhập với tinh thần thượng tôn pháp luật –là khuôn thước kỷ luật trật tự xã hội đã được đại biểu đích thực của đa số công dân thừa nhận. Như vậy, cơ chế dân chủ phải đi trước các vấn nạn.

Tuy vậy, ước vọng âm thầm của tôi, thất bại. Nguyên nhân chính của sự thất bại xuất phát từ bản chất của những người Phật tử, ai cũng mang trong người ý thức hùng tráng ‘Tôi cũng là Phật sẽ thành đây’, nên không ai chịu phục ai, và ai cũng muốn ‘làm thầy’ cả. Nguyên nhân sâu và trực diện hơn, khi một tổ chức có bàn tay của công an cộng sản nhúng vào thì họ luôn muốn nắm đầu tổ chức đó (để hướng mục đích luôn theo đúng với chủ trương, đường lối có thể đổi thay bất cứ lúc nào của Đảng Cộng Sản), dù cho kẻ muốn nắm đầu chỉ là những kẻ thất học. Khi người điều hành, là tôi, nhận thức được thực trạng đó và tìm cách chống lại thì tất nhiên mục tiêu phải đổ vỡ.

Tôi như một kẻ chấp nhận ‘chịu đấm ăn xôi’ –một nắm xôi hẩm bằng kết luận: Phật Giáo là một tôn giáo không thể làm chính trị được. Điều này cũng đã được thực chứng trong suốt chiều dài biến động chính trị từ những ngày cuối thời cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cho đến khi miền Nam bị sụp đổ dưới sự cai trị của Cộng Sản Bắc Việt.

hai.

Phật Giáo là một tôn giáo từ bi, không thể sát sinh. Hẳn nhiên. Nhưng, trong thực tế của một xã hôi có tranh chấp, có biến loạn, có thù hận.. với đặc thù lịch sử Việt Nam –Phật Giáo cũng có thể ‘mượn dao giết người.’ Sự kiện này hẳn là đúng, ít nhất trong bối cảnh chính trị Việt Nam, khi Phật Giáo xem Công Giáo là một kẻ thù đáng sợ hơn Cộng Sản. Đã là một người theo Phật thì dù có chống thực dân xâm lăng đất nước đi nữa, không ai muốn theo tổ chức cộng sản –vốn tàn bạo và hiếu sát là một vũ khí mạnh nhất để họ áp đảo mọi kẻ thù. Tuy vậy, Phật Giáo đã buông xuôi để miển cưỡng chấp nhận hoặc bất khả kháng bằng sự đồng lõa, ngầm hỗ trợ cho ‘sự tàn bạo’ nhằm tiêu diệt một kẻ thù trong-ngoài (biên giới) mà họ không thể đương đầu nỗi. Đó là lợi thế của Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù ‘con dao’ cộng sản không phải là con dao dễ mượn, và có thể ‘bị mượn’ bất cứ lúc nào. Cuối cùng, kẻ đồng lõa phải chịu một cái giá phải trả, khi chung cuộc.

Khi làm mạng lưới giaodiem.com, khoảng cuối năm 2003, thỉnh thoảng tôi nhận được những bài viết từ tác giả Nguyễn Văn Lục gởi đến. Thú thực, lúc ấy tôi rất ngưỡng mộ và thấy cần có một số bài viết mang tính đối lập để đối trọng với nội dung của một vài tác giả ‘bu quanh’ bắt đầu có khuynh hướng bênh vực cộng sản một cách lộ liễu, lố bịch. Tôi cho rằng các bài viết như của tác giả Nguyễn Văn Lục có thể làm ‘cân bằng’  một sự thiên lệch về chính trị, thiếu trí thức. Trong bài “Lịch sử còn đó…”, ông nêu ra một chi tiết khá thú vị qua nhân vật “..Hoàng văn Giàu, đoàn trưởng Sinh Viên Phật Tử Huế khai tại sở Công An Trung nguyên Trung phần :

“…Đương sự cũng xác nhận rằng đương sự đã biết các sư Thích Tịnh Khiết, Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Trí Thủ là những người chỉ huy Phật giáo đã kéo đoàn Sinh Viên Phật Tử do đương sự làm đoàn trưởng vào cuộc đấu tranh tôn giáo chính trị nhằm mục đích lật đổ chính quyền. (Chữ in đậm trong tài liệu) nhưng đương sự vẫn tích cực hoạt động theo sự chỉ đạo của các sư miễn sao lật đổ được chính quyền hiện hữu. (chữ in đậm trong tài liệu)” (1)

Thật ra dữ liệu này chỉ đóng góp thêm một ‘điểm’ nhỏ so với khối tài liệu/ tư liệu khổng lồ khác, minh chứng công lao của Phật Giáo miền Trung (đặc biệt là Phật Giáo Huế) đã đóng góp rất to lớn vào ‘sự nghiệp thống nhất đất nước’ dưới sự lãnh đạo của Cộng sản Bắc Việt. Làm sao họ có thể phủ nhận, chối quanh được cái tư duy cấu tạo nên một ý thức chính trị hướng về Thăng Long là cái gốc (vùng địa-chính-trị của Hồ Chí Minh), chứ không phải Gia Định-Đồng Nai, hay trung tâm Thuận Hóa!?. Bọn Mỹ vốn là cường quốc tài giỏi, hung bạo về chính trị kinh-tế-kinh-doanh, nhưng rất ngu xuẩn về chính-trị văn-hóa; do đó, sự hiện diện của một đội quân viễn chinh hùng hậu có khi lên đến nửa triệu binh sĩ, và nhất khi quyền lực Thuận Hóa đã dễ dàng rơi trọn vào bàn tay Hồ Chí Minh, rồi miền Nam nằm trong tay của một vị tổng thống Công giáo mà Phật Giáo ‘bất-ưng-ý’ – nối tiếp với các chế độ cô hồn của đám ‘sai nha’ phản chủ, bất lương thảm sát chủ của mình thì trong tâm thức chính trị, nhóm Phật Giáo này đã kiên cố chọn lựa Hồ Chí Minh từ trước khi chia cắt đất nước. Di sản của thực tế chính trị đó, đưa tới một hệ luận: Nếu chế độ cai trị hiện nay là một chế độ “chính trị tốt”, công lao ấy sẽ truyền thừa một chính nghĩa tỏa sáng cho Bắc Việt; nếu ngược lại, Phật Giáo miền Trung không thể phủ nhận trách nhiệm liên đới của mình. Bối cảnh chính trị quốc tế Á Châu hiện tại, mỗi ngày qua là một ‘điểm nhấn lịch sử’ gia tăng trọng lượng của ‘trách nhiệm liên đới’ đó.

ba.

Chừng cuối năm 2005, nhà văn Nguyễn Ước liên lạc với tôi qua email và gởi một tác phẩm của anh đã xuất bản, nhưng phổ biến còn hạn chế ‘Trăng Huyết’ (bản tiếng Anh có tên là ‘Blood Moon’). Tôi mừng vì đọc thấy cuốn sách viết công phu và nội dung giá trị, giới thiệu ngay trên trang web mới giaodiem.us. Dần dà, tôi và Nguyễn Ước trở nên thân tình qua điện thư. Có lần anh viết mấy dòng tâm sự, đại ý: “Anh H. ơi, ông Hoàng Văn Giàu là thầy ngày xưa của tôi đó, nhưng bây giờ ông theo cộng sản luôn rồi, làm tôi buồn quá!” Tôi còn nhớ Nguyễn Ước cho biết thêm vài chi tiết như ông HVG là thầy của anh về môn Tâm Lý Học. Liệu sự tiết lộ của anh Nguyễn Ước mang ý định 'tử tế' dành cho tôi, soi sáng dùm tôi trong quyết định có tính lựa chọn? Tôi không ngạc nhiên lắm về ông HVG, nhưng về sau đọc được vài bài viết khác, tôi bất ngờ biết anh Nguyễn Ước có gốc gác từ miền Trung và từng học trường Thiên Hựu (Providence) ở Huế. Hèn chi, vốn liếng ngoại ngữ rất vững vàng!

Vào cuối tháng 7/2011, tôi đọc bài: Hoàng Sa Trường Sa và những người tranh đấu trước 1975 của Nguyễn Ước (2), đăng trên web danchimviet.info. Anh liệt kê một danh sách dài chừng vài chục nhân vật sinh viên, trí thức, giáo chức, nhà thơ nhà báo ở miền Nam trước đây từng ‘hung hăng’ lên đường xuống phố chống “Mỹ-Ngụy”, trong khi hiện tại trong nước đang sục sôi về nguy cơ ‘bành trướng’ của Trung Quốc, họ lại im re, không ai dám hó hé. Có lẽ vì họ đã thuộc thế hệ tuổi già, sức yếu?, vì thiếu sự chỉ đạo, hướng dẫn, vận động? hay chỉ vì sự hèn nhát trước sự phơi bày sự ngây thơ, ấu trĩ chính trị của họ trong quá khứ? Trong số người đó, Nguyễn Ước lại nêu tên ông thầy mình: Hoàng Văn Giàu! Tôi cảm khái về việc này. Chúng tôi (số người cùng thế hệ của tôi và Nguyễn Ước) vốn được giáo dục từ miền Nam, thụ đắc một nền văn hóa và đời sống xã hội ảnh hưởng sâu đậm tinh thần Nho giáo –trong cái ưu điểm pha trộn một số khuyết điểm, như tinh thần: kính trên nhường dưới, lễ độ kiểu ‘ông cụ non’ v.v.. vốn là những nõa lực làm thui chột, trừ tiệt tinh thần hào khí, vươn lên, đi tới tương lai của tuổi trẻ. Với số tuổi đang bước vào ngưỡng cửa ‘về già’ của chúng tôi, cần phải biết ngang nhiên lật ngược những khuyết điểm đó, làm chiếc cầu tinh thần cho thế hệ trẻ khác đang vươn mình lớn dậy. Đồng thời, chúng ta nên sẵn sàng lắng nghe thế hệ trẻ đang lên sỉ vã, phê phán, lên án.. mình, nếu chúng ta hèn nhát, sai trái.

Nguyễn Ước có vẻ nắm rất kỹ sinh hoạt của các tổ chức học sinh, sinh viên tranh đấu cùng thời ở đô thị miền Nam trước đây, mặc dù anh đã xử dụng tài liệu (nói có sách, mách có chứng) trong ‘Nhìn lại một chặng đường văn học’ của Gs Trần Hữu Tá (2b.). Bức tranh phác họa sinh hoạt chính trị sôi động ấy đã làm cho người đọc quý trọng chế độ miền Nam tự do trước 1975. Nhờ vào một xã hội nhân bản, tự do, một nền dân chủ đã bắt đầu thấm về chiều sâu và bề dày.. đã từng nuôi dưỡng họ; tương phản với một chế độ thoái hóa, bẩn thĩu hiện hữu đang tiêu diệt họ.

Trong số các nhân vật đó, có vài người từng là bạn thân của tôi thời tuổi nhỏ như Võ Quê, vài người tôi từng tiếp xúc quen biết hoặc gặp gỡ như: Lê Văn Ngăn, Trần Dzạ Lữ, Tôn Thất Lập… Nhận diện cho kỹ, tôi ngỡ như họ đa số là ‘dân’ gốc Thừa Thiên, Quảng Nam…(?) từ sau vĩ tuyến 17 xuôi Nam.

Hẳn là Nguyễn Ước chỉ biết rõ những hoạt động văn hóa-chính trị của nhóm tranh đấu chống chế độ miền Nam ở thế hệ sàng sàng ngang lứa tuổi của mình thôi, chứ không biết nhiều đến thế hệ đàn anh, ‘đàn thầy’ (thời trung học) như anh em Tường – Phan, Ngô Kha, Lê Tuyên, Lê Văn Hảo v.v.. (?) nên không đề cập đến. Trong số bậc lớn tuổi này, tôi thường nghĩ có hai nhân vật điển hình may mắn là Gs Cao Huy Thuần, Gs Thái thị Kim Lan.. đã đi ra được nước ngoài du học, trước thời điểm biến loạn chính trị miền Trung khủng khiếp vào năm 1966. Tôi gọi họ là những người ‘may mắn’ bởi, đi du học trong thời điểm đó phải có đủ một số điều kiện khách quan, như sự thức thời của các bậc phụ huynh của họ, khả năng tài chính gia đình, năng lực học vấn cá nhân v.v.. Nếu không, họ cũng đã rơi vào những hoàn cảnh oan nghiệp, thê lương của cuộc đời..sau biến loạn đó.

bốn.

Khoảng đầu năm 1987, tôi được anh Nguyễn Quan Vĩnh (đệ tử tín cẩn của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy) mời đến nhà dùng cơm với giáo sư Huy ở San Jose. Hôm ấy, có bốn người: Gs Huy, một người khách lạ, và anh Vĩnh. Tôi vốn quen biết với anh Vĩnh là bởi anh ấy quen thân với các người anh của tôi, là bạn đồng khóa 16 VBĐL với người anh cả của tôi, nhưng anh ấy còn có cảm tình riêng với tôi. Trân trọng với cái tình đó, nên tôi nhận lời mời.

Trò chuyện trong bữa cơm, Gs Huy (một Phật tử mộ đạo) kể cho nghe vài giai thoại của một số sinh viên cũ (Quốc Gia Hành Chánh) của ông, khen tặng đặc biệt cuốn sách Hai Ngàn Năm Việt Nam và Phật Giáo của Lý Khôi Việt (anh LKV đã qua đời).. Sau đó, Gs Huy có đưa ra một nhận xét chứa đựng tính cách nghi hoặc -liệu có phải LKV đích thị là tác giả của cuốn Hồi ký Chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu?. Một nghi hoặc được nêu ra như một tra vấn, khá bất ngờ, vì tôi chỉ vừa mới quen biết với LKV và Nguyễn Hữu Liêm (sau này là luật sư) qua nhà văn Vũ Thế Ngọc. Tôi không có ý kiến gì cả, và thật sự cũng không hề biết gì nhiều về họ.

Từ lúc cuốn Hồi ký của Đỗ Mậu xuất hiện vào gần cuối năm 1986, trong suốt 6 tháng đầu, đã tạo ra một làn sóng phẫn nộ trong giới thức giả lưu vong người Việt, đặc biệt là những người cựu quân nhân. Tâm lý chung, rất uất hận, nhưng bởi vì cuốn sách xuất bản lần đầu chưa được phổ biến rộng, số người biết đến chưa nhiều lắm. Tuy vậy, đã có một làn sóng phản ứng mạnh mẽ qua các tác giả như Phạm Kim Vinh (đã qua đời), Nguyễn Văn Chức, Linh mục Vũ Đình Trác, Nguyễn Đạt Thịnh và v.v.., đặc biệt có một số báo ngày, báo tuần khổ lớn, tạp chí tiếp tay trả đũa, tấn công lại cuốn Hồi ký và nhóm bênh vực ông Đỗ Mậu. Nhóm bênh vực ‘cuốn hồi ký Đỗ Mậu’ lúc ấy còn ít ỏi, vì trong số người Việt lưu vong dù cho có người từng là nạn nhân chính trị hoặc có khuynh hướng chính trị đối lập với chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng họ cũng là nạn nhân thê thảm của cộng sản nên thù ghét cộng sản và coi việc chống chế độ cộng sản là cần thiết hơn.

Trong những năm cuối thập niên 1980, dân số tỵ nạn người Việt chưa đông như hiện nay, nhưng thái độ chống cộng quyết liệt và dứt khoát, mà cuốn sách hồi ký ấy –mang một nội dung “vạch trần tội ác của chế độ cố Tổng thống Diệm và Công Giáo nói chung”, nên tạo ra một không khí căm phẫn công khai hoặc ngấm ngầm. Là một lý thuyết gia về chính trị, một chính khách hoạt động chính trị, hẳn là Gs Huy thấy trước được nguy cơ đó, nên ‘tra vấn’ mà ông đặt ra cho tôi là nhằm lượng giá mục đích và ‘âm mưu’, nếu có, của cuốn sách. Vào cuối năm 1989, tôi có tham dự một cuộc hội nghị được tổ chức tại tư gia của bác sĩ Phan Quang Đán (đã qua đời?) tại bang Florida, rồi sau đó còn du hành lên bang New York. Cuộc gặp mặt lần ấy chừng vài chục người, trong đó có một số nhân vật dễ nhớ tên như cố Linh mục Kim Định, Ngô Vương Toại, Lê Trọng Văn, Bùi Ngọc Đường v.v.. và một số cựu quân nhân, chính khách chế độ cũ. Vốn là một nạn nhân chính trị dưới chế độ Tổng thống Diệm, nhưng ông bác sĩ nhân đề cập tới cuốn Hồi ký của Đỗ Mậu đã hết sức phàn nàn và phát biểu đại ý rằng, dù ‘tôi là người bị tù tội dưới chế độ ấy, nhưng về sau tôi cũng chỉ đề cập đến một lần, rồi thôi!...’ Cũng như Gs Huy, Bs Phan Quang Đán nhìn thấy có một âm mưu nào đó nhằm khơi động sự chia rẻ, gây thù hận giữa Phật Giáo - Công Giáo, mở đầu trong không gian nước Mỹ và sẽ lan rộng khắp toàn cầu… với tác dụng làm giảm bớt và chuyển hướng làn sóng người lưu vong đang thù hận cộng sản sang mâu thuẫn tôn giáo. Công tâm mà nói, thái độ lo ngại đó (của hai vị kể trên) là đúng đắn. Bởi lẽ, người Việt phải bỏ nước ra đi vì nạn Cộng sản, chứ không phải vì vấn đề tôn giáo.

Do có lời yêu cầu tha thiết của ông Đỗ Mậu (nhắn qua nhà văn Vũ Thế Ngọc), và tôi nhân thấy ông Vũ Thế Ngọc đã viết một bài điểm sách rồi, nên tôi đành tiếp tay với bài “Vài Suy Nghĩ Qua Dư Luận Về Cuốn Hồi Ký của Đỗ Mậu” (3). Lúc ấy, tôi đang cộng tác với tờ báo ‘Việt’ do ông Ngọc chủ trương. Bài viết của tôi không phải là một bài điểm sách hồi ký. Chủ ý của tôi chỉ bàn về ‘hậu quả’ do tác động của cuốn hồi ký mang lại, và đưa ra một triết lý hòa giãi. Dưới một cách nhìn nào đó, tinh thần ‘triết lý hòa giãi’ của tôi có gây xúc động tới một số người.

Riêng cá nhân ông Đỗ Mậu không mấy vui với bài viết của tôi, nên có lần trong một cuộc điện đàm, ông tha thiết nhờ tôi nói dùm với hai người bạn -tôi vừa mới quen là Lý Khôi Việt và Nguyễn Hữu Liêm (sau này là luật sư) mà có lẽ ông Đỗ Mậu đã từng giao thiệp thân mật với họ từ lâu, mỗi người viết cho một bài về cuốn hồi ký. Ông Mậu còn nói thêm với tôi như tâm sự, đại ý: ‘Tôi quê mùa dốt nát, chân chất, còn hai anh đó học hung, học nhiều !!’ Tuyệt nhiên, hai nhân vật này đều tránh né và im hơi lặng tiếng không hề một lần đề cập đến cuốn hồi ký. Tôi nghĩ, không đề cập đến cuốn hồi ký đó, là một thái độ khôn ngoan chính trị.

Một thời gian ngắn, sau lần đầu cuốn Hồi ký Đỗ Mậu xuất bản, cuốn sách bán rất chạy. Bán sạch trong thời gian ngắn, dù chỉ bán qua mail order, chứ không hề có ở các tiệm sách Việt. Nghe nói, cuốn sách ấy được đặt in ở Đài Loan với giá chừng 2, 3 đôla một cuốn, nhưng bán ra với giá >20 đôla (hoặc 25 đôla?); nhưng có người đặt mua một lần vài chục cuốn với ‘giá ủng hộ’ cao để tặng thân hữu như cụ Trần Trọng Phúc ở Mountain View mà tôi chứng kiến. Tựu trung, đó là một cuốn hồi ký quá thành công về tài chính. Lúc ấy, trong nhóm Chấn Hưng Phật Giáo dưới Nam California cũng đồng tình hỗ trợ cuốn hồi ký về tinh thần; một số gia đình anh chị trong nhóm ban ngày chồng thì đi cắt cỏ mệt nhọc, tối về cùng vợ con giúp đóng thùng, bọc sách để gởi đi bưu điện theo mail orders. Tinh thần làm việc của họ nhiệt tình không tả được. Thế rồi, sự thành công tài chính bất ngờ của cuốn sách, nảy sinh ra một số vấn đề muốn ‘bảo vệ quyền lợi’ riêng từ trong gia đình của ông Đỗ Mậu, đưa tới sự đổ vỡ với những người đồng tình hỗ trợ trong tinh thần tự nguyện vô vị lợi của nhóm Chấn Hưng (lúc ấy tôi cũng là một thành viên). Sự tình lan truyền tới tai của ông nhà báo Nguyễn Tú A (nhân vật từng tham gia đọc tham luận trong nhóm Viện Vận Động Dân Chủ của Đoàn Văn Toại và Nguyễn Hữu Liêm). Vốn là một tín đồ Công Giáo –và một trong những người tham gia về nước hòa hợp sớm sũa nhất, Nguyễn Tú A đã viết bài báo mỉa mai “đỏ bạc thì đen tình” để phê phán cuốn hồi ký với những sự ‘đời thường’ chung quanh nó trên tờ Việt Press. Ý chính của ông Tú A chỉ coi cuốn hồi ký như một kích động để đạt sự thành công về thương mại. Càng bị lên án, công kích..cuốn hồi ký Đỗ Mậu lại được tái bản thêm ba, bốn lần nữa cũng bán hết sạch. Lời khẳm!

Tự xét, tôi là một người có tiếp tay phổ biến, đóng góp ‘hoằng dương’ cuốn hồi ký đó trong quá khứ, mạnh nhất là khi làm website giaodiem.com, cho nên tôi có trách nhiệm nói ra vài suy nghĩ của mình: Theo nhận xét của tôi, cuốn hồi ký chính trị của Đỗ Mậu là một công trình tập thể của một số nhỏ người nào đó, đếm chưa đầy hai bàn tay. Đỗ Mậu chỉ là nhân vật được ‘chọn’ để đứng mũi chịu sào. Và, sự chọn lựa ngoài tính thích hợp còn là một khôn ngoan chính trị. Từ vị thế trong chính quyền, giao thoa với ân tình, ơn nghĩa của chế độ, cá nhân cố Tổng thống Diệm ban phát, không ai hơn Đỗ Mậu làm công việc “vạch áo cho người xem lưng” về chế độ đó. Sự thật của việc “vạch áo” ấy đúng bao nhiêu phần trăm thì báo chí, sách vỡ đã nói suốt hơn hai mươi năm qua rồi, tôi không thì giờ đâu để nhắc lại.

Sự ra đời của cuốn Hồi ký Đỗ Mậu, tương tự như mọi cuốn sách, chỉ khác nhau ở tính cách cá nhân và tập thể!? Trước hết, với mục đích chính trị định sẵn, một vài người có ‘đầu óc’ nào đó outline một table of contents. Sau khi có một table of contents là sự phân nhiệm để người viết tìm kiếm, chọn lọc để mỗi tiểu mục có vừa ‘đủ và cần’ trong số tác giả ngoại ngữ, Việt ngữ phù hợp cho nội dung cuốn sách. Mỗi tác giả được phân nhiệm sẽ đọc rồi viết, trích dẫn, minh chứng minh họa phù hợp với chủ điểm của mỗi tiểu đề. Song song với sử liệu là sự phối hợp với những ký ức sống, tư liệu an ninh mang theo được ngày di tản hoặc gởi ra từ trong nước sau này, của riêng ông Đỗ Mậu. Sau đó, sẽ có một nhóm ‘readers’ được phân nhiệm đọc lại, gạn lọc, thêm thắt chi tiết đối chiếu với phần ký ức sống của riêng ông Đỗ Mậu để đạt tới phẩm chất mong muốn. Cuối cùng, sẽ có một editor phải là người thân cật, ruột thịt trong gia đình ‘được chọn lựa’ của ông Đỗ Mậu reedited toàn bộ, chắt lọc từ ngữ, câu văn…nhắm tới tính thuyết phục, tin cậy của độc giả -đó là cuốn hồi ký do chính tay ông Đỗ Mậu viết; sau rốt, bản thảo mới được gởi tới cho từng thành viên tham gia đọc, bổ túc ý kiến rốt ráo trước khi đem bản thảo đi in. Dù là một công việc tập thể (nhỏ), nhưng đó phải là công việc có thể đầu tư đến 7, 8 năm trường. Như ‘dấu hỏi’ tôi đã đặt ở trên, đây chỉ là nhận xét chủ quan, tôi không dám nói đó là sự thật 100 phần trăm!.

Tác động của cuốn hồi ký khá mạnh và liên lỉ theo thời tính. Kể từ mùa Thu năm 1986 đến hôm nay, đã qua 25 năm rồi mà tác động của nó vẫn còn âm ỷ, có thể thấy được qua những emails chửi bới, sỉ vã nhau về vấn đề Công Giáo – Phật Giáo, về chế độ Ngô Đình Diệm; đến nỗi có một số tác giả ‘tham gia’ muộn (và hầu như không hề biết gì về gốc rễ của cuốn hồi ký) xuất ngoại từ các đợt H.O. kể từ đầu thập niên 1990, từng là cựu quân nhân, viên chức cảnh sát cấp cao của Việt Nam Cộng Hòa (có người xưng là đại tá cảnh sát đặc tình này nọ…) tham dự vào ‘chiến dịch’ sỉ vã những nắm xương tàn của hai anh em Tổng thống Diệm – cố vấn Nhu và đạo Công Giáo. Đó mới là chuyện lạ. Phải chăng, họ là những người mang nặng mặc cảm không đội trời chung với đạo Thiên Chúa Giáo?!

Lúc còn cư ngụ dưới vùng Santa Ana (năm 2008-09), có lần nhà biên khảo Trần Đông Phong (đã từ trần năm 2010) nói với tôi khi đề cập tới hậu quả của cuốn hồi ký VNMLQHT của Đỗ Mậu: ‘Ai mà viết cuốn sách đó tính toán chính trị giỏi thật’, trong tinh thần vừa cay đắng vừa mỉa mai. Tôi cũng từng có ý nghĩ tương tự, ai đó đã có viễn kiến chính trị rất sát thời thế. Cho tới hôm nay, một chế độ thống nhất nhờ vào sự độc hiểm và tàn ác đã tồn tại đến 36 năm, và không ai biết được nó sẽ còn tồn tại đến bao lâu nữa, cuốn hồi ký của Đỗ Mậu đã mang lại một số thành quả cho Phật Giáo tân thời: Một tượng đài Thích Quảng Đức ngự trị ngay tại trung tâm Sài Gòn, ngày khánh thành có cái kéo cắt băng của bí thư thành ủy, chùa chiền từ Nam ra Bắc mọc lên như nấm với quy mô xây dựng rất hoành tráng với những thùng phước sương to quá khỗ, tu sĩ Phật Giáo lái xế hộp, cỡi xe máy hai bánh engine self-starter tân kỳ, hình ảnh tu sĩ đầu không tóc, vận áo vàng áo nâu liên tục xuất hiện trên truyền hình, sách báo, internet. Không giống như các tu sĩ Công Giáo Mỹ vì ức chế sinh lý tạo sinh ra căn bệnh ấu dâm (Pedophilia), tu sĩ Phật Giáo Việt Nam dưới sự quản lý của Ban Tôn Giáo, Mặt trận Tổ quốc của Đảng Cộng Sản..vô tư ăn nhậu rượu thịt và, nếu muốn sự cung ứng về giải quyết sinh lý tương đối dễ dàng, nên hầu như không ai bị ức chế sinh lý. Có thể kết luận bằng câu nói: Phật Giáo trong nước đang bạo thịnh, bạo phát…như một nền kinh tế thị trường có định hướng. Nếu là thế thôi, bản thân tôi chỉ ao ước rằng những kẻ đang phục vụ cho công an tôn giáo, công an văn hóa trong và ngoài nước.. xin hãy ngưng ngay việc lợi dụng bọn ‘Công Giáo điếm đàng chính trị’ (những thành phần mà các tín đồ Công Giáo như Lữ Giang-Nguyễn Cần gọi họ là ‘bọn Giao Điểm Công Giáo’), và nên dẹp bỏ đám Phật-tử-phật-tôn phối trí với công an trá hình đang ồn ào ‘chửi Chúa, chửi Công Giáo Việt gian’. Hành vi đó đã kéo dài hơn hai thập niên qua, ‘chính nghĩa đã sáng ngời’ song, không thể làm cho những chiếc ghế thay phiên nhau ngồi của Bộ Chính Trị bất hoại, càng không thể cản trở những cơn sóng dân chủ thời đại đang cuốn hút vào thế kỷ. Hãy thẳng thắn ra tuyên ngôn: Phật Giáo cách mạng đã đại thắng!. Nhưng, trong một phút bình tâm, cũng xin nhớ cho rằng: chỉ có một cơ chế dân chủ, một xã hội dân sự đích thực mới có thể làm cho hành động chống - phê phán một tôn giáo trên nền tảng chữ nghĩa trở nên minh bạch, cao thượng; còn đối với một chế độ bạo trị quỷ quyệt như cộng sản, quý vị chỉ là một nhóm người nhỏ bé ném đá dấu tay, che đậy sự e dè, lén lút sợ hãi vì biết mình bất chính thôi.

năm.

Ông Ngô Đình Nhu muốn làm một lý thuyết gia về chính trị, nhưng là một trí thức ảo tưởng. Tinh thần trí thức ảo tưởng của ông bộc lộ qua lời phát biểu: “Tôi chống chủ nghĩa Cộng sản, nhưng tôi không chống người Cộng sản. Họ là những anh em đi lạc đường.” Câu nói ấy bộc ra một tinh thần chính trị hòa giãi sâu sắc, nhân ái, thâm trầm, nhưng vô nghĩa. Chủ thuyết Cộng sản, trước hết là một hệ tư tưởng, và tư tưởng là do con người sáng tạo. Cho nên, giữa con-người-tư-tưởng và con-người-thân-xác không thể tách rời. Hiểu theo tinh thần Ngô Đình Nhu, ý ông muốn nói, ông không muốn có chiến tranh gây sự tàn hại chết chóc với ‘người anh em’ cộng sản (thân xác), mà chỉ muốn đấu tranh, thi đua tranh thủ chính trị để xem ai mới là kẻ đứng về phía đúng – chính nghĩa (tư tưởng). Song, có thể có những người đương thời ‘muốn’ đối chọi với tinh thần của Ngô Đình Nhu sẽ nghĩ xa hơn nữa.. ông Nhu muốn đặt vấn nạn chính trị Việt Nam giữa hai thế lực chính: Công Giáo (Miền Nam) và Cộng Sản (Bắc Việt); tình nghĩa anh em trong mâu thuẫn thù hận đó giống như tranh chấp đẫm máu giữa Cain và Abel trong Kinh Thánh. Ông Nhu đã vô tình đơn giản hóa bối cảnh và lịch sử chính trị Việt Nam, hơn thế nữa ông bỏ sót cả bề dày, chiều sâu kết tụ nên văn hóa Việt Nam. Trong sự thầm kín (những trí thức đương thời) vì thiếu vắng quyền lực, hoặc chọn lựa đứng bên lề sự hợp tác với chế độ, ông Ngô Đình Nhu đã tạo ra một số kẻ thù trí thức dấu mặt. Có những kẻ không nói, không phát biểu, không sử dụng ngôn ngữ…nhưng sau lưng ông “kín đáo” nghĩ “thằng cha này được hấp thụ từ môi trường École des Chartres, mang tư tưởng bác ái-nhân vị của Thiên Chúa Giáo ra áp dụng để thỏa hiệp với Cộng sản Bắc Việt đây. Thế còn tinh thần văn hóa truyền thống tam giáo đồng nguyên ngàn năm của dân tộc để ở đâu? Ai cho phép ông chính trị hóa bản chất loại anh em đó?”  Trong thực tế, lời tuyên bố ấy có thể làm hả dạ, mát lòng Cộng Sản Bắc Việt, song lấy cái gì để đảm bảo họ sẽ chấp nhận thỏa hiệp, dù thỏa hiệp để thống nhất đất nước và chia xẻ quyền lực?. Những tinh thần “kín đáo” đối lập với ông Nhu nói trên, dù cho họ có đủ kiến thức để thấy hiểm họa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng trong thực tế chính trị, đã đưa đẩy họ nghiêng về hoặc tham gia với phía cộng sản, trước một hoàn cảnh lựa chọn. Ông Nhu đã đánh mất chỗ dựa của trí thức miền Nam.

Đứng ở bình diện chính trị quốc tế, bình thản mà xét, triết lý chính trị của Ngô Đình Nhu là một viễn kiến chính trị thực tiễn. Chống lại Cộng Sản Bắc Việt, không có nghĩa là chống với tinh thần Mác-xít Sô-viết, bởi tinh thần Mác-xít Sô-viết là tinh thần Mác-xít Tây phương, đã bị ảnh hưởng, giao thoa từ Paris nói riêng, Âu châu nói chung -trung tâm văn hóa Tây phương, thuộc về sở trường của Ngô Đình Nhu. Cho nên, chống Cộng Sản Bắc Việt chỉ có thể là chống tinh thần Cộng sản Mao-ít. Đó mới là kẻ thù đích thực của văn-hóa-chính trị Việt Nam (Bởi lý, văn hóa Mác-xít Sô-viết và văn hóa Tự do-Nhân bản Tây phương chỉ như hai người ‘anh em’ lạc đường thôi mà!). Cho nên, chọn lựa văn hóa tự do nhân bản Tây phương (đúng đường !) đồng nghĩa với sự chọn lựa tinh thần văn hóa Thiên Chúa Giáo.

Ngô Đình Nhu làm chính trị và muốn lãnh đạo chính trị mà đôi khi, tuyên bố những câu hớ hênh ở mức độ nguy hại cho bản thân. Thí dụ, ông nói: “Les Cochinchinoises sont des traîtres”. “Les Cochinchinoises/ Cochinchine” được thực dân Tây (trong đó hẳn là phải có sự đóng góp của ‘thực dân văn hóa’ Paul Mus đóng góp bổ sung) sáng tạo để chỉ định vùng địa lý chính trị. Nhưng, trong chiều dài lịch sử xây dựng nên chính thể-quốc gia Việt Nam, trước khi trở thành vùng địa lý chính trị nó đã hình thành một địa lý văn hóa từ lâu đời. Không ai lại đi nói một vùng địa lý văn hóa-nhân văn mang dấu ấn của những kẻ phản bội bao giờ. Suy cho kỹ, ông Nhu có cái lý thực tế lịch sử của ông, nhưng trong dư luận chỉ nghe thấy câu tuyên bố ấy một cách chung chung, mang tiếng vơ đũa cả nắm và hẳn là chẳng có ai quan tâm tới tiếng tỉnh-ước-từ (article contracté: des ) đứng trước, chỉ một số nhỏ người thôi, chứ không phải tất cả! Ông Nhu đã vô tình đánh mất sự cảm tình và hậu thuẫn của quần chúng miền Nam, vốn không hiểu gì về chủ trương chính trị của Ngô Đình Nhu.

Trở lại vấn đề: muốn chống chủ nghĩa Mao-ít trên phương diện địa lý chính trị giữa Việt – Trung, thì điều ‘chắc như bắp’ là phải có một nền tảng của địa lý văn hóa riêng biệt. Ông Nhu nhìn xa thấy rộng, nhưng trong hành động chính trị thì ảo tưởng. Tuy vậy, về sau này các vị như Linh mục Thanh Lãng viết, “Văn Học Việt Nam Đối Kháng Trung Hoa”; hay “Triết Lý Việt Nho”, “Quốc Học”, “Triết Lý Trống Đồng”, “Viết Lý Tố Nguyên” v.v.. của Linh mục Kim Định và một vài tác giả khác… chỉ là sự kế thừa, nối dài triết lý chính trị của Ngô Đình Nhu, trên phương diện văn hóa và văn học.

Trí thức ảo tưởng chính trị, trung thành với lý thuyết chính trị của mình, là bức tường không cho ông Nhu một cơ hội bí mật “đi đêm” với Bắc Kinh; bởi đó mới đích thực là chính trị thực tiễn. Trung Cộng là nhân tố chính cho giải pháp Việt Nam, chứ không phải là đi đêm với Hà Nội để tránh chiến tranh toàn diện và giải quyết vấn đề đất nước. Liên minh với Quốc Dân Đảng Đài Loan trong lúc đó, đồng nghĩa với gia tăng sức mạnh cho kẻ thù (Bắc Việt). Tiếc thay!.

Những anh trí thức trẻ đồng thế hệ với Ngô Đình Nhu vào thời đó ở Huế –như tôi lý giải, đã đối lập, đối chọi, tranh tài…và ‘bất phục nhau’ với ông Nhu trên phương diện tư tưởng; nhưng, trong tâm khảm của địa lý tâm linh (geo-spirituality –chữ do tôi sáng chế) ‘quê hương tôi –có đầy vua chúa- nhưng nghèo lắm ai ơi’ của tôi, thì việc sát hại hai anh em ông Diệm và Nhu là những hành vi man rợ, dã thú... không thể tha thứ. Dù cho, chế độ ấy bị lật đổ có những lý do chính đáng của nó –là những người xuất thân vùng địa lý tâm linh nói trên, ‘chúng tôi’ luôn luôn ghi nhớ và lên án bọn sát nhân. Lẽ ra, những kẻ sát nhân này có thể làm vơi đi sự khinh miệt của dư luận, nếu họ có can đảm bắn luôn vài thằng Mỹ đạo diễn, chủ chốt đóng góp vào việc ‘sát thủ’ đó.

sáu.

Chiến tranh Việt Nam vừa qua là một cuộc nội chiến, đã hẳn. Nhưng là một cuộc chiến đặc biệt, khác biệt với những cuộc nội chiến của các quốc gia khác, như: nội chiến Nam-Bắc (Hoa Kỳ), nội chiến Triều Tiên, nội chiến Đông-Tây Đức, và các cuộc nội chiến của Trung Hoa.

James Fearon, một học giả về ‘nội chiến’ của Đại Học Stanford nghiên cứu và cho rằng bản chất của một cuộc nội chiến như một sự đối chọi bởi lòng tham muốn quá độ (greeds) và sự bất mãn (grievances) giữa hai tập thể xã hội. Hai bản chất này gia tăng cường độ theo chiều dài lịch sử để tiến tới “một cuộc xung đột bạo lực trong một nước bởi những nhóm người có tổ chức nhắm vào mục tiêu tranh đoạt quyền lực trung ương hoặc một vùng, hoặc nhằm vào việc thay đổi chính sách cai trị.” (4)

Cuộc nội chiến Việt Nam trong thế kỷ 20, không những là một cuộc xung đột về bạo lực mang tính tranh chấp ý thức hệ (với sự can dự của các thế lực đế quốc từ bên ngoài), mà còn là những mâu thuẫn về địa-chính-trị, địa-kinh-tế, địa-văn-hóa…nội biên, kế tục, nối dài với những xung đột, thù hận tiềm tàng trong lịch sử từ vài thế kỷ về trước (Trịnh – Nguyễn phân tranh; Nguyễn Gia Long – Hồ-Nguyễn Tây Sơn; Cần Vương/Văn Thân –Tả đạo; Bắc Việt (cộng sản) –Nam Việt (tự do) ). Kissinger đã nhìn thấy được một khía cạnh trong cuộc xung đột vừa qua mang tính tranh đoạt về ưu thế địa-kinh-tế, khi ông đề cập đến sự “ngoan cố” của Bắc Việt một cách bực bội..trong tiến trình tìm kiếm thỏa ước của Hiệp định Paris mà Hà Nội lần lữa, cù chầy trong việc ký kết –vì Bắc Việt muốn nắm chắc sự thủ đắc tuyệt đối về vựa lúa của vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nếu muốn dân chúng Bắc Việt thoát khỏi nạn đói trong tương lai.

Sự kiện xã hội sau khi chế độ Cộng Sản Bắc Việt thắng trận mặc tình cho cán – binh – dân từ phía Bắc ồ ạt xuôi Nam…đã chứng thực nhiều hơn là ý nghĩ với lời truyền khẩu đầy châm biếm “Miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”. Nói cho ngay, sự trao đổi giữa ‘tình và hàng hóa’ này, dù không chỉ giới hạn trong giới người Bắc di cư –còn có một số gia đình từ miền Nam tập kết trước và trong 1954 do hoàn cảnh người thân cách biệt, song ý nghĩa chính là để ám chỉ sự ‘kỳ ngộ’ họ hàng giữa các người Bắc (cộng sản) và người Bắc (di cư) với nhau. Sự 'kỳ ngộ' đã hình thành diễn tiến giao thoa giữa quyền lợi và tinh thần xóa bỏ một thành kiến tào lao chỉ có Công Giáo mới chống Cộng.

Qua chiều dài cầm quyền trên ba thập niên của Đảng Cộng Sản Bắc Việt (vốn xuất phát từ miền Bắc) , sự mâu thuẫn và xung đột dẫm máu bằng quân sự quá khứ đã chuyển hướng trong hòa bình thành mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn về ưu thế vùng miền địa phương, sự chuyển hóa giai tầng xã hội đến sự hình thành giai cấp mới. Phần lớn dân chúng sống dưới bầu trời của miền Nam tự do đã, đều chịu cảnh thiệt thòi như nhau. Đảng Cộng Sản là chìa khóa để bảo vệ sự tồn tại và ưu thế hiện thực của ‘sự chuyển hóa và hình thành’ đó. Hiện thực đó là quyền lợi trực tiếp – gần (số đảng viên cai trị và họ hàng) cộng hưởng với quyền lợi xa (người dân trong vùng, miền) có bộ phận đảng viên cai trị trên đa số. Nói thế, chỉ là sự khái quát hóa thực trạng xã hội, bởi tỷ lệ dân chúng miền Bắc chịu thiệt thòi và nghèo khổ dưới sự cai trị tuyệt đối của Đảng Cộng sản vẫn còn quá lớn. Mặc dù quyền lực cộng sản tạo nên một hình thái kinh-tế-họ-hàng (crony economy), nhưng trên thực tế vẫn không thể thoát khỏi tính ưu thế của địa-kinh-tế qua thực trạng thu hoạch tài chính, thuế má ở miền Nam góp thu vào ‘kho bạc nhà nước’ bao giờ cũng dồi dào hơn nhờ vào sự phát triển kinh tế, dù trọng tâm phát triển cơ ngơi, hạ tầng cơ sở là tập trung ở Hà Nội và các vùng miền Bắc nhưng tài chính lại thiếu hụt, nên miền Nam đành phải nai lưng đóng góp bằng cách thu thêm thuế dân, góp vốn cho chính quyền trung ương Hà Nội… tiếp tục một chu kỳ mới như một chiếc bánh xe méo mó, dù bất cân đối nhưng vẫn phải chạy đều.

Hiện nay, không ai lại không rõ hình ảnh hiện thực không chỉ xảy ra ở Sài Gòn, mà còn ở các thành phố lớn miền Nam như: Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng, v.v.. đa số gia đình, người thân của cán bộ miền Bắc thủ đắc những cơ ngơi kinh tế, làm ăn ở ngay những đường phố chính, hoặc ở những địa thế, khu vực có ưu điểm về kinh tế.

Đó là một thực trạng bất công xã hội sẽ trở thành nguyên trạng lâu dài, khó cải tạo. Chỉ có sự xóa bỏ địa vị chính trị độc tôn của Đảng Cộng sản, thiết lập một cơ chế dân chủ pháp trị may ra có thể san bằng một số bất công do hoàn cảnh lịch sử tạo ra. Ở cương vị của người trí thức miền Nam, không ai muốn có tranh chấp về cơ sở vật chất, kinh tế giữa người dân với nhau; nhưng một sự thống trị áp đặt thứ văn hóa bất toàn của kẻ thắng trận lên tư duy, chất xám của những người thua trận (-những người đã từng được nhào nặn, xây đắp và trưởng thành trong tinh thần tự do, khai phóng) là điều không thể chấp nhận. Không chấp nhận trong cái văn hóa tổng thể đã đành, ngay cả phủ nhận luôn những tiểu tiết như từ ngữ, từ nghĩa…mang tính áp đặt từ một nền văn hóa chính trị cộng sản.

Phê phán thành quả công tác văn hóa qua các bài viết của các cán bộ ‘hàng đầu’ của Hà Nội được Đảng gởi ra nước ngoài như Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, Bác sĩ Trần Văn Tích là một trong những người thuộc thế hệ tiền bối của chúng tôi đã viết dõng dạc như một lời tuyên ngôn về sự phủ nhận đó, “..Chủ nghĩa cộng sản dốc lòng nắm chặt quyền lãnh đạo văn hóa. Đối với nó, tư tưởng chủ đạo nền văn hóa công khai không phải là tư tưởng phấn đấu cho quyền làm người và quyền làm dân, mà là tư tưởng nô dịch ngu dân; văn hóa được đề cao không còn là nền văn hóa ngang tầm thời đại mà là nền văn hóa uốn nắn công dân thần phục chế độ toàn trị. Phải nhận là kẻ cầm quyền trong nước đã thực hiện được phần nào ý muốn của nó. Hồ Chí Minh và bè lũ sai nha của y hiện có dưới trướng hàng ngàn, dĩ chí hàng vạn thân binh cuồng nhiệt, tín đồ hoạt đầu hoặc đảng viên cơ hội trong đội ngũ văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ, tu sĩ, khoa học. Hơn thế nữa, còn có những người cầm bút tự nguyện xếp hàng tham gia tập đoàn khuyển mã trung thành, tay sai tin cậy, gia nô ưu đãi của chế độ trong số có hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi, từng được Trung Tâm William Joiner Center tuyển chọn phụ trách một phần công trình nghiên cứu mệnh danh là ‘Đề Án Về Cộng Đồng Người Việt Ở Nước Ngoài Nghiên Cứu Gia Khoa Học Nhân Văn Quỹ Rockefeller 2001-2002’.” (5)

Tôi thích kiểu nói thẳng thừng, mạnh bạo, bước qua những rào cản nho giáo lỗi nhịp, dù tôi biết ông là một học giả uyên thâm về tư tưởng Đông – Tây trong nhiều lãnh vực.

Trở lại câu hỏi trong phần một như tôi nêu ra, “Viết cái gì và, viết để làm gì?”, tôi ghi nhận sự khẳng định của lão bối Trần Văn Tích là ông ‘Viết Vì Lưu Vong’:

Trước 75 tôi cũng từng viết. Nhưng tôi chỉ viết quanh quẩn về một nội dung : biện hộ cho đông y đối trước thái độ không mấy thân thiện của tây y. Tỵ nạn ở nước ngoài, tôi chuyển dần thế đứng và thay dần cách viết. Tôi ngầm ký thác lập trường chống độc tài đảng trị trong một số lớn bài viết của tôi. Tôi có những bài nghị luận chính trị trực tiếp chống cộng bên cạnh những bài đả kích cộng sản một cách xa xôi. Rất nhiều bài không nói gì về chủ nghĩa mácxít, trái lại nội dung hoàn toàn thuộc lĩnh vực văn học văn chương nhưng vẫn mang màu sắc chống cộng. Tôi quan niệm rằng trước tai hoạ vô song đổ lên đầu dân tộc, mỗi người Việt lưu vong góp vào công cuộc cứu quốc được cái gì thì góp, kẻ bằng cánh tay, kẻ bằng hiện vật, kẻ bằng lời nói, kẻ bằng trang báo. Tôi nghiệm ra rằng hầu như không có ngòi bút tỵ nạn nào rời bỏ thế đứng chống đối đại hoạ độc tài đảng trị và cũng không có ai chấp nhận chính sách văn học chỉ huy. Thế mạnh của văn học chính thống là thể hiện, biện luận, phân giải những vấn đề chính nghĩa, xoay quanh công cuộc chống ách nô lệ mác-xít. Đối với tôi, người viết văn lưu vong tỵ nạn không coi sáng tác là một biểu hiệu của tài hoa, mà là một bổn phận, vừa thoả mãn nhu cầu tinh thần, vừa đóng góp cho đại cuộc…” (6)

Tôi chân thành cảm khái đọc được những dòng chữ đó. Tinh thần đó chuyển tiếp kích hoạt vào nỗ lực mà tôi từng suy nghĩ ‘viết để làm gì’ nói trên trước hai đối tượng:

-Đối tượng một là cơ chế cai trị độc tôn, độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một cơ chế phải bị phê phán triệt để, đóng góp vào nguyện vọng nó phải bị xóa bỏ, thay thế.

-Đối tượng hai là tầng lớp trí thức trẻ miền Bắc đang nổ lực vận động, đòi hỏi Việt Nam phải có một cơ chế dân chủ, những tự do căn bản như tự do ngôn luận cần phải được thi hành. Với mục tiêu cao cả đó, tôi có trách nhiệm tinh thần phải ủng hộ tầng lớp trí thức Bắc hà mới này. Họ là những người tiền phong, trực diện chiến đấu bằng ngòi bút với một cơ chế hung bạo trong một nền văn hóa cộng sản đã hoàn toàn bị phá sản. Họ còn mang một trọng trách về lương tri nhằm “rửa mặt” dùm cho những thành kiến xấu xa về Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi thắng trận đã đối xử bất nhân, bất nghĩa, bất chính lên toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam.

Nguyễn Văn Hóa

Tuesday, December 27, 2011

 

Chú thích:

(1) “Lịch sử còn đó…”, Nguyễn văn Lục        

(Đăng trên giaodiem.com, mục: Nghiên cứu & đối thoại tháng 12 quý bốn năm 2003 )  

http://www.giaodiem.com/doithoaiIV/12_nvluc_history.htm 

(2) Hoàng Sa Trường Sa và những người tranh đấu trước 1975 * , Nguyễn Ước 

http://www.danchimviet.info/archives/39720

* Ghi chú: Hầu hết nhân danh, địa danh, tên các tờ báo, tạp chí và phong trào trong bài này tôi lấy từ cuốn Nhìn lại một chặng đường văn học của GS Trần Hữu Tá, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2000, trong đó có in tiểu sử tóm tắt và trích văn thơ của họ.

-Góp ý kiến của một độc giả:

D. Nhật Lệ says:

27/07/2011 at 04:48  

Xin viết thêm vài giòng về những người tôi từng biết rõ trong danh sách trên.

-Những tên sinh viên từng nằm vùng sau 1975 trở thành đảng viên CS. gồm có Võ Quê, Nguyễn Văn Bổn (tức Tần Hoài Dạ Vũ nghe bút danh là biết thờ Tàu), Trần Hữu Lục, Phan Duy Nhân, Đông Trình (NĐTrọng) v.v. Trong số này thì bây giờ đa số “ngồi chơi xơi nước” dù được thưởng công sau 1975 vài năm như NVB hiệu trưởng, PDN. làm ủy viên Mặt trận Tổ…cò v.v. Riêng VQ. thì được thưởng làm thi nô trong hội nhà văn nhưng nay hình như đang diễn tuồng “Hối hận…trễ rồi” qua bài thơ trên !

Còn THLục già rồi nhưng vẫn còn làm “ngựa non háu đá” không khác gì Hồng vệ binh Tàu.

Những sinh viên già đảng viên là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Phan (em ruột) đều bệnh hoạn, Nguyễn Đắc Xuân cũng thế, sắp xuống chầu Diêm Vương dưới 9 tầng địa ngục !

Thật ra, NU. kể sai một chút về Vĩnh Linh thì thời sinh viên “chân chỉ hạt bột” chẳng biết gì về chính trị chính em, chỉ sau khi ra làm thầy giáo mới bị bọn nằm vùng dụ khị mà đi theo !

Huỳnh Như Phương thì hiện thời chỉ dám viết những ngày tháng thơ mộng ngồi quán càphê trước kia mà thôi, kiểu như “Hổ nhớ rừng”.

Tôi có chứng kiển nên biết rõ như “đi guốc trong bụng” mấy sinh viên…trâu đánh là Lê Gành, Lê Văn Huế (Lê Nhược Thủy) Nguyễn H Thọ v.v. (và vài tên nữa quên tên) hồi học Quân sự học đường ở Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa đã đấm đá nhau, cãi nhau như mổ bò để tranh dành đến rách áo những bao thuốc lá Mỹ mà khi đoàn công voa đi ngang qua, lính Mỹ vất vào trong vòng rào TTHL. nói trên.

Cuối cùng, còn lại dăm ba chàng “công tử… đẹp trai, con nhà nghèo, học giỏi” thì yêu nước thật sự nhưng khi nhận ra mình bị lừa thì cao chạy xa bay ra nước ngoài như Trần Cược (Trần Đình Sơn Cước) ! Anh bạn tôi từng đứng chung liên danh chủ tịch Luật Khoa (Tống Châu Thi mà tôi nhắc trong thư trước) với TC. Làm chủ tịch và TCT. làm phó một thời, chống lại nhóm thiên tả (thân cộng, sau này mới lột mặt nạ).

Than ôi ! Cả một thời giới sinh viên “trẻ người non dạ” đã mắc lưỡi câu CS. và cả VN. nằm trong bàn tay sắt của bọn quỷ đỏ lọc lõi nghề bịp bợm thiên hạ ! Sắp đến ngày đền tội của chúng ! 

-Một đoạn trong bài thơ Xuống Đường của Võ Quê:

…………………..

Xuống đường!
Xuống đường!
Hoàng Sa là của chúng ta!
Xuống đường!
Xuống đường!
Trường Sa là của chúng ta!
Xuống đường!
Xuống đường!
Đồng bào ơi!
Chủ quyền non nước Việt!

……………………………..

(3) Vài cảm nghĩ qua dư luận về cuốn sách VNMLQHT của Đỗ Mậu , Nguyễn Văn Hóa

http://www.giaodiem.us/us-2006/12-06/y-nvh-domau.pdf

(4) Định nghĩa ngắn về ‘nội chiến’, James Fearson, Scholar at Stanford University

http://en.wikipedia.org/wiki/Civil_war

(5) Tâm không chính, Từ không thuận ! Trần Văn Tích

http://votanh.fateback.com/tvtich.html

(6) Viết Vì Lưu Vong , Trần Văn Tích 

http://www.giaodiem.us/us-2011b2/2011_12_28_tranvtich.htm

 

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA