ß Trờ về

đăng ngày: 09.10.2011

“Thằng Bờm” Trung Quốc và “Triết lý quạt mo” thời đại

 

           -Ý tưởng trong ngày: Chiến tranh là nhịp sống, là hơi thở của nhân loại. Chúng ta không thể sống mà chối từ hơi thở   -nguyễn văn hóa

                    (Bài viết này sẽ đăng từng phần. Viết đến đâu, chúng tôi đăng đến đó. Đây là bài đầu tiên, mục chú thích sẽ được bổ sung toàn bộ sau cùng.)

____________

Nguyễn Văn Hóa

 

Tháng 11/1985, tôi có viết bài “Điện toán và vấn đề đối ngoại”, đem câu chuyện mặc cả để trao đổi chiếc ‘quạt mo’ và ‘nắm xôi’ giữa ‘thằng bờm Việt Nam’ và ‘phú ông Mỹ’. Đại biểu cho ‘Thằng bờm Việt Nam’ dạo ấy là Bộ Chính trị đảng Cọng sản và bộ phận ngoại giao do Nguyễn Cơ Thạch đứng đầu.  Thằng bờm Việt Nam không thể hiện được tinh thần và triết lý của thằng bờm Việt Nam trong ca dao. Tính tham lam và kiêu căng của một kẻ tự nhận mình là ‘chiến thắng’, lại thiếu máu nghệ sĩ –thằng bờm Việt Nam là một thằng bờm rất khó thương. Phú ông Mỹ dạo đó lại có lòng dạ hẹp hòi, thiếu chiều sâu tâm lý của ‘thằng bờm Bắc kỳ’ đã từng ‘táp’ được miếng mồi to. Cuộc trao đổi thất bại, cho đến mưới năm sau, dưới thời ông tổng thống –người từng được thiên hạ ví von là ông tổng thống ‘thích bú’ (love to be sucked) Clinton, bang giao Việt-Mỹ mới được thành hình. Nắm xôi và chiếc quạt mo đã được trao tay.. (1)

“Bờm” theo tiếng Nôm –là “bàn”, có nghĩa là vui sướng, yên ổn, thư thái, thoải mái, không tham lam. Nhưng, trải qua chiều dài của thời đại, có khi ‘bờm và phú ông’ chịu cuộc đổi đời dâu bể, chuyển hóa giai cấp. Bờm trở thành phú ông, hoặc phú ông có khi trở thành bờm. Những ngày xưa ấy, tôi nhớ Nguyễn Cơ Thạch lăng xăng, chạy đôn chạy đáo từ Tây qua Mỹ (xuất hiện dài ngày ở thành phố San Jose, bang California), móc nối với những ‘chí sĩ’ thân chế độ Hà Nội để ghi nhận về những ý kiến ‘quân sư quạt mo’; giờ đây, kẻ kế thừa sự nghiệp của Nguyễn Cơ Thạch đứng ở hoàn cảnh khác –không cần qua trung gian, lại được ‘tâm tình’ thẳng với Ủy Ban Đối Ngoại Mỹ (Council on Foreign Relations). Tục ngữ Việt Nam nói, ‘con hơn cha là nhà có phúc’. Vấn đề ‘phúc’ hay ‘họa’ của họ, không phải là mục đích của bài viết này. Tôi muốn mượn câu chuyện ‘thằng bờm và phú ông’ để ví von về sự mặc cả ‘kín’/ hoặc ‘hở’ giữa Trung Quốc và Mỹ -về việc chia đôi Thái Bình Dương. Song, thực tế quá khó để định vị thế ‘bờm’ và ‘phú ông’ cho hai phía. Ai là ‘bờm’, ai là ‘phú ông’?. Lấy lý lẽ thông thường mà nghĩ, thì dù Mỹ đang gặp khó khăn kinh tế (có thể sẽ là một khủng hoảng lớn, một suy sụp trầm trọng) -vẫn sống ung dung tiêu xài nhờ vào số tiền cho vay nợ của Tàu. Tàu, tuy là một cường quốc đang trở nên hùng mạnh, nhưng vẫn còn nghèo và yếu kém về một số phương diện. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tự nhìn nhận như thế, những tướng lãnh về quân sự Trung Quốc vẫn khiêm tốn cho biết mình còn yếu không bắt kịp Mỹ nổi về phương diện quân sự. Cho nên, tôi tạm ví von Trung Quốc là ‘thăng bờm’, Mỹ (xem chừng muôn năm) vẫn là ‘phú ông’. Nhưng, có một nghịch lý trong sự khởi phát về trao đổi. Phú ông Mỹ không phải là kẻ ra giá trước, mà là thằng bờm Trung Quốc. -Tại sao? Giá trị ‘Chiếc quạt mo’ thời đại của ‘thằng bờm’ Trung Quốc là gì?

 Tướng Trung Quốc Lưu Á Châu (Liu Yazhou) và “triết lý quạt mo”

Trung tướng Lưu Á Châu là một vị tướng Chính Ủy của Quân đồi Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (tạm gọi là PLAF: People’s Liberation Air Forces) không phải là một vị tướng ‘sàng sàng’ ngoài thiên hạ. Đọc qua những bài viết, những câu trả lời phỏng vấn của ông, tôi nhận thấy ông là một tướng lãnh có văn hóa -ở tầm cao. Ông là một nhà chiến lược ‘khiêm tốn’ (hoặc giả vờ khiêm tốn?) tự nhận những yếu kém của quốc gia mình, nhất là trong lãnh vực sức mạnh không quân nhằm đối đầu với những cường lực khác. Biết mình yếu, nhưng không sợ hãi, không nhún nhường –một tinh thần “bần tiện kiêu nhân”  (nghèo hèn mà không chịu khuất phục kẻ khác). Chấp nhận kẻ khác sẽ tấn công mình cú đầu, bằng sự chuẩn bị chu đáo để nhận ‘đòn’, nhưng không chỉ là để tự vệ, mà để giáng trả một đòn phản công tất thắng. Đánh là để thắng, để sống còn. Sống bằng “nụ-cười Giulio-Douhet”, chứ không phải sống trong sự cúi đầu với nước mắt. Trong cuộc phỏng vấn của Dai Xu –biên tập viên của tạp chí Khoa học Quân sự Không quân, ông đã trả lời với một viễn kiến về chiến lược chiến tranh của thế kỷ 21, qua tiềm năng thực tế của mình và của ‘kẻ thù’ (dự phóng) là Mỹ. Tôi tạm gọi tinh thần trong nội dung trả lời của Lưu Á Châu là “triết lý quạt mo”.

- Nhìn từ góc độ văn hóa qua hai cuộc chiến lớn của Mỹ đầu thế kỷ 21

Lưu Á Châu nói, “Những mâu thuẫn giữa các nền văn minh, căn cơ là những mâu thuẫn tôn giáo. Sự đối đầu giữa các quốc gia Ả-rập và Do Thái chính là một phần của nó. Người ta có thể chối bỏ sự hiện hữu của mâu thuẫn văn minh, nhưng có thể nào chối bỏ sự hiện hữu của tôn giáo?. George W. Bush (Jr.) đã mô tả chiến tranh Iraq là một “Thập tự chiến” (Crusade), về sau ông sửa lại đó chỉ là “lời thốt qua đầu môi chót lưỡi” thôi. Có thể nào đó chỉ là câu nói “đầu môi chót lưỡi”? Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, một cuộc chiến tranh khác khởi sự, căn cơ là văn minh, bởi những mâu thuẫn giữa Ki-tô giáo phương Tây và các nền văn minh Hồi giáo. Mỹ không chỉ muốn “cải cách” thế giới Hồi giáo như đã tuyên bố. Mục tiêu chính yếu của Mỹ là muốn đập tan toàn bộ cộng đồng Hồi giáo. Từ ngàn xưa, văn minh đã được trồng cấy bằng chiến tranh. Mỹ đối đầu thế giới bằng phương tiện chiến tranh. Ý nghĩa chủ yếu của chiến tranh Iraq có thể tìm thấy trong những lời lẽ của các chính khách Mỹ…”   (2)

Như vậy, đạo lý chiến tranh của Mỹ là gì?  “-Mỹ không cần một lý lẽ để khởi động một cuộc chiến, và họ không cần bất cứ một luật lệ nào trong khi cuộc chiến đang xảy ra.”

Lưu Á châu nhắc lại lời tuyên bố của Dennis C. Blair, cựu chỉ huy trưởng Thái Bình Dương Mỹ, từng nói: “Chúng tôi tôn trọng quyền hạn của Quân đội Giải phóng Nhân dân (Trung Quốc) trên đất liền. Song, chúng tôi phải làm cho họ hiểu rằng đại dương và không gian là của chúng tôi.”  (3)

Để trả lời cho câu tuyên bố ‘phú ông’ đó, Lưu Á Châu nói lên quan điểm của mình: Niềm tin của tôi là vấn đề (quân sự của Trung Quốc) phải hoán thể chiến lược, không phải là hoán thể chiến thuật –ít ra trong giai đoạn hiện tại. Và để hoán thể chiến lược, khả năng không phải là vấn đề, tính quả quyết mới là vấn đề. Chúng tôi phải chuẩn bị để đối đầu với các lực lượng hung hăng của Mỹ. Chúng tôi bàn luận về mục tiêu sắp tới của Mỹ. Bất kẻ mục tiêu đó sẽ là ai, vấn đề chính yếu là liệu họ sẽ tấn công Trung Quốc. Đề phòng để có thể lật ngược sự thảm họa.

Lưu Á Châu luôn ghi nhớ câu châm ngôn của Mao Trạch Đông : “Trong việc thiết kế một cuộc chiến, ta phải luôn nắm lấy những điểm chiến lược sinh tử, trong lúc đó thiết đặt chiến thuật hành động, ta phải nắm lấy điểm sinh tử của một trận chiến.”

Chúng tôi biết rằng, giá trị nền tảng của phát triển kỹ thuật và sự áp dụng của nó trong môi trường quân sự là làm thấp giảm sự tốn kém cho một cuộc chiến thắng… Mỹ là một thí dụ tốt cho chúng tôi, và bởi họ là một quốc gia duy nhất đã nhờ vào chiến tranh để mang về lợi tức. Người Mỹ bắt đầu dịch vụ chiến tranh để sinh lợi có từ sau khi chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam. Họ coi chiến tranh như một công cụ ‘business’,  không phải chiến đấu vì dính líu tới chính trị hay ý thức hệ. Chỉ vì mục đích ‘làm tiền’, cho nên họ cố giảm thiểu sự tốn kém càng nhiều càng tốt, đặc biệt là sinh mạng. Vì vậy, chúng ta có thể tiên đoán làm thế nào để chiến đấu với nó: chắc hẳn đó phải là cuộc chiến với phương tiện đơn thuần trong lợi ích kinh tế cao nhất, nhờ đó lợi tức chiến tranh sẽ được tối đa hóa.

Chiến thắng không chỉ là mục đích và tiêu chuẩn. Những gì mà Mỹ đang theo đuổi là chiến thắng với giá thấp nhất. Hiểu cách khác theo luận điểm của Lưu Á Châu, “Càng có nhiều cuộc chiến tranh, càng có thêm kẻ giàu có, hay nói ngược lại, người giàu có càng nhiều thì càng sinh sôi thêm nhiều cuộc chiến tranh.”

Khi được phóng viên hỏi -vấn đề quan trọng bậc nhất trong việc tạo dựng chiến lược là gì, Lưu Á Châu trả lời, hai vấn đề chính là: Tránh những lỗi lầm. Sự nghèo nàn chiến lược là trở ngại chính trong việc phát triển đất nước, và kéo luôn cả sự phát triển sức mạnh quân sự. Có một khẩu hiệu nói rằng, “chúng ta phải phát triển giáo dục mặc cho chúng ta nghèo nàn thế nào đi nữa”. Chúng ta có thể chịu đựng sự nghèo khó trong mọi lãnh vực ngoại trừ chiến lược. Sau khi cuộc chiến ở Iraq ngừng nghỉ, Gao Jin nói, “khi thế lực cuộc chiến xế tàn, là lúc chiến lược sản sinh.” Bởi lý, ông ta nắm được bản chất của vấn đề trong một trí tuệ minh mẫn. Hơn một thập niên qua, ông ta đã vất vả để chuyển hóa  Đại học Quốc phòng từ một đại học chiến thuật để trở thành một đại học chiến lược. Tư duy của ông có tính cách tiên tri. 

Vấn đề chiến lược chính của quân đội chúng ta là chuẩn bị chiến tranh, nhưng đó là một hiện tượng hoàn toàn mang ý nghĩ-khiêu khích: Hoặc giả chúng ta nên cân lượng vấn đề triết lý quân sự để mang lại những khái niệm cực kỳ trừu tượng, hoặc chúng ta tư duy về những xung đột quân sự, để rút tỉa những điều cực kỳ đặc biệt.

Như Gao Jin đã nêu ra, “Chúng ta không thể cứ lơ lửng trong không trung với triết lý quân sự mà không chịu đáp xuống đất; chẳng thể nào chúng ta cứ dầm mình ở đáy tầng của các phương pháp chiến tranh cụ thể, để không bao giờ nghĩ về những điều tối ưu.”

Mao Trạch Đông thường nói, “tư tưởng đúng phát xuất từ đâu?” Nhưng, tôi lại tự đặt câu hỏi ngược lại: “Trí lực sai lầm phát xuất từ đâu?” Cũng như ý tưởng đúng, trí lực sai lầm của một người đến từ thực tiễn. Đôi khi, sự sai lầm lại dẫn đạo con đường, rồi chân lý sẽ theo sau.

“Mao Trạch Đông là một thiên tài quân sự vô song trong lịch sử nhân loại chiến đấu và đánh bại những kẻ thù mạnh hơn.”

Mỹ là một kẻ thù (nếu có thể) mạnh hơn. Mỹ không sợ sự hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, bởi Trung Quốc khó mà bắt kịp với họ. Những gì mà quân đội Mỹ sợ hãi là tinh thần Mao-hóa (Maoization) quân đội Trung Quốc. Mao-hóa cũng có thể được gọi là cách mạng hóa hoặc chính trị hóa, nhưng chỉ là một phần của nó thôi. Càng để lâu mới Mao-hóa sức mạnh quân sự Trung Quốc, Mỹ càng có nhiều cơ hội chiến thắng.

Ông Lưu nói: Khi tôi còn đang nghiên cứu ở Mỹ, tôi nhận ra rằng họ có một chiến lược lớn. Có nghĩa là họ luôn tìm cách tạo ra một tình huống mà kẻ thù sẽ có cảm tưởng rằng, đất liền của mình đang bị đe dọa. Khi tình huống ảo đó xảy ra, kẻ thù sẽ huy động nhân lực và mọi phương tiện tài nguyên ở đất liền, bỏ trống biển khơi và không trung cho Mỹ.  Mỹ sẽ không dùng phương tiện đất liền để nắm đầu kẻ thù: họ đổ bộ từ không trung. Bạn thấy không, chúng ta không hề có vấn đề gì với đất liền cả, trong khi đó, vùng biển của chúng ta đã bị xâm lấn nghiêm trọng. Chúng ta không còn giới hạn vào khái niệm chiến tranh trên đất liền nữa.

- Quan điểm của Lưu Á Châu về Lý thuyết Đổi mới và Phát triển Đường dài (Theory Innovation and Striding Development) của Quân đội Nhân dân Trung Quốc:

PLA (Quân đội Nhân dân Trung Quốc) là một quân đội vẻ vang và vô địch. Chúng ta đã chiến thắng nhiều loại kẻ thù khác nhau, trong hoàn cảnh gian khổ, hiểm nguy và nhiều khó khăn. Khi chúng ta đối diện với những thách thức cách mạng quân sự mới, chúng ta phải có cái đầu hiểu biết minh bạch về chính mình, về thời điểm và những kẻ thù địch chúng ta. Chúng ta cần có một nhận thức lớn và một phương tiện to tát. Chúng ta cần đổi mới, bởi nó là linh hồn của mọi lý thuyết, phục vụ như một mái nhà thiết kế ở mức cao nhất của phát triển quân sự.

Chúng ta nên xem xét khái niệm đổi mới trong lý thuyết quân sự từ chiều cao của sự sống và cái chết, sự sống còn và tồn vong của đất nước và dân tộc chúng ta. Giá trị đích thực của điều nghiên trong lý thuyêt quân sự chỉ có thể được thử nghiệm qua các cuộc đụng trận.

Chúng ta phải nhìn nhận rằng, so sánh với cải cách trong các lãnh vực khác, tiến độ cải cách quân sự của chúng ta chưa đủ nhanh, ý tưởng của chúng ta chưa đủ táo bạo.

Sự thực là cải cách quân sự đã đi đàng sau cải cách tổng thể của quốc gia, là một hậu quả lịch sử. Nếu như đi sau một chút thì có thể chấp nhận được, nhưng nếu theo sau quá xa thì đó là vấn đề nghiêm trọng. Hiện đại hóa quốc phòng chính là hiện đại hóa quốc gia vậy.

Một chuyên gia quân sự của Mỹ từng nói, “đối đầu với những cuộc chiến tranh tương lai, chúng ta phải chuẩn bị từ cái cổ trở lên, không phải từ cổ trở xuống –nếu như chúng ta không còn sự lựa chọn nào ngoài chiến đấu.”

Bước vào thế kỷ 21 đã tròn 4 năm (2004), nhân loại đã bước qua kinh nghiệm của hai cuộc chiến có quy mô lớn. Cả hai cuộc chiến đã xác nhận không lực đã bước tới mức tột đỉnh của nghệ thuật chiến tranh. Nó chưa phải là điểm kết thúc; mà đang ở điểm khởi đầu mới... Ngày nay đánh dấu một giai đoạn đầu của không quân trong kỷ nguyên không gian, nó là điềm báo trước một chiều hướng: một chuyển tiếp đầu tiên từ sức mạnh của không quân qua sức mạnh của không gian-bầu trời (trong đó không gian là yếu tố hỗ trợ), và sức mạnh không gian-bầu trời sẽ tiếp diễn (lúc đó không gian sẽ là yếu tố chế ngự.) Nói cho chính đáng thì những cuộc không chiến là sự bành trướng của trận địa chiến, thì chiến tranh không gian là điều không thể tránh khỏi sự bành trướng của các cuộc không chiến. Ngũ Giác Đài từng nói rằng, “Chúng ta hãy ngưng nghĩ về ngày mai, mà nên nghĩ về ngày hôm sau của ngày mai.” Tôi bắt đầu suy nghĩ loại chiến tranh của ngày hôm sau ngày mai sẽ là loại gì.

Như Giulio Douhet từng bình luận chừng một trăm năm trước, “Chiến thắng luôn nở nụ cười cho những ai thấy trước sự thay đổi những thể dạng của chiến tranh.”  Hãy thử suy xét với câu hỏi tiếp theo: trong lúc chúng ta đang bước tới thế kỷ 21, với cuộc chiến tranh của nó, liệu chúng ta có thể nở nụ cười của Giulio Douhet?. (4)

Trung Quốc đang thủ đắc những ưu thế gì?

Từ “triết lý quạt mo” –một yếu tố về trí lực, chúng ta thử tìm hiểu những sở đắc vật lực của Trung Quốc hiện nay là gì? Patrick Thibodeau -biên tập viên kỹ thuật về kỹ-thuật-cao (hi-tech) của tạp chí ComputerWorld nêu ra 5 lý do và cho rằng Trung Quốc sẽ dẫn đầu thế giới trong lãnh vực kỹ thuật (5) :

-- Giới lãnh đạo Trung Quốc là những người có kỹ năng (technocrates):

Tám trong chín ủy viên Bộ Chính trị (kể luôn Chủ tịch Hồ Cẩm Đào) có bằng cấp về kỹ thuật; riêng một ủy viên có bằng địa-chất-học.

Bà Thibodeau so sánh với Mỹ, trong 15 thành viên của nội các, có đến 6 người có bằng luật. Chỉ có một thành viên có bằng khoa-học-cứng (hard-science), đó là bộ trưởng năng lượng Steven Chu (gốc Tàu) –người đoạt giải Nobel về Vật Lý năm 1997. Ngoài ra, cả tổng thống (Mr. Obama) và phó tổng thống (Mr. Biden) đều có bằng luật.

-- Giới lãnh đạo Trung Quốc muốn họ sẽ loại sổ Hoa Kỳ về lãnh vực sáng chế:

Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc đã tạo dựng mục tiếu hàng đầu về kỹ thuật sáng chế từ máy tính điện toán siêu nhanh (supercomputers) đến kỹ thuật ‘Nanotech’ (*). Bằng chứng cụ thể là một ngân sách đầu tư cao trong lãnh vực năng lượng sạch. Trong tháng 3/2010, cơ quan bất vụ lợi ‘Pew Charitable Trust’ (-chuyên trách nghiên cứu & điều tra về phát triển và môi trường sạch) cho biết Trung Quốc dẫn đầu Mỹ về đầu tư trong lãnh vực năng lượng sạch: Năm 2009, Trung Quốc đầu tư 34.6 tỉ đô-la trong năng lượng sạch, gần gấp đôi Mỹ, 16.8 tỉ. John Doerr, thành viên của công ty cổ phần đầu tư Kliener Perkins Caufield & Byer, trong diễn đàn tháng sáu (2010) của Chủ tịch Microsoft –Bill Gates, đã cảnh cáo về tương lai môi trường của Mỹ phải lên tiếng: “Thật quá buồn khi người Mỹ đã tiêu thụ bánh khoai tây chiên nhiều hơn so với số tiền mà chúng ta đã dành để nghiên cứu & phát triển lãnh vực năng lượng sạch.”  (6)

-- Gia sản về tài năng kỹ thuật và khoa học của Trung Quốc khá lớn:

‘Quốc sản’ chất xám về lao động kỹ thuật của Trung Quốc cực rộng, đến nỗi công ty đầu tư ngoại-biên (outsourcing) Bleum, Inc. đã dùng đến điểm IQ 140 cho các ứng viên xin việc làm tốt nghiệp về khoa học điện toán (computer sciences). Công ty Bleum cho rằng có đến gần 1% dân số Trung Quốc có số IQ này (chừng > 13 triệu người Tàu ). Vì vậy, muốn mướn người Mỹ, công ty Bleum phải sửa lại tiêu chuẩn IQ xuống 125; song sau cuộc thi, Bleum đành phải quyết định mướn 1,000 người ở Trung Quốc.

Một con số dữ liệu khác cũng nên biết: Trong năm 2005, ở Mỹ cấp 137,000 văn bằng kỹ sư, thì ở Trung Quốc con số đó là 351,000 kỹ sư. Có thể một số nhà ‘khoa-học và toán học’ thân ‘tổ quốc Hồ-chí-minh’ sẽ la làng lên là nền giáo dục ở Trung Quốc dõm, ‘học dễ òm’ làm sao so sánh với giáo dục khoa học kỹ thuật của Mỹ-Úc?. Nhưng xin đừng nóng vội, chuyện đó sẽ bàn ở chỗ khác. Ở đây chỉ đề cập đến số lượng sinh viên kỹ thuật được đào tạo thôi!.

-- Nền giáo dục về khoa học và toán thất bại ở Mỹ:

Đây là vấn đề sĩ diện quốc gia, cho nên Thượng nghị sĩ Kay Baily Hutchinson (Cộng hòa, bang Texas) đã mở một cuộc điều trần tại Thượng viện để báo cáo so sánh về trình độ học sinh ở bang Texas so với học sinh ở Trung Quốc, bà phát biểu: “Ở tiểu bang nhà của tôi, chí có 41% học sinh tốt nghiệp trung học là có trình độ toán (đại số level 1), và chỉ có 24% có đủ trình độ khoa học (biology) để có thể học tiếp lên đại học.” Bà nói tiếp, “Thưa ông Chủ tịch thượng viện, ở Mỹ chỉ có 2% nam sinh, 1% nữ sinh ở lớp 9, là có dự định sẽ tiếp tục học lên cấp cử nhân về các ngành khoa học và kỹ thuật. Đối chọi với con số phiền não này là ở Trung Quốc có đến 42% sinh viên tốt nghiệp đại học về các ngành kỹ thuật và khoa học.” 

-- Trung Quốc thủ đắc toàn bộ kỹ thuật học của Mỹ:

Năm 2008, công ty Sony đóng cửa nhà máy chế tạo máy truyền hình cuối cùng ở Westmoreland, bang Pennsylvania, chuyển đến nhà máy lắp ráp ở Mexicô. Thật ra, các cơ phận của máy truyền hình đều được sản xuất ở Á châu (thí dụ: hãng Dell mỗi năm sản xuất trị giá số lượng cơ phận máy ở Trung Quốc là 25 tỷ đô-la.) Một năm trước khi Sony đóng cửa, giáo sư kinh tế Alan Blinder (đại học Princeton, và từng là cố vấn kinh tế dưới chính quyền Clinton) phát biểu với các nhà lập pháp trong một buổi điều trần ở hai viện rằng, “Máy truyền hình đã trở thành hàng hóa tiện nghi, cho nên sự mất mát về công việc chế tạo là dấu hiệu của sự thành công kinh tế, điều đó sẽ chứng tỏ Mỹ sẽ chuyển dịch sản xuất qua những mặt hàng có giá trị cao hơn.” Ông tiếp, “Nếu chúng ta muốn đứng hàng đầu trong số những nước xuất khẩu lớn nhất trong sự tiến triển của thế giới, chúng ta cần phải chuyên hóa về những kỹ nghệ đang lên, thay vì theo đuổi những kỹ nghệ trong buổi chiều tà.”  Thế , Andy Grove, người đồng sáng lập công ty Intel, trong bài viết cùng tháng đăng trên Bloomberg cho rằng Blinder nhận định sai. Grove cho rằng sự đánh mất khu vực chế tạo máy truyền hình chẳng phải là sự thành công, “nó không những đã đánh mất một số lượng lớn công ăn việc làm chưa biết là bao nhiêu, mà còn phá vỡ luôn dây chuyền kinh nghiệm vốn rất quan trọng trong sự tiến hóa của kỹ thuật.”

Trung Quốc không phải chỉ chế tạo máy truyền hình và các cơ phận điện tử , họ còn thiết kế một chính sách chế tạo nội địa –có nghĩa là các công ty Trung Quốc làm chủ phải đi đôi với kỹ thuật do chính người Trung Quốc sáng chế. Chính sách này được Bộ trưởng thương mại Gary Locke (người gốc Tàu) tường trình rõ hơn trước Quốc Hội Mỹ, “khuyến khích, đồng thời với áp lực chuyển dịch các dịch vụ nghiên cứu & phát triển & vận hành kỹ thuật Mỹ sang đất Trung Quốc –bằng đánh đổi với thị trường của người dân Trung Quốc. Chính sách này chứng tỏ sự thành công, thí dụ như chương trình chế tạo các máy điện toán chạy cực nhanh –trong tương lai sẽ dùng các con ‘chip’ điện tử của riêng Trung Quốc tự chế tạo.” (7)

Kinh tế bất hợp pháp ‘ngoại biên’: một “chính phủ vô hình” về tài chánh thế giới?

Trong lúc thế giới được tràn ngập tự do hóa mậu dịch trong những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 90, một hệ thống giao thương trải rộng quanh trái đất, được gọi là toàn-cầu-hóa, các con buôn trên toàn cầu gia tăng số lượng, bắt đầu đi xa hơn ngoài biên giới quốc gia để tìm kiếm những cơ hội mới mua và bán hàng hóa chính danh và hàng lậu. Những kẻ tiền phong của nhóm người này, thường xuất phát từ những cộng đồng thiểu số, nơi họ có truyền thống hàng thế kỷ giỏi xoay xở về mua bán để tồn sinh, từ những biên cương xa xôi như: người Libăng, người Tàu ở những tỉnh lỵ Thượng Hải và Canton, dân ở các vùng Bá-nhĩ-cán (Balkan), dân Do Thái, , dân Hồi giáo Ấn Độ, dân đảo Sicilian và người Việt Nam. Mậu dịch trong thế giới ngầm xuất phát tư những người dân này, bành trướng mỗi ngày mỗi mạnh lên.   (8

Nếu những anh chàng Việt Nam tha phương cầu thực và hoạt động trong lãnh vực thương mại “đen” xuất phát từ chế độ Bắc cộng, chỉ là những anh ‘tép riu’, thì dân Tàu là những anh chàng “khổng lồ” thường làm đầu nậu, và đất Trung Quốc là một căn cứ địa. Từ đó, những tổ chức tội phạm quốc tế quy mô và khoa học được lan rộng và tạo được những món tài sản kếch sù.  Nó mạnh và quan trọng tới nỗi, cựu Tổng thống Slobodan Milosevic phải “cấy” những thành phần “chúa đảng” được gọi là “đầu rắn” (snakeheads) từ Trung Quốc được nhập cảnh tự do đến thủ đô Serbe, sau khi cựu-Nam-Tư bị đòn cấm vận vào năm 1993. Thủ đô Serbe phát triển thành một phố Tàu mạnh và nhanh chóng. Bằng cách xuất cảng lao động, những thành viên “đầu rắn” tạo nên một ảnh hưởng của Trung Quốc rộng lớn trên khắp thế giới và tạo một cung ứng to tát về kinh tế qua sự giảm thiểu nạn thất nghiệp trên nội địa.  (9)

Song, với đà lớn mạnh của hệ thống thương mại và tài chánh ngầm, trong cộng đồng người Trung vẫn có những xung đột. Thí dụ: dân Tàu gốc Phúc Kiến chế ngự những cộng đồng người Hoa ở các vùng Nam Á và, thường giúp sức xây dựng những khu phố Hoa như Budapest, São Pualo (Nam Mỹ) hay ở Anh quốc, họ lại bị những sự chống đối bởi người Hoa Quảng Đông đến từ Hồng Kông –những người có chung huyết thống từ thế kỷ 19. Không thể hội nhập vào cộng đồng người Hoa Quảng Đông, người Phúc Kiến dễ trở thành những con mồi cho những chủ hãng vô lương tâm trong các quốc gia đó –những tên “đầu nậu”.

Trở về nội địa Thượng Hải, nơi mà di sản của Mao Trạch Đông vẫn còn ảnh hưởng nặng nề; nhưng kể từ lúc nền kinh tế quốc dân được tự-do-hóa, thì có hàng triệu di dân lao động từ nông thôn đến Thượng Hải để xây dựng những công trình nhà chọc trời siêu-hiện-đại, để rồi sau đó họ trở thành đoàn quân buôn bán và phân phối ma túy từ các vùng biên giới Trung-Miến, từ các vùng viễn tây của tỉnh Tân Cương, vùng biên giới Kyrgyztan chuyển hàng từ Afghanistan –không chỉ đáp ứng cho nhu cầu nội địa mà bung ra khắp mọi nơi trên thế giới. Ma túy còn có họ hàng với kỹ nghệ làm thuốc lá giả. Ở vùng nam Phúc Kiến gọi là vùng núi Đại Sơn (Da Shan) là cứ địa của những xưởng chế tạo thuốc lá giả lớn nhất và tạo sinh lợi lớn nhất của thế giới. Những xưởng chế tạo thuốc giả này được xây dựng nằm sâu trong núi, sản xuất hàng triệu triệu điếu thuốc lá mỗi ngày. Sau đó, thuốc lá được phân phối vào thị trường ‘khủng’ nội địa và phân phối đi khắp Á châu, Hoa Kỳ, và một số vùng quốc gia khác. Dĩ nhiên là các công ty độc quyền và cơ quan kiểm soát sản xuất thuốc lá của nhà nước (TMAD: Tobacco Monopoly Administration Department, và CSTM: China State Tobacco Monopoly ) dù có muốn ngăn chận, cũng không thể làm gì được.

Tuy vậy, không phải chỉ có ở Trung Quốc; Bắc Hàn là nơi tiếp nối con đường sản xuất thuốc lá lậu. Kể từ các năm của thập niên 1990, Bắc Hàn là trung tâm sản xuất thuốc lá lậu, hàng giả, phát hành tiền lậu 100dollar-bill Mỹ, chế tạo dược chất kích thích Methamphetamines (nhu cầu ở Nhật Bản khá lớn). Dịch vụ chế tạo dược chất kích thích đó còn có sự hợp tác ngầm với các “đầu sỏ chính trị” Nga nữa. Gần đây, Bắc Hàn đã nhận ra sản xuất hàng hóa giả tạo nên một lợi nhuận quá lớn, cho nên giống như Trung Quốc, họ tham gia vào sản xuất bất cứ loại loại hàng hóa nào. Đã thế, giá thành chế tạo hàng hóa của Bắc Hàn còn rẻ mạt hơn cả từ Trung Quốc; cho nên Trung Quốc đã di chuyển một số công ty “ngoại biên” đến Bắc Hàn. Trong một tương lai nào đó, giới tiêu thụ trên thế giới có thể nghe được tiếng đồn, hàng hóa “Made in China” nhưng do lao động Bắc Hàn làm ra. Quả là chuyện ngược đời, chính nhờ vào sự ràng buộc kinh tế với Trung Quốc, Bắc Hàn càng dễ bị khống chế và nghe lời hơn là những lời giận dữ và đe dọa của Mỹ.

Nhờ vào sự bận rộn trong chính sách “chống khủng bố Hồi Giáo” từ chính quyền Bush Jr., mọi hàng hóa sản xuất lậu từ Bắc Hàn đều có mã số ngân hàng (‘swift code’) và hoàn toàn không có trở ngại nào để đến các cửa khẩu hàng hải lớn như Los Angeles và New York. Sau biến cố 9/11, chính quyền Hoa Thịnh Đốn bắt đầu quan tâm tới việc kiểm soát an ninh các cửa khẩu. Nhưng, 90 phần trăm lưu lượng hàng hóa thương mại thế giới đều được vận chuyển với những ‘container’ bằng đường biển. Trong năm 2001, Cục Hải Quan Mỹ kiểm tra >214,400 tàu hàng với 5 triệu 7 trăm ngàn ‘container’. Có 4 hải khẩu lớn nhất trên thế giới để đến Mỹ là : 1- Hồng Kông; 2- Thượng Hải; 3- Singapore và Kaohsiung ở Đài Loan. Với một ‘khổng lượng’ hàng hóa đó, Mỹ bược lòng phải áp dụng một luật mới về ‘An ninh Container’ đường biển (gọi là CSI: the Container Security Initiative) . Theo quy định, Giám đốc Hải quan Robert C. Bonner bắt đầu gởi các nhân viên hải quan đến các cửa khẩu có hợp đồng với Mỹ để kiểm soát container hàng trước khi đổ lên tàu, đa số đều bị các cửa khẩu từ chối; hơn thế nữa, họ còn sẵn sàng tìm tới các đối tác vận chuyển cạnh tranh với Mỹ. Cuối cùng, các container sau khi được kiểm tra từ Thượng Hải hay Kaohsiung đều được bật ‘đèn xanh’ để trót lọt đi về Mỹ. Một trở ngại đáng nói khác là đa số các nhân viên hải quan Mỹ đều không nói được tiếng Hoa.

Khi được Misha Glenny hỏi, liệu truyền thống tham ô và lừa đảo có từ lâu đời trong sinh hoạt chính trị và kinh tế của Trung Quốc có nguy cơ ảnh hưởng tới sự nhũng lạm trong hệ thống mậu dịch quốc tế này không? Ông Mộ Bằng Phúc (Mo BangFu) trả lời như cáu giận, “Hai trăm năm trước, dân Anh quốc đã đến Thượng Hải; họ chẳng phải là những người “Anh quý phái”! Họ là những người đi ăn cướp! Giống như những tên hải tặc Anh đến trấn lột các bờ biển của chúng tôi, thì hôm nay cũng có thể có những bọn cướp biển trong đội ngũ những nhà mậu dịch người Hoa. Nhưng, khi thị trường đạt đến một mức nào đó rồi, thì những hành vi sai trái sẽ biến mất, khi nhu cầu luật lệ và một hệ thống điều hành luật lệ cân đối sẽ mở ra.”

Misha Glenny nhận định: Nếu những giả thiết mà Mộ Bằng Phúc đưa ra là đúng, thì các chính quyền quanh thế giới có thể nẩy mầm phát triển một nền kinh tế “đen” toàn cầu ở mức độ cường thịnh của sự bất ổn thấm vào trong đời sống của chúng ta. Song, nếu chúng ta thất bại trong việc tạo dựng một cơ chế điều hành luật lệ cân đối –thì tội phạm có tổ chức và sự tham ô sẽ hợp lực với chủ nghĩa bảo tồn (Protectionism) và chủ nghĩa dân tộc triệt để đang tạo nguy cơ trong thế giới cực kỳ nguy biến và bất ổn. (10)

Tài chánh của tội phạm có tổ chức ở mức cực lớn được sự hỗ trợ của thị trường tài chánh thế giới nhờ vào chính sách tự-do-hóa đã tồn hợp trong hai thập niên qua. Trong năm 2007, tổng sản lượng (GDP) của tội phạm chừng 50 ngàn tỷ Mỹ kim (50 trillion dollars). Phần lớn các số tiền này nằm trong các ngân hàng quốc tế lớn, các công ty đầu tư ngắn, dài hạn -nội địa và quốc tế như: Hedge Funds, Derivative Securities v.v.. Theo công ty tư vấn McKinsey, thì vốn tài chánh hiện tại (năm 2009) của thế giới chỉ gấp 3 lần con số đó. (11)

Mish Glenny bi quan kết luận: Kể từ khi vào thiên niên kỷ mới, với một nước Mỹ đầy thù địch, một Liên hiệp Âu Châu kém cỏi, một nước Nga yếm thế, và một Nhật Bản ba phải cọng lại để chọi lại với một Trung Quốc đầy tham vọng không dừng bước và với một Ấn Độ, báo hiệu một mùa xuân cường thịnh cho cả hai –một công ty toàn cầu và một tội phạm có tổ chức liên-quốc-gia.

Hiện nay, chưa ai có thể tiên liệu chính xác chính sách quốc phòng và ngoại giao của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đi tới những bước ngoặc nào, vì qua hình thức bên ngoài, có vẻ như giữa Trung Quốc và Việt Nam có những tranh chấp bất khả hồi về biển đảo; nhưng về kinh tế vẫn đang lệ thuộc cơ cấu vào Trung Quốc. Misha Glenny mô tả: Trung Quốc vừa là một nhà sản xuất, vừa là một thị trường, kinh tế Trung Quốc chảy tràn vào những lân bang chuyển tiếp là Việt Nam và Philípin, kể luôn cả một quốc gia đã ổn định là Thái Lan.

Nếu, Việt Nam dựa vào Mỹ để đối đầu với Trung Quốc, thì một kịch bản có tương lai sẽ hé mở, nhưng với điều kiện cơ chế chính trị không thể để nguyên trạng. Nếu, Việt Nam chịu chung ‘số phận ngược đời’ như Bắc Hàn vì sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, thì một kịch bản bất thường có thể xảy ra. Trong tình huống đó, những chi phí quốc phòng mũi nhọn của Việt Nam sẽ hỗ trợ thêm một thuận lợi nhỏ cho hải lực Trung Quốc đẩy Hoa Kỳ trở về bên kia “chuỗi đảo thứ nhì” (Second Island Chain) của Thái Bình Dương. Nếu vậy, thì cường độ mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ trở thành gay gắt và đột biến. Đứng ở khía cạnh phân tích chính trị quốc tế, chúng ta không thể không nghĩ tới -trong một hoàn cảnh xung đột quốc tế nào đó, Trung Quốc sẽ sử dụng luồng thương mại "vô hình" này như một vũ khí ngầm để chống lại các siêu cường đe dọa họ.

Còn tiếp…

Nguyễn Văn Hóa

Sunday, October 09, 2011

 

Chú thích:

( 1) Điện toán và vấn đề Đối ngoại | Nguyễn Văn Hóa

http://www.giaodiem.us/us-2006/12-06/1206-nvh-dt-diplomacy.pdf

 ( 2,3,4) Interview with PLAAF Lieutenant General  Liu Yazhou 

http://www.worldaffairsboard.com/field-mess/8549-interview-plaaf-lgen-liu-yazhou.html

( 5,6,7 ) Five reasons why China will rule tech  | By Patrick Thibodeau

http://www.computerworld.com/s/article/9179008/Five_reasons_why_China_will_rule_tech

( 8 ) McMafia -A Journey Through the Global Criminal Underworld | by Misha Glenny

Nhà Xb. Random House, New York 2009, trang 177

( 9, 10,11 ) sách dẫn nt., các trang 322; (10) –các trang từ 338-341

Tài liệu đọc thêm:

 

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA