ß Trờ về

đăng ngày: 18.10.2011

(có bổ sung: 19/10/11)

Thằng bờm” Trung Quốc và “triết lý quạt mo” thời đại -phần II

٠ Tinh thần “diều hâu Bắc Mỹ” đối nghịch với “văn hóa Rồng” phương Đông

 

Nguyễn Văn Hóa

Trong lúc chúng tôi khởi sự viết tiếp phần này, đúng vào lúc đọc được bài tham luận của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton. (12) Xuyên suốt bài viết, chúng tôi nhận thấy chẳng có điều gì mới lạ hơn những bài tham luận của các học giả, nhà nghiên cứu, các vị chỉ huy quân sự của Mỹ, Úc trước đây; dù sao thì đây là một diễn văn thính thức về đường lối ngoại giao của Mỹ trong sáu thập niên sắp tới. Vì lẽ đó, chỉ xin ghi lại những nét chính mà chúng tôi ghi nhận là nổi bật nhất:

-Điểm một: Xác định vai trò ‘can dự’ của Mỹ trong các thập niên sắp tới đối với vùng Á châu-Thài Bình dương, bà Clinton viết:

“Với phẩm chất địa dư thuần nhất của chúng tôi, Hoa Kỳ là cường quốc của Đại Tây dương và Thái Bình dương. Chúng tôi tự hào về những di sản Âu châu và tất cả những gì mà chúng tôi cam kết. Thách đố hiện tại của chúng tôi là xây dựng mạng lưới chia xẻ và cơ chế xuyên qua Thái Bình dương cứng cáp và cân đối với những giá trị và lợi ích mà chúng tôi đã từng xây đắp ở vùng Đại Tây dương. Đấy là tiêu chuẩn về những nổ lực của chúng tôi trong những khu vực này.”

-Điểm hai: Con bài ‘nhân quyền’ -Sau khi đã xác nhận sự trở lại ‘một cách tích cực’ ở vùng Á châu- Thái Bình dương, ‘nhược điểm cố hữu’ của Trung Quốc là vấn đề nhân quyền và ‘coi thường luật pháp quốc tế’, được bà Clinton nhắc lại và nhấn mạnh:

“Dĩ nhiên, chúng tôi đã nêu rõ, công khai và kín đáo, chúng tôi cực kỳ quan tâm về nhân quyền. Và khi mà chúng tôi đọc được những báo cáo về những luật sư, nhà báo, nghệ sĩ vì lợi ích công chúng ở Trung Quốc đã bị tù tội hay bị mất tích, Hoa Kỳ phải lên tiếng, vừa công khai vừa kín đáo, với sự quan tâm của chúng tôi về nhân quyền. Chúng tôi phải làm cho người bạn Trung Hoa thật sự biết tôn trọng luật pháp quốc tế và họ cần phải có hệ thống chính trị cởi mở hơn, làm nền tảng cho sự tăng cường phát triển và ổn định –và làm gia tăng sự tin cậy của các đối tác với Trung Quốc. Không có nó, Trung Quốc đang tự đặt mình vào những giới hạn không cần thiết cho chính sự phát triển của họ..”

-Điểm ba: Công khai hóa vai trò của hai đồng minh “tiếp cận xa” của Mỹ là Ấn Độ và Nam Dương, dù ỡm ờ nhưng bộc lộ mục tiêu của Mỹ là sẽ sử dụng hai quốc gia này làm gọng kềm với khả năng làm đứt khúc chiến lược biển “Chuỗi Ngọc Trai” (String of Pearls) của Trung Quốc. Ý đồ này đã được chứng minh qua chính sách “Nhìn về phía Đông” (Look East) của Ấn Độ, với các hiệp ước quốc phòng, khai thác dầu lửa giữa Ấn Độ và Việt Nam; Việt Nam chấp nhận cho Ấn Độ sử dụng căn cứ hải quân ở Nha Trang. Vai trò Ấn Độ và Nam Dương trong thập niên tới, được Clinton xiển dương như sau:

“Giữa những cường quốc mấu chốt đang trỗi dậy, chúng tôi sẽ thắt chặt với Ấn Độ và Nam Dương, là hai cường quốc dân chủ năng động và trọng yếu nhất của châu Á, hai quốc qia mà chính phủ Obama đã mưu tìm những mối quan hệ rộng, sâu, và đầy ý nghĩa. Sự kéo dài từ vùng biển Ấn Độ dương xuyên qua eo Malacca tới Thái Bình dương bao gồm nhiều tuyến hải trình sinh động và mậu dịch sôi nổi nhất của thế giới. Cộng chung lại, Ấn Độ và Nam Dương là hai quốc gia có dân số gần một phần tư thế giới. Họ là những người lèo lái chính của kinh tế toàn cầu –những người cộng tác quan trọng của Hoa Kỳ, và họ là những trung tâm cùng chia xẻ sự tăng cường hòa bình và an ninh của khu vực. Sự quan trọng của họ sẽ trỗi dậy trong những năm sắp tới..”

-Điểm bốn: Ngoại trưởng Clinton xác định hai chu kỳ “ngự trị, ra đi và trở lại” –mỗi chu kỳ đúng 60 năm. Chu kỳ 60 năm trước, có lẽ bà Clinton ngầm nói bắt đầu từ thời điểm sau khi Mỹ đánh bại đế quốc Nhật bằng hai trái bom nguyên tử (1945). Thật ra chu kỳ này chỉ có 30 năm đầu thôi, vì sau khi bị đảng Cộng sản Bắc Việt ‘đá’ cho “Ngụy nhào, Mỹ cút” năm 1975, thì 30 năm sau đó, Mỹ ‘cút’ và chuyển hướng chính sách can thiệp vào Trung Đông…để 2011 trở lại, bắt đầu một chu kỳ 60 năm mới –với nhiều thách thức và trong hoàn cảnh không mấy thuận lợi, song lại hết sức trọng đại, vì như lời mở của bài tham luận –đây là ‘kỷ nguyên Thái Bình dương của Mỹ”, và vì “Tương lai chính trị sẽ được quyết định ở Á châu, không phải ở Afghanistan hay Iraq, mà Mỹ sẽ đứng ngay ở trung tâm hành động.” Như để trấn an sự tin cậy của các quốc gia Đông Nam Á, bà Clinton vẽ ra mấy giải pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế-chính trị nội bộ song song với chính sách can dự vào Thái Bình dương:

“Trong lúc chúng tôi tiến tới tạo dựng khung cảnh can dự vùng Á châu-Thái Bình dương trong 60 năm sắp tới, chúng tôi tràn đầy minh mẫn trong sự kế thừa tinh thần lưỡng đảng đã thiết kế sự can dự của chúng tôi trong 60 năm qua. Và chúng tôi sẽ tập trung vào những bước đi về nội chính mà chúng tôi phải làm –gia tăng tiết kiệm, cải cách hệ thống tài chánh của chúng tôi, giảm thiểu sự lệ thuộc vào vay mượn (nước ngoài!), vượt qua sự chia rẻ đảng phái –nhằm bảo đảm và ứng đối với sự lãnh đạo đối ngoại của chúng tôi.”

Đây không phải là lời phát ngôn mới mẻ, trước đó Bộ Ngoại giao Mỹ đã liên tiếp tung ra một loạt phát ngôn đầy khiêu khích. Ngoại trưởng Hillary Clinton từng tuyên bố trước diễn dàn ASEAN ở Nam Dương vào đầu tháng 7/2011 như để trực tiếp thách thức với Trung Quốc rằng: “Mỹ cũng là một quốc gia thuộc Thái Bình Dương và là một cường quốc vùng”, cho nên sự kiện “sử dụng đường hàng hải tự do Á châu là một quyền lợi quốc gia.” Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) phản pháo, cho đó là lời tuyên bố “thực sự tấn công vào Trung Quốc.”

Giữa tháng 7/2011, để hỗ trợ cho lời tuyên bố của bà Clinton –đồng thời làm cho Trung Quốc hiểu sự thống nhất giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ trong đường lối đối ngoại, thượng nghị sĩ John McCain và John Kerry gởi thư cho Đới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) –một viên chức ngoại giao cao cấp của Trung Quốc, cảnh báo rằng thái độ của Bắc Kinh có thể làm “nguy hại đến lợi ích sống còn quốc gia của Hoa Kỳ.”

Trong khi đó, tờ Daily Times (nhật báo do nhà nước Trung Quốc điều hành) bắn tiếng Nam Trung Hải sẽ là một “Vịnh Ba Tư thứ hai.” Nói khác, Trung Quốc sẽ là chủ nhân của kho tàng dầu lửa và khí đốt một khi sự khai thác và xây dựng mỏ dầu trên vùng biển “lưỡi bò” trở thành hiện thực.

“Vịnh Ba Tư thứ hai” (the Second Persian Gulf) còn mang một viễn cảnh đầy gây hấn qua sự kiện “Ngũ Giác Đài gia tăng sự hiện diện trong vùng cùng với sự tăng cường khả năng quân sự hải/không quân, kể cả căn cứ Guam –bến đậu cho hàng không mẫu hạm, căn cứ cho các máy bay tàng hình, máy bay đánh bom đường dài B-2, B-52, chuyển vận 8 ngàn 6 trăm lính thuỷ quân lục chiến lên đảo..”; tuy nhiên, hãnh thông tấn UPI thì cho sự kiện đó “còn là một dấu hỏi, vì ngân sách quốc phòng của Obama đã bị cắt giảm đáng kể.” (13)

Sự ví von qua ngôn ngữ ngoại giao của bà Clinton dễ làm cho người đọc liên tưởng đến hình ảnh của một chiếc tàu ngầm nguyên tử ‘thần kỳ’ –lặn một hơi trên ba thập niên, để rồi trồi lên mặt nước bắt đầu tung hoành cho một chu kỳ dài hơi mới, trong bối cảnh đầy thách thức về địa-chính-trị của vùng Thái Bình dương. Thực ra, Mỹ chỉ “cút” ở Việt Nam thôi, chứ thực sự không ‘lặn’ sâu, vì lẽ từ đó đến những năm cuối thế kỷ 20 và mười năm đầu thế kỷ 21, các căn cứ quân sự của Mỹ vẫn có mặt ở hòn đảo Diego Garcia (Ấn Độ dương), căn cứ hải quân ở Subic Bay chuyển về Changi (ở Singapore), các căn cứ ở Nam Hàn thì có vẻ như là muôn thuở, Nhật Bản vẫn còn lại bốn căn cứ quân sự, riêng các hòn đảo Guam và Marianas sẽ là trung tâm chỉ huy và hành quân vùng Thái Bình dương (USPACOM) của Hoa Kỳ. Tuy vậy, duy trì sự hiện diện các căn cứ quân sự của Mỹ ở các vùng Á châu-Thái Bình dương cũng phải trả cái giá của nó. Theo Gwyn Kirk, tình trạng bạo hành phụ nữ địa phương của binh lính Mỹ xuất hiện và liên tục tái diễn : bạo hành hiếp dâm phụ nữ ở Nam Hàn (năm 1992), Philípin (2005); ở căn cứ Okinawa (Nhật) trong 62 năm qua, có đến hơn 400 vụ lính Mỹ tấn công, bắt cóc, hãm hiếp tập thể, giết hại phụ nữ địa phương. (14) Tệ trạng này xuất phát từ tâm lý về phẩm chất, hạnh kiểm qua mục tiêu của một người lính Mỹ ‘chuyên nghiệp’ được đào tạo và huấn luyện. Cho nên, càng gia tăng các căn cứ quân sự Mỹ, càng đưa tới các hậu quả đối nghịch với các cộng đồng địa phương ở tầm mức xã hội, kinh tế, chính trị và môi trường sống. Cố Tổng thống Ngô đình Diệm từng là một người thức thời và nhận thức được hậu quả này khi chống đối sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong những năm đầu thập niên 60.

Sự tranh chấp về địa-chính-trị ở đây, sẽ không còn dựa vào yếu tố địa dư cổ điển nữa, mà sẽ căn cứ vào “lợi ích sinh tử” giữa các siêu cường và khả năng quân sự để bảo vệ lợi ích đó. Trước đây, Kaplan nói rằng, “Nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi, ảnh hưởng của Trung Quốc đang bành trướng cả đất lẫn biển, từ Trung Á đến Nam Trung Hải (South China Sea), và từ Nga Viễn Đông cho tới Ấn Độ Dương,” thì bây giờ bà Clinton tái định nghĩa –vị trí địa dư của vùng Thái Bình dương kéo dài từ Ấn Độ dương, xuyên qua eo Malacca đến bờ biển phía tây của Mỹ; điều đó có nghĩa cán cân ‘chủ tể’ vùng Thái Bình dương sẽ nghiêng nặng về phía Mỹ.

Ngược với tính chất quyền lực chính thống của một lời tuyên bố, chuyên gia Kaplan đem lý thuyết Sir Halford Mackinder của đầu thế kỷ 20, chứng minh : Vùng đất Âu-Á (Eurasian) sẽ là trung tâm của quyền lực thế giới. Nhà địa dư mang dòng máu Anglo-Saxon này, trong phần kết luận của “Điểm chốt địa lý của Lịch sử” ( The Geographical Pivot of History ) giải thích: Người Tàu sẽ bành trướng sức mạnh của họ vượt ra ngoài biên cương của mình để “tạo nên một họa da vàng cho sự tự do của thế giới, bởi lẽ họ sẽ được hưởng lợi từ thềm đại dương trước mặt nhà với những tài nguyên thiên nhiên của một đại lục, đúng ra là một thuận lợi mà Nga sô đã tự chối từ làm người thủ đắc khu vực mấu chốt đó.” Vì lẽ đó, Mackinder tiên tri Trung Quốc sẽ dẫn đạo thế giới để “xây dựng một phần tư nhân loại bằng một nền văn minh mới, không hoàn toàn Đông phương, chẳng hoàn toàn Tây phương.” (15)

Nhưng, thế nào là một nền “văn minh mới –không hoàn toàn Đông, chẳng hoàn toàn Tây”? Có phải đó là một nền văn minh ‘trung dung’, chắt lọc giữa cái quá độ và cái bất cập, giữa điều thiện và điều ác, giữa cái tôn sùng vật chất thái quá và cái nô lệ tinh thần u mê .v.v..? Nếu vậy, tinh thần ‘trung dung’ này mang yếu tính của tôn giáo, mà tôn giáo là một bộ phận trong đời sống văn hóa Trung Hoa. Hiểu một cách thuần khiết, ‘trung dung’ là một nghệ thuật hòa điệu. Yếu tính tôn giáo của người Trung Hoa được Norman Jacobs giải thích: “Tôn giáo của người Trung Quốc là tôn giáo xã hội, tìm giải quyết vấn đề ơn ích xã hội, không phải là ơn ích cho cá nhân. Ơn ích xã hội là điều chỉnh con người vào trong một trật tự tự nhiên cốt yếu. Vấn nạn của con người chính là vấn nạn sống ‘hòa điệu’ với một trật tự xã hội hiện hữu; mà giải pháp chỉ có thể tìm thấy bằng sự tương tác giữa người và trật tự xã hội. Tôn giáo là một lực lượng chính yếu điều chỉnh và kiểm soát xã hội bị đánh mất nhân cách –thay vì làm một trung gian cho giải pháp riêng lẻ của một cá nhân –và điều chỉnh, kiểm soát xã hội chỉ có hiệu quả xuyên qua giáo dục và sự tôn kính ‘người quân tử’ (‘người quân tử’ được chuyển hòa thành ‘người lãnh đạo’ –chính là ‘đảng’ dưới chế độ cọng sản). Ơn ích tôn giáo cá nhân, riêng lẻ làm hạ thấp tôn giáo xuống mặt bằng của một tín-ngưỡng-dân-gian (folk-religion), chỉ là một lỗ thoát của một nền móng xã hội cứng ngắc bị tôn giáo thống trị.” (16)

Tôn giáo không phải là một biểu hiện thờ phượng, sùng bái thần linh. Trong Khổng giáo truyền thống, “lý tưởng cơ bản là sống trong hòa điệu (ho) với trật tự hiện tại. Người quân tử (chün tzu) phải biết xác định trật tự và tuân thủ những luật lệ của nó để tạo nên một sự hòa điệu. Sống bằng sáng tạo sự hòa điệu là một vấn đề thực tiễn. “Khái niệm ‘quân bình’ là sự điều chỉnh sao cho cân bằng, trung đạo –với lý thuyết nổi bật là trung dung.” (‘mean’/ chung-yung) Norman Jacobs nhận xét tinh thần tôn giáo Trung Hoa là như thế. (17)

Chính vì vậy, Tôn giáo đã được tri-thức-hóa cực độ ở Trung Quốc: vấn đề của đời sau không bao giờ được bàn đến, và cái chết hiện tại được coi như là một phần trật tự hợp lý của hoàn vũ. Khi được đệ tử vấn về ‘cõi chết’, Khổng Tử trả lời : “Khi một người không biết đời sống hiện tại, làm sao biết cõi chết về sau!” (18)

Chính vì vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên vì sao chủ nghĩa Cộng sản của phương Tây sau khi đã được Mao-ít-hóa, thì sự thống trị của đảng Cộng sản Đông phương rất khó thay đổi. Mao-ít-hóa là một tiến trình tự điều chỉnh để củng cố nguyên trạng tinh thần Nho giáo trong một cái vỏ mới.

Đối với người Cộng sản, lợi ích và thành công của sự thay đổi xã hội chỉ có thể hoàn thành qua thành phần ưu tú (‘élite’) –mà đảng Cộng sản là ‘kẻ’ duy nhất có học thuyết đúng và thành công. Chỉ có đảng mới có thể quyết định khi nào như thế nào để một phong trào thay đổi xã hội được thông qua. Và, chỉ có đảng thôi mới có thể chính-thức-hóa một phong trào xã hội cụ thể và đảm bảo sự thành công của nó. ‘Thành công’ tương đồng với ‘sự đúng đắn’. (19)

Nói tóm lại, tinh thần ‘quốc gia’ –cũng như đảng Cộng sản Trung Quốc đều mang tính nhuần nhuyễn Nho giáo; cả hai không hề phủ nhận nội dung của văn hóa truyền thống, mà chỉ hoán vị vai trò thành phần ‘cầm cân nẩy mực’ quốc gia –nhất là đảng Cộng sản, xác định vai trò của ‘người quân tử’ trong xã hội bằng vai trò của một đảng viên –mang phẩm chất ‘đúng đắn’ và ‘đạo lý’. (20)

Norman Jacobs cho rằng, mặc dù có một sự đồng điệu giữa chủ nghĩa tư bản và cộng sản ở Trung Quốc, nhưng tinh thần ‘dân tộc cực đoan’ của đảng phái quốc gia mạnh hơn. Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen) tin rằng: “Khả thể trở thành của chủ nghĩa quốc gia phải xuyên qua học thuyết ý-thức-chủng-tộc (race-consciousness) và sự thống nhất dân chúng Trung Quốc.” (21)

“Ở Trung Quốc, vai trò của quân sự lệ thuộc vào những yếu tố đức lý. Chỉ có quân lực chẳng bao giờ có thể tạo được một trật tự xã hội vĩnh viễn, chỉ có sức mạnh không thể tạo nên một nền tảng hợp nhất; chỉ có nhân đức mới thật sự là thành công trong cai trị.” “Nhân đức” (‘benevolent’) hay còn gọi là ‘điều phải’ (‘correct’). ( 22) Do đó, sự tăng cường khả năng quân sự của Trung Quốc không nhằm vào mục tiêu thống trị thế giới, mong cầu một sự lãnh đạo thế giới, mà trước hết là để phòng thủ, lo liệu trước một tình huống sẽ bị đánh bại.

Nhìn về phía Mỹ, sự phát triển khả năng quân sự vượt bực, bao hàm mục tiêu thống trị thế giới rõ, và mạnh mẽ hơn. Theo Victor N. Corpus (trung tướng về hưu) mô tả nội dung của các tài liệu sau đây là để vạch ra con đường độc thủ siêu cường của Mỹ : -Chiến lược An ninh Quốc gia của Hoa Kỳ viết ra từ tháng 9/2001; -Thông điệp của Tổng thống George W. Bush trong buổi lễ mãn khóa tại trường West Point tháng 6/2002; -Tái dựng Quốc phòng Mỹ: Chiến lược, Lực lượng và Tài nguyên của Thế kỷ Mới (New Century –dự án PNAC tháng 9/2000); Chỉ đạo về Kế hoạch Quốc phòng do thứ trưởng quốc phòng Paul Wolfowitz soạn thảo vào tháng 2/1992…

Với một người lãnh đạo thế giới duy nhất, Mỹ sẽ dùng bộ máy chiến tranh ưu việt của mình để tấn công bất cứ quốc gia nào mà họ cảm thấy bị đe dọa, thay đổi bất cứ chế độ chính trị nào trên thế giới nếu cần, hốt hết bất cứ tài nguyên khoáng sản bất cứ ở đâu trên địa cầu, kiểm soát các nền kinh tế địa phương với vai trò chủ đạo của Mỹ qua các công ty liên-quốc-gia. Và, nếu thấy cần có thể hủy diệt bất cứ nền kinh tế đối thủ nào có nguy cơ cạnh tranh bằng một cuộc chiến tranh đánh phủ đầu, đánh bại tiềm năng quân sự của họ trong lúc họ còn yếu so với Mỹ.

Mỹ có khả năng làm các điều trên như hình ảnh của một “Chúa tể trái đất”, nhưng kết quả có chắc chắn mang lại thắng lợi như mong muốn hay không, là chuyện khác. Bằng chứng là hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq còn kéo dài từ 10 năm qua đến hôm nay…

Trong bối cảnh trở lại Thái Bình dương, Mỹ đang đứng trước sự lựa chọn giữa ngã tư đường, hoặc tiến tới làm một độc thủ siêu cường, theo các nội dung chính sách đã có sẵn, để nhận lãnh sự thù ghét, sợ hãi của nhân loại, hay đi theo kiến nghị của Victor Corpus –Mỹ hãy chọn lựa con đường khác (ngoài chiến tranh) để lãnh đạo thế giới –dùng sức mạnh, sự giàu có và ảnh hưởng của mình –một cách chân thành mang lại sự tốt lành cho mọi người trên hành tinh này. Hãy đi đầu trong việc giảm bớt, hoặc xóa bỏ những gánh nặng nợ nần cho các quốc gia nghèo khó, đề xuất và khuếch trương nền giáo dục có chất lượng bằng các hệ thống giáo dục ‘từ xa’ (internet v.v…) đến các làng xóm của các quốc gia đang phát triển. Tập trung mọi nổ lực chống sự đói nghèo, chống ma túy, nổ lực cứu giúp tình trạng hủy hoại môi trường trên trái đất. Hãy dẫn đầu các chiến dịch chống lại bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS, sốt rét và những bệnh hiểm nghèo khác. Cả thế giới đang trông chờ Mỹ lãnh đạo các cuộc chiến quan trọng này. ( 23 )

Có thể điều đó chỉ là một ‘ảo tưởng bồ tát’ đối với Mỹ; song, đó là một hiện thực với khả năng làm cho tính chất đối nghịch giữa con hiều dâu Bắc Mỹ và con Rồng phương Đông giảm nhẹ đi, vì sự can dự tích cực của Mỹ ở Thái Bình dương trong các thập niên tới, là một thái độ thách thức chận đứng sức sống, sự lớn mạnh –niềm kiêu hãnh của Trung Quốc ở Á châu.

 

                           

          Source: RAND | Biểu đồ so sánh về ngân sách dành cho quốc phòng giữa Tàu (2003-2025) và Mỹ (1981-2003)

Nếu bạn có thể tin được giá trị điều tra và nghiên cứu của cơ quan RAND, thì dưới đây là những con số chi phí về tăng cường quân sự giữa Tàu và Mỹ:

(Theo biểu đồ của RAND):

+ Màu tím : Mỹ = 2,700 tỷ đô-la (lũy tích về chi phí nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và lượng giá (RDT & E/ Research Development Testing & Evaluation) và mua vào vũ khí của Mỹ, trong 22 năm từ 1981-2003.)

+ Màu xanh: Trung Quốc = 1,250 tỷ đô-la (dự phóng lũy tích tối đa về chi phí RDT & E và… (như trên) của Trung Quốc trong 22 năm tới, từ 2003-2025.)

+ Màu nâu: Trung Quốc = 500 tỷ đô-la (dự phóng lũy tích mức trung bình về chi phí RDT & E và…(như trên) trong 22 năm tới (2003-2025)

Ta thử chọn mức dự phóng chi tiêu tối đa của Trung Quốc, trong 22 năm tới (2003-2025), con số chi tiêu cho quân sự của Trung Quốc chỉ bằng 46.3% (1,250 tỷ) so với 22 năm về trước của Mỹ (1981-2003). Điều đó chứng tỏ, Mỹ mới là kẻ hiếu chiến muốn thống trị thế giới bằng sức mạnh quân sự, chứ không phải Trung Quốc. Trong thực tế, sự chi tiêu quân sự của Trung Quốc cũng chỉ nhắm vào mục tiêu chống trả sự thách thức đe dọa của Mỹ ở biển Đông, thí dụ: Mỹ sẽ phong tỏa các tuyến hải trình chở dầu từ Ấn Độ dương xuyên qua eo Malacca, hay chận đứng sự thống nhất của Trung Quốc với Đài Loan bằng hàng rào sắt của các hạm đội thứ bảy, thứ sáu… quanh đảo Đài Loan, hay vùng biển Đông quanh Hoàng Hải, Nam Hàn và Nhật Bản. Đàng nào thì Trung Quốc chỉ là kẻ thủ thế và chuẩn bị, chứ không thể là kẻ tấn công trước.

 

        

           Source: RAND  | Các căn cứ quân sự của Mỹ ở biển Đông

Sự thủ thế của Trung Quốc trong bối cảnh chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay là điều có thể hiểu được. Patrick O’Connor nhận xét: “..Sự suy thoái của chủ nghĩa tư bản Mỹ và sự bùng nổ khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đục khoét nền móng kinh tế vùng và đe dọa biến trạng sự cân bằng của các thế lực toàn cầu. Mỹ là tâm chấn của sự tan vỡ kinh tế dễ kích hỏa sụp đổ tài chánh, và sự khủng hoảng đã hiển lộ nhiều mâu thuẫn từng là trụ cột của thời kỳ phát triển kinh tế trước đó. Kể cả sự tràn ngập nợ nần với Tàu, qua việc mua hàng trăm tỷ đô-la Công khố phiếu, nhằm tài trợ cho cái bẫy tiêu thụ của Mỹ với những hàng hóa giá rẻ được sản xuất bằng tính cách siêu-bóc-lột giai cấp vô sản Á châu.

“Tình huống ở Nam Trung Hải (South China Sea) đang đầy nguy cơ. Nó là một trong những hải lộ bận rộn nhất của thế giới đang chìm đắm trong những sự kình địch quân sự và không có những liên lạc phối hợp nào giữa các lực lượng hải quân giữa các quốc gia đối nghịch. Cả vùng như một hộp thuốc súng, với sô số khả thể cho một tai nạn hay sự hiểu lầm – hoặc chỉ cần một sự khiêu khích là có thể tạo nên một cuộc đụng độ biến thành một cuộc chiến tranh toàn diện giữa Mỹ và Tàu.” (24)

Mặt khác, sự tuyên truyền phụ họa ‘không chính thức’ của các nhà nghiên cứu, chiến lược gia (tùy theo khuynh hướng chính trị và phục vụ lợi ích) cũng có thể tạo nên những mối lo ngại hay ảnh hưởng đến tầm nhìn chiến lược quốc phòng của các quốc gia đang dấn thân vào sự tranh chấp. Thí dụ: Sự kiện Việt Nam mua 6 chiếc tàu ngầm loại Kilos chạy dầu cặn của Nga, có người bình luận sẽ là một thách thức với lực lượng hải quân Trung Quốc; trong lúc đó Carlyle Thayer đã phụ họa cho sự ‘đe dọa’ này: “Tàu ngầm Kilos với máy bay Sukhois, cộng thêm một dàn hỏa tiễn chống tàu chiến đặt trên đất liền của hải quân Việt Nam sẽ là một đe dọa cho các đội tàu nhỏ của Trung Quốc.” (25)

Hoặc, trong một tường trình với Quốc hội Mỹ mới đây, nhà phân tích về hải chiến Ronald O’Rourke cho biết, Trung Quốc sẽ tự chế tạo thêm có thể đến 6 đội hàng không mẫu hạm : thêm 2 đội vào năm 2015, và 3 đội khác vào năm 2020, trong đó sẽ có 4 hàng không mẫu hạm chạy bằng hạch tâm và trang bị vũ khí nguyên tử. (26)

Kaplan đã ví von sự trỗi dậy sức mạnh hải quân của Trung Quốc tương tự như vai trò trỗi dậy trong lịch sử của đế quốc Athens ngày xưa, “Kẻ mạnh làm những gì họ muốn và kẻ yếu thua thiệt đủ điều” có vẻ như là một cảnh cáo trước cho Việt Nam –phải chịu một số phận bi thảm như một ‘Melian’s fate’ (kẻ đứng trung lập giữa hai đối thủ Athens và Sparta.) (27) Nhưng liệu ‘Melian-Việt-Nam’ sẽ nghĩ gì qua bài học lịch sử Hạm đội Bảy Mỹ làm ngơ giả vờ không biết để cho con kình ngư Trung Quốc vồ lấy Hòang Sa năm 1974; sự kiện lịch sử thứ hai: Bộ Ngoại giao Mỹ đã làm gì sau biến cố lính hải quân Trung Quốc xả súng bắn ngang lưng trên 70 lính thủy Cộng sản canh giữ đảo ở Trường Sa năm 1988? Liệu Kaplan và Council on Foreign Relations sẽ thuyết phục Bộ Chính trị Ba Đình và kẻ thừa kế Nguyễn Cơ Thạch đứng về phía mình? Câu hỏi ấy dường như đang bị bỏ ngỏ.

Trong 10 năm tới (2020), các hạm đội hàng không mẫu hạm nguyên tử của Trung Quốc sẽ xuất hiện đi nữa, chưa hẳn là một đe dọa quân sự cho Mỹ, ngoại trừ Mỹ gây hấn trước nhằm chận đứng sự phát triển kinh tế của Trung Quốc; dù rằng, “sự phát triển của Trung Quốc cũng phải trả giá cho một núi nợ nần do việc ngân hàng nhà nước cho vay những món nợ xấu (con nợ không đủ khả năng hoàn trả tiền lời và vốn.) Theo văn phòng kiểm tra sổ sách quốc gia (the National Audit Office) Trung Quốc, tính đến cuối tháng 6/2010, số nợ xấu lên tới 10.7 ức Trung tệ (gần 1 ngàn sáu trăm năm mươi tỷ đô-la) –tương đương với 27% tổng sản lượng quốc gia (GDP) của năm 2010. (28)

Các kịch bản mang tính giả thiết của Victor N. Corpus về khả năng hải quân Trung Quốc đánh bại hải quân Mỹ bằng những cái “chày sát thủ” (the Assassin’s Mace) –với những vũ khí hiện đại và bí mật chống-vệ-tinh trong không gian, hay nhà chiến lược quốc phòng James Kraska mô tả “Hoa Kỳ bại trận trong cuộc hải chiến vào năm 2015” với Trung Quốc sẽ xảy ra như thế nào với lực lượng tàu ngầm nguyên tử trang bị hỏa tiễn nhiều đầu đạn tự điều hướng (maneuverable) chống-hạm sau khi hạ thủ tàu sân bay George Washington…có thể chỉ có trong tiểu thuyết khoa học giả tưởng mà cũng có thể mang khả năng hiện thực.

Việt Nam –dù có thể trở thành con cờ “khó cưỡng” của một siêu cường (nào đó) hay không, còn tùy thuộc nhân cách yêu nước và khả năng lãnh đạo của họ (?), nhưng trước hết đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị tước mất nhiều lợi thế chính trị của mình do thời cơ ‘vàng’ quá khứ mang lại, trong đó có thành phần trí thức ‘tả phải’ thân Hà Nội (đồng nghĩa với ‘thiên Hồ Chí Minh’) ở khắp các nước ngoài, sẽ tự xét lại thế đứng của mình: hoặc nghiêng về Tây phương (mà kẻ đứng đầu là Mỹ) đòi hỏi Việt Nam phải dân chủ hóa chính trị song song với đổi mới kinh tế. Sự kiện đó sẽ cuốn theo trào lưu của thế giới hôm nay, Hà Nội đã hoàn toàn bị đánh mất sự ủng hộ của các tổ chức xã-hội-chủ-nghĩa quốc tế, khi Patrick O’Connor viết : “…Giai cấp lao động thế giới phải can thiệp và tiến tới một giải pháp độc lập cho cuộc khủng hoảng này. Nhân dân lao động và các vùng nông thôn nghèo khó của Trung Quốc và Đông Nam Á hoàn toàn không có quyền lợi gì trong việc tranh chấp lãnh địa bởi các chính quyền của họ. Nhiệm vụ của họ là phải liên hợp với giai cấp lao động quốc tế và Mỹ trong một cuộc đấu tranh chung chống lại đế quốc quốc tế và đế quốc Mỹ, hệ thống lợi nhuận, và phá vỡ sự phân chia thế giới thành các đơn vị nation-states, và để cho một nền kinh tế thế giới được kiểm soát một cách dân chủ và hợp lý. Điều này đòi hỏi phải có một cuộc đấu tranh cương quyết chống lại giai cấp cai trị Mao-ít ở Trung Quốc, giai cấp cai trị Xtalinít ở Việt Nam, và thành phần tư sản thống trị ở Philíppin.” (29)

Thái độ thứ hai của những người “tả phái” hoặc là, họ sẽ im lặng –có nghĩa là chấp nhận vô điều kiện sự lãnh đạo của đảng Cộng sản và chế độ Việt Nam, ngầm hỗ trợ sự bành trướng và lớn mạnh của Trung Quốc, gián tiếp đồng thuận giấc mơ “Đại Đông Á” của Mao Trạch Đông. Viễn cảnh này chưa hẳn là một đại họa cho Á châu, bởi khả năng hòa bình của nó cao hơn nếu Trung Quốc có sự đồng thuận chia xẻ quyền lợi với Mỹ, thay vì sự ‘can dự’ tích cực của Ngũ Giác Đài, bằng chiến lược ‘hạ tầm phát triển của Trung Quốc’ xuống ở mức có thể kiểm soát và chấp nhận được, phá vỡ khả năng lãnh đạo khu vực của Trung Quốc.

60 năm trước (1958), Norman Jacobs viết “Nguồn gốc của Chủ nghĩa Tư bản Hiện đại và Đông Á” (The Origin of Mordern Capitalism and East Asia) để trả lời cho câu hỏi: Tại sao chủ nghĩa tư bản công nghiệp hiện đại chỉ có thể tiến phát ở trong xã hội Đông Á như Nhật Bản, mà không thể là Trung Hoa? (“Chủ nghĩa tư bản hiện đại” là khái niệm mà Jacobs dựa theo Max Weber qua phân tích hệ thống tổ chức kinh tế, xã hội của tây và bắc Âu.) Jacobs dùng 7 yếu tố để làm một tỷ giảo giữa hai hệ thống xã hội Nhật-Trung : a. sự Trao đổi sản phẩm và tài sản, b. Quyền lực, c. Nghề nghiệp, d. Giai tầng xã hội, e. Quan hệ họ hàng, f. Tôn giáo, g. Tính hợp nhất và ổn định.. (30) để trả lời cho câu hỏi đó. 60 năm sau, chúng ta có thể lật ngược câu hỏi: Vì sao trong chừng bốn thập niên, Trung Quốc đã thành công vượt bực với sự phát triển một nền kinh tế ‘tư bản hiện đại’? Thế thì, liệu Mỹ có đủ khả năng và ý lực để phủ nhận triệt để câu trả lời trọn vẹn của Trung Quốc?

 

Nguyễn Văn Hóa

Monday, October 17, 2011

Chú thích phần II (tiếp theo phần I):

(12) Hillary Clinton: America's Pacific Century : -The future of politics will be decided in Asia, not Afghanistan or Iraq, and the United States will be right at the center of the action.

http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/10/11/americas_pacific_century

(13) © 2011 United Press International

http://www.upi.com/Top_News/Analysis/Walker/2011/10/03/Walkers-World-War-in-South-China-Sea/UPI-23491317637140/

(14) Gwyn Kirk: Gender and U.S. Bases in Asia-Pacific

http://www.fpif.org/articles/gender_and_us_bases_in_asia-pacific

(15) Robert D. Kaplan -The Geography of Chinese Power - How Far Can Beijing Reach on Land and at Sea?

http://www.offnews.info/verArticulo.php?contenidoID=21629

(16) Norman Jacobs, The Origin of Modern Capitalism and Eastern Asia, Hong Kong University Press, 1958, trang 161.

(17) sách đã dẫn như trên, trang 161-162

(18) sách đã dẫn như trên, trang 167

(19) sách đã dẫn như trên, các trang 197-198

(20) sách đã dẫn như trên, trang 164

(21) sách đã dẫn như trên, trang 197

(22) sách đã dẫn như trên, trang 196

(23) Victor N Corpus : Striking the US where it hurts

http://www.atimes.com/atimes/China/HJ19Ad01.html

(24) Patrick O’Connor: US imperialism and the South China Sea crisis

http://www.wsws.org/articles/2011/jul2011/pers-j26.shtml

(25, 26) Trefor Moss: Decoding China’s Aircraft Carrier

http://the-diplomat.com/2011/08/13/decoding-china%e2%80%99s-aircraft-carrier/3/

(27) Robert D. Kaplan: The South China Sea Is the Future of Conflict

http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/08/15/the_south_china_sea_is_the_future_of_conflict

--và đọc thêm giai thoại lịch sử: Melian’s fate :

http://www.enotes.com/genocide-encyclopedia/athens-melos

(28) John Chan: China’s mountain of debt

http://www.wsws.org/articles/2011/jul2011/pers-j12.shtml

(29) Patrick O’Connor: US imperialism and the South China Sea crisis

http://www.wsws.org/articles/2011/jul2011/pers-j26.shtml

(30) Norman Jacobs, The Origin of Modern Capitalism and Eastern Asia, Hong Kong University Press, 1958, trang 218-219.

 

 

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA