Nói chuyện với ông Ngô Yên Thi,
Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ
Lê Công Cầu
Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam
Thưa ông Ngô Yên Thi !!!
Vừa rồi, tôi có nghe và có đọc bài trả lời phỏng vấn của ông, do
phóng viên Gia Minh đài Á châu Tự do thực hiện ngày 5/8/2005.
Phần đầu tôi không
lạm bàn, nhưng phần liên quan đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống nhất thì ông đã cố tình "giấu đầu", nhưng lại "hở đuôi"
quá lộ liễu. Ở đây tôi xin nêu những cái "hở đuôi" ấy để đồng
bào và Phật tử thấy rõ cái dã tâm xuyên tạc sự thật của ông và
cũng như để ông nhận thức lại hành vi của chính mình.
PHẦN I :
1. Gia Minh hỏi :
Dư luận nhiều nơi trên thế giới nói về Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất và đòi phục hoạt lại cho Giáo hội đó.
2. Ngô Yên Thi
trả lời : Giáo hội Phật
Giáo Việt Nam Thống nhất là trước năm 1975
(1) . Vào những năm 80-81,
đại bộ phận họ đã thống nhất lại Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam rồi
(2).
Ví dụ Hoà Thượng
Minh Châu, Trí Tịnh là của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất nay là thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam ; chỉ có một vài
vị không chịu, muốn có giáo hội riêng của họ ; và nói rõ ra là
họ có bên ngoài thúc đẩy. Do vậy chuyện này ít ra trong giáo hội
phải thuyết phục nhau để không chia năm xẻ bảy,
loại bỏ yếu tố chính trị
(3), thực hành theo con
đường của Ðức Phật
(4).
Thưa ông,
Qua câu trả lời
trên, tôi nhận thấy, ông có 4 điểm sai lầm mà ông cố tình xuyên
tạc, chứ một ông Trưởng ban Tôn giáo như ông thì không thể có
một sự hiểu biết lập lờ như thế.
I. Sai lầm thứ
nhất :
Ông nói
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Thống nhất là trước năm 1975,
nghĩa là ông cố tình đánh lừa quần chúng để quần chúng hiểu lầm
rằng Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là của miền Nam Việt
Nam cũ. Nên khi chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ, thì giáo
hội ấy phải sụp đổ theo không còn nữa, đúng không ? Vậy tôi xin
nêu các thời điểm lịch sử để ông và quần chúng thấy rõ sự tồn
tại hợp pháp và tương tục của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất.
1. Dưới thời thực
dân Pháp : Ðạo dụ số 10 ra đời và được thừa nhận bởi chính phủ
Bảo Ðại, trong đó qui định các tổ chức hiệp hội và Phật giáo chỉ
được xem như là một hiệp hội. Thiên chúa giáo lại nằm ngoài đạo
dụ số 10, vì Thiên chúa giáo được xem là một tôn giáo. Ðến thời
Ngô Ðình Diệm, đạo dụ số 10 được khai thác triệt để với mục đích
tiêu diệt Phật giáo. Trước những bất công ấy và luôn bị đàn áp
khốc liệt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã lãnh đạo Tăng tín đồ
toàn quốc đấu tranh cho Năm nguyện vọng của Phật giáo, dẫn đến
sự sụp đổ của chế độ Gia đình trị họ Ngô.
Năm 1964,
Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã
triệu tập 11 tập đoàn Phật giáo trên toàn quốc tham dự Ðaị hội
Thống nhất Phật Giáo Việt Nam, và danh xưng Giáo hội Phật Giáo
Việt Nam Thống nhất ra đời.
Sự Thống nhất này mang một ý nghĩa lớn lao, đó là
"Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá biệt mà đặt
sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc".
Sở dĩ tôi nói
dông dài như vậy để ông thấy rằng Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Thống nhất không ký thác sinh mệnh của mình vào một chế độ, mà
ký thác sinh mệnh của mình vào dòng sinh mệnh của dân tộc và
nhân loại. Dân tộc còn, thì đạo pháp còn ; nhân loại còn thì đạo
pháp còn. Nó không giống Giáo hội Phật Giáo Việt Nam của Nhà
nước. Vì Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã ký thác sinh mệnh của
mình vào chế độ cho nên đã lấy phương châm Ðạo pháp Dân tộc và
Xã hội chủ nghĩa. Vì thế, theo tiến trình của nhân loại, ngày
nào đó chế độ Xã hội chủ nghĩa không còn thì giáo hội ấy tất
phải sụp đổ theo.
Và với mục tiêu
đó, ngay sau khi ra đời Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất
đã nỗ lực vận động cho hoà bình sớm trở về với quê hương, chấm
dứt cuộc chiến tranh ý thức hệ kéo dài trên 20 năm, gây nên cảnh
huynh đệ tương tàn, quê hương thống khổ.
Sau năm 1975 đất
nước thống nhất, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất lại một
lần nữa đứng lên đấu tranh để bảo vệ nhân quyền và tự do đang bị
xâm hại, cuộc đấu tranh ấy đến nay vẫn chưa ngừng nghỉ.
2. Năm 1975, Cọng
sản chiến thắng miền Nam, trên tinh thần ấy Nhà nước Cọng sản có
quyền thừa nhận hay huỷ bỏ bất cứ một tổ chức nào dưới chế độ
cũ, vì cho rằng đó là tàn dư của chế độ. Thế nhưng, cho đến nay
Nhà nước Cọng sản vẫn chưa hề có một văn bản nào giải thể Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Vì sao thế ? Xin thưa, vì
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là thành viên của Hội
Liên Hữu Phật giáo Thế giới. Ðây là một tổ chức phi chính phủ
được Liên Hiệp Quốc thừa nhận. Nếu giải thể Giáo hội Phật Giáo
Việt Nam Thống nhất tức là vi phạm các cam kết của Liên Hiệp
Quốc mà nước Việt nam là thành viên.
3. Năm 1977 (sau
giải phóng 2 năm) : Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất đã tổ
chức Ðại hội toàn quốc kỳ VII. Dù theo Hiến chương của Giáo hội
thì toàn quốc ở đây chỉ từ vĩ tuyến 17 trở vào, nhưng đã chấp
nhận danh xưng Ðại hội toàn quốc thì có nghĩa đã chấp nhận Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là giáo hội hợp pháp trên qui
mô toàn quốc.
4. Năm 1981, Nhà
nước tổ chức Ðại hội Phật giáo toàn quốc để thành lập Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất đã có
phái đoàn tham dự do Hoà thượng Thiện Siêu dẫn đầu. Dù phái đoàn
này do Ðảng, Nhà nước và Ban Vận động Thống nhất Phật giáo của
Hoà thượng Thích Trí Thủ sắp đặt, nhưng nó đã nói lên sự hiện
diện hợp pháp của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất sau năm
1975.
5. Sau năm 1981,
Giáo hội Phật giáo Việt nam của nhà nước ra đời, trong Hiến
chương có ghi là các truyền thống, hệ phái vẫn được duy trì và
phát triển. Trước đây tôi có nói là giả dụ hãy tạm xem Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là 1 hệ phái trong Giáo hội Nhà
nước thì có nghĩa là Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất vẫn
tồn tại hợp pháp có hiến định.
6. Năm 2003 : Ðại
lão Hoà thượng Thích Huyền Quang đã uỷ nhiệm thượng toạ Thích
Tuệ Sỹ thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến họp
với đại diện Ủy hội Âu châu ngay tại Hà nội, ông F. Bazon (Ðại
diện Liên hiệp Âu Châu) nói rằng, đây là phiên họp chính thức
giữa Ủy hội Âu châu với Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất,
phiên họp đã được xin phép chính phủ Việt Nam. Phía chính phủ
Việt Nam không có công hàm phản đối phiên họp nầy, tức là chính
phủ đã mặc nhiên thừa nhận sự hợp pháp của Giáo hội Phật giáo
Việt nam Thống nhất. Ðúng không, thưa ông ?
7. Ðăc biệt nhất
là việc Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp kiến Hoà thượng Thích Huyền
Quang được truyền hình cho đồng bào trong nước cũng như hải
ngoại xem. Thủ tướng tiếp một người tù ư ? Không phải. Thủ tướng
tiếp một Cao Tăng ư ? Không đơn giản như thế. Nhất là khi Thủ
tướng nói : "Các vị tự sắp xếp lại nội bộ Phật giáo". Ta
phải hiểu rằng người mà Thủ tướng yêu cầu đứng ra sắp xếp lại
nội bộ Phật Giáo tức là người phải có thẩm quyền và trách nhiệm
với Phật giáo. Ngài Huyền Quang không phải là Pháp chủ Giáo Hội
Phật giáo Nhà nước, không phải Trưởng ban Tôn giáo chính phủ,
không phải Chủ tịch Mặt trận. Vậy quyền hạn và trách nhiệm của
ngài là gì ? Ðó chính là nhà lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật
giáo Việt nam Thống nhất. Như vậy, chính Thủ tướng đã gián tiếp
công nhận ngôi vị lãnh đạo của ngài và sự tồn tại của Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Phải vậy không, thưa ông ?
8. Tháng 10 năm
2003, Ðại hội Bất thường của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống
nhất tại Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Ðịnh, là bước đầu trong
công cuộc sắp xếp lại nội bộ Phật giáo như Hoà thượng Huyền
Quang và Thủ tướng đã thoả thuận. Ðại hội được tiến hành công
khai. Ban Tôn giáo tỉnh Bình Ðịnh đã xin cử cán bộ vào quan sát
buổi lễ. Ðồng thời Hoà thượng Quảng Ðộ đã gởi văn thư cho Thủ
tướng Phan Văn Khải phản đối những cản trở bất hợp pháp của
chính quyền các địa phương đối với chư vị Tôn túc tham dự đại
hội. Ðây là một văn kiện chính thức mà Hoà thượng Quảng Ðộ báo
cho Thủ tướng biết những việc mà Giáo Hội Thống nhất đang làm.
Thủ tướng không có văn thư ngăn cấm. Như vậy chứng tỏ đại hội
được tổ chức hợp pháp. Ðây là một yếu tố nói lên sự tồn tại trên
pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất. Ðúng không,
thưa ông ?
Ðáng tiếc sau đó
xảy ra sự biến Lương Sơn, các lực lượng công an đã chận đường
chư vị tôn túc đi dự Ðại hội Bất thường Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất trở về. Và qui kết chư vị tôn túc làm lộ bí mật
quốc gia ? ? Và quản thúc mỗi người mỗi nơi, tạo nên một khủng
hoảng mới về tôn giáo tại Việt Nam, phá hoại thoả thuận giữa Thủ
tướng và Hoà thượng Thích Huyền Quang về việc sắp xếp lại nội bộ
Phật giáo. Trách nhiệm về sự biến Lương Sơn hoàn toàn về phía
chính quyền mà trong đó trách nhiệm rất lớn là do ông vì ông là
Trưởng ban Tôn giáo. Ðúng không, thưa ông ?
Tôi nêu 8 sự kiện
nêu trên để chứng tỏ sự tồn tại hợp pháp và tương tục của Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà ông đã cố tình "giấu đầu"
và dưới đây là phần "hở đuôi" của ông. Tôi xin chỉ rõ để ông
thấy.
II. Sai lầm
thứ hai :
Ông nói :
Ðại bộ phận của họ
đã thống nhất thành Giáo hội Phật Giáo Việt Nam rồi.
Thưa ông, đại bộ
phận có nghĩa là một số lớn. Như vậy là ông đã xác nhận rằng chỉ
có một số Tăng Ni dù là số lớn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống nhất đã ly khai giáo hội để tham gia vào Gíao hội Phật
giáo của Nhà nước, chứ không phải là toàn thể Giáo hội Phật Giáo
Việt Nam Thống nhất tham gia. Ðúng không, thưa ông ?
Ông nói sai nhưng
đó lại là sự thật. Sau Ðại hội toàn quốc kỳ 7 của Giáo hội Phật
giáo Việt nam Thống nhất, giáo hội đó đã nhiều lần đề nghị Thống
nhất Phật giáo hai miền Nam Bắc, nhưng dưới con mắt của Ðảng thì
Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất là một tổ chức quần
chúng, có quần chúng và huy động được quần chúng. Ngược lại dưới
chế độ Xã hội chủ nghĩa, Phật giáo miền Bắc chỉ còn là một tập
hợp của những người theo Ðảng, không có quần chúng. Sự tương
quan lực lượng nầy làm cho Ðảng lo lắng và đảng đã quyết tâm
chia chẻ Giáo hội Thống nhất ra từng mảnh trước khi Thống nhất
Phật giáo toàn quốc. Mảnh thứ nhất, có những phần tử mà Ðảng cho
là nguy hiểm, cần phải tiêu diệt hay tù đày tiêu biểu là các Hoà
thượng Thiện Minh, Huyền Quang, Quảng Ðộ. Mảnh thứ hai, là những
tu sĩ hoạt động cho Ðảng mà tiêu biểu là Thượng Toạ Thiện Châu.
Mảnh thứ ba, là những người chấp nhận thời cuộc mà tiêu biểu là
Hoà thượng Minh Châu, Hoà thượng Trí Tịnh.
Loại trừ được
mảnh thứ nhất rồi Ban Bí Thư Trung Ương Ðảng mới cho tập hợp hai
mảnh còn lại cộng với Phật giáo miền Bắc gọi là 9 tập đoàn, tổ
chức đại hội tại hội trường Giảng Võ Hà Nội dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của ông Trần Quốc Hoàn - Ủy viên tổ chức Ban Bí thư Trung
Ương Ðảng. Như vậy, tôi xin ông lưu ý 4 điểm sau đây :
1. Một số người
tự ý ly khai Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất để tham gia
Giáo hội Nhà nước, chứ Giáo hội không tham gia, ngay cả phái
đoàn của Hoà thượng Thiện Siêu cũng chẳng có một văn bản nào của
Hội đồng Lưỡng viện công cử. Ðây là đại bộ phận họ Thống nhất
lại thành Giáo hội Phật giáo Việt nam như ông đã nói.
2. Vậy thì, phải
còn một tiểu bộ phận nữa chứ. Vậy thưa ông, tiểu bộ phận ấy là
ai. Ðó chính là những người không xu phụ thời cuộc, không tham
gia Giáo hội Nhà nước. Ðây là thành phần trung kiên của Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà tôi tạm gọi là mảnh thứ tư cộng
với những người tù tội, lưu đày ở mảnh thứ nhất cùng nhau gìn
giữ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Và như vậy Giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất vẫn còn phải không, thưa ông ?
Nói rõ thêm, ví
dụ như là Ðảng Cọng sản của ông, nếu có đại bộ phận đảng viên
tham gia một đảng khác thì như vậy không có nghĩa là Ðảng Cọng
sản chấm dứt, số đảng viên còn lại vẫn bảo vệ và duy trì, thì
Ðảng Cọng sản vẫn tồn tại, đúng không, thưa ông ?
3. Một điều đáng
nói là, sau khi Giáo Hội Phật giáo Việt Nam ra đời, trên thực
tế, Nhà nước không xem đó là một Giáo hội mà chỉ là một Hội đoàn
trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như hội thanh niên, hội phụ nữ,
hội người cao tuổi... mà thôi. Bằng chứng là các văn bản bằng
tiếng Anh, Nhà nước gọi Giáo hội Phật giáo Việt Nam là
Association of Buddhism of Viet Nam (Hiệp hội Phật giáo Việt
Nam). Xem thế, Ðảng và Nhà nước đối xử với Phật giáo Việt Nam
hiện nay còn tệ hơn các chế độ cũ nhiều. Vì ở các chế độ cũ, tuy
trên danh nghĩa, Phật giáo bị xem như là một hiệp hội, nhưng
hoạt động của Phật giáo vẫn độc lập với chính quyền. Còn Giáo
hội Phật giáo Việt nam hiện nay thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự
chỉ đạo của Ban Tôn giáo Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt nam.
4. Vì những lý do
trên mà chúng ta phải khẳng định rằng, tại Việt nam, hiện nay
vẫn chỉ tồn tại một giáo hội Phật giáo đúng nghĩa của nó, đó là
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà thôi..
III. Sai lầm
thứ ba :
Thưa ông,
Ông nói loại
bỏ yếu tố chính trị nhưng mà Ðảng cứ bắt họ làm chính trị, chứ
có cho họ tu hành thuần tuý đâu.
Ai cũng biết rằng Ðảng đã biến Giáo hội Phật giáo Việt nam thành
một tổ chức chính trị khi bắt Giáo hội Phật giáo Việt nam bỏ vào
trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chịu sự trực tiếp chỉ đạo của
hai cơ chế chính trị : Mặt trận và Ban Tôn giáo. Kể từ đó, Giáo
hội Phật giáo Việt nam phải thực hiện mọi ý đồ chính trị của
Ðảng và Nhà nước ngay cả trong việc giáo dục Tăng Ni.
Loại bỏ yếu tố
chính trị là một việc làm cấp thiết, nhưng đó là việc mà Ðảng
và Nhà nước phải làm. Phật giáo chỉ là nạn nhân mà thôi.
Muốn thế, Ðảng phải đẩy Giáo hội Phật giáo Việt nam ra khỏi Mặt
trận, để Giáo hội Phật giáo Việt nam trở về với sinh hoạt thuần
tuý tôn giáo. Phải vậy không, thưa ông ?
IV. Sai lầm
thứ tư :
Thưa ông,
Ông nói thực
hành theo con đường của Ðức Phật. Nhưng Ðảng cứ buộc Phật
giáo đi theo con đường Mác-Lê, chứ có để cho Phật giáo đi theo
con đường của Ðức Phật đâu. Ông phải hiểu rằng, con đường của
Ðức Phật là con đường của giới luật :
1. Giới luật
không cho phép Tu sĩ nạp Tăng tịch cho chính quyền, mà chính
quyền bắt phải nạp mới cho lên Hoà thượng, Thượng toạ.
2. Giới luật
không cho phép Tu sĩ tham gia chính trị, nhưng Ðảng cứ bắt buộc
quý Ngài ứng cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, hết kỳ này đến kỳ
khác.
3. Giới luật
không cho phép Tu sĩ nhận huân chương của Ðảng, vậy mà Ðảng cứ
bắt họ đeo vào.
Vậy muốn Tu sĩ đi
đúng con đường của Ðức Phật, thì Ðảng phải chấm dứt ngay việc
làm nêu trên. Phải không, thưa ông ?
PHẦN II :
1. Gia Minh hỏi :
Trước đây Hoà thượng Huyền Quang được Thủ tướng hứa hẹn ?
2. Ngô Yên Thi
trả lời : Thủ tướng nói là Nhà nước rất tôn trọng các vị Cao
Tăng, theo đúng đường tu học, chứ đừng nên đấu đá nhau. Tuy
nhiên bản thân Phật giáo vẫn còn bất đồng.
(Ðiều nay tôi đã
nói trong điều 7 về sai lầm thứ nhất của Phần I, khỏi cần phải
bàn lại).
3. Gia Minh hỏi :
Vì sao lại có lệnh quản chế đối với các vị đó ?
4. Ngô Yên Thi
trả lời : Tôi biết không có quản chế .
5. Gia Minh hỏi :
Có những phái đoàn muốn đến gặp cụ Huyền Quang vẫn bị ngăn trở.
6. Ngô Yên Thi
trả lời : Cụ đang ở Nguyên Thiều nên đoàn nào muốn thăm cũng nên
báo cho địa phương biết .
Thưa ông,
Ông Lê Dũng (phát
ngôn viên của Bộ ngoại giao) đã lặp đi lặp lại nhiều lần trên
đài truyền hình là không có quản chế. Bà Tôn Nữ Thị Ninh (Phó
chủ nhiệm Ủy ban Ðối ngoại Quốc hội) đi khắp năm châu, bốn bể để
nói là không có quản chế. Chúng tôi không trách ông Lê Dũng hay
bà Tôn Nữ Thị Ninh vì họ là nhân viên thừa hành, trên bảo nói
sao thì dưới phải nói vậy. Nhưng ông là Ủy viên Trung ương đảng,
là Ttrưởng Ban tôn giáo chính phủ chắc chắn ông biết rõ là có
quản chế và sự quản chế ấy có bàn tay của ông sắp đặt vì ông là
Trưởng ban tôn giáo. Ông đã cố tình lừa bịp dư luận, nhưng
ông "giấu đầu" không khéo, nên lần này ông lại "hở đuôi" nữa
rồi.
Ông có nhớ rằng
sau sự biến Lương Sơn, Hoà thượng Huyền Quang bị áp tải về lại
tu viện Nguyên Thiều, Hoà thượng Quảng Ðộ bị áp tải về Thanh
Minh Thiền viện, quý Thượng toạ : Tuệ Sỹ, Thanh Huyền... sau một
thời gian làm việc vòng vo đều bị áp tải về chùa và nhận lệnh
quản chế với lý do rất mơ hồ. Từ đó các ngài sống trong cảnh nội
bất xuất, ngoại bất nhập. Chính quyền đã cô lập các ngài một
cách gắt gao và tàn nhẫn. Các ngài chẳng được tự do đi lại thăm
viếng đồng bào, Phật tử và ngược lại con cháu Phật tử đến thăm
viếng quý ngài cũng bị cản trở khốc liệt. Tôi xin nêu hai trường
hợp điển hình để cho ông và đồng bào thấy :
1. Năm ngoái
huynh trưởng Bạch Hoa Mai từ Mỹ về đã cùng với huynh trưởng
Nguyễn Ðình Khôi (Ủy viên Ban hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật
tử Việt Nam) đi từ Sài Gòn ra Bình Ðịnh thăm Hoà thượng Huyền
Quang. Khi xuống ga Diêu Trì thì "được" công an Bình Ðịnh mời về
trụ sở công an để làm việc, và chính công an đã mua vé tàu buộc
hai anh phải trở lại Sài Gòn, chứ không được đến Tu viện Nguyên
Thiều. Hai vị Huynh trưởng này đã điện thoại cho tôi rõ.
2. Gần đây nhất
là hôm 20/6/2005, phái đoàn chư Tăng Thừa Thiên Huế vào Nha
Trang đi đám Hoà thượng Ðổng Minh. Trên đường trở về Huế, phái
đoàn ghé Tu viện Nguyên Thiều để vấn an Ðức Tăng Thống đệ tứ
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Phái đoàn bị chặn ngay
tại đầu cầu Bà Di, theo lối vào Tu viện. Sau đó, công an đã tạo
ra nhiều lý do để buộc phái đoàn phải trở về trụ sở xã Nhơn
Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh để làm việc. Sau một ngày
đêm bị giữ tại cơ quan chính quyền. Công an đã dẫn độ quý ngài
về lại Huế và Quảng Trị, và cuối cùng quý ngài không thăm được
Ðức Tăng Thống.
Thưa ông,
Tôi dẫn chứng 2
sự kiện trên để cho đồng bào thấy ông đã bóp méo sự thật. Nhưng
sự thật lại được phơi bày khi ông nói : Hoà thượng Huyền
Quang đang ở Nguyên Thiều, nên đoàn nào muốn thăm cũng nên báo
cho chính quyền địa phương biết. Xin ông nghe nói đây !
Ðúng là Hoà
thượng Huyền Quang đang ở Nguyên Thiều cũng như Hoà thượng Trí
Tịnh, Minh Châu đang ở Vạn Hạnh, Hoà thượng Thanh Tứ đang ở Quán
Sứ. Nếu có phái đoàn nào đến (Vạn Hạnh) thăm Hoà thượng Minh
Châu, Hoà thượng Trí Tịnh hay đến Quán Sứ thăm Hoà thượng Thanh
Tứ thì có cần báo cho chính quyền Sài Gòn hay Hà Nội biết
không ? Chắc chắn là không. Vậy thì tại sao khi đến Nguyên Thiều
thăm Hoà thượng Huyền Quang thì phải báo cho chính quyền địa
phương biết. Biết để làm gì ? Biết để ưa cho ai thăm thì cho,
không cho ai thăm thì ngăn chặn, phải vậy không ? Như vậy, tức
là ông đã thừa nhận Hoà thượng Huyền Quang đang có vấn đề, phải
không ? Vậy vấn đề ở đây là gì ? Xin thưa đó chính là Hoà thượng
đang bị quản thúc, bị cô lập, chứ chẳng còn một lý do nào khác.
Lời nói bưng bít của ông vô tình tố cáo lại ông rồi, ông thấy
không ?
Ðể kết luận, tôi
xin cảnh báo với ông hai điểm đễ ông suy nghĩ :
I. Ông cũng như
tôi là những người đang sống trong dòng lịch sử. Chứng kiến
những biến cố của đất nước trước năm 1975 cho đến hôm nay. Nhưng
ông phải hiểu rằng không phải chỉ có ông và tôi mà cả thế hệ
chúng ta đều là chứng nhân lịch sử, cho nên :
1. Ông là Ủy viên Trung ương đảng mà ông nói sai sự thật thì
nhân dân không tin ông. Ðã không tin ông, thì nhân dân cũng
không tin vào Ðảng của ông.
2. Ông là Trưởng Ban Tôn Giáo Chính phủ mà ông nói sai sự thật
thì nhân dân không tin ông. Ðã không tin ông, thì nhân dân cũng
không tin vào Chính phủ của ông nữa.
Như vậy chính các ông làm mất niềm tin của nhân dân vào Ðảng và
chính phủ, chứ chẳng ai khác.
II. Thời trai trẻ
ông đã từng mặc áo Lam, đeo hoa sen trắng đến chùa sinh hoạt Gia
đình Phật tử như chúng tôi.
Nhưng khi theo Ðảng
các ông đã khai không có tôn giáo.
Sự quay lưng lại với tôn giáo của mình tức là các ông đã từ bỏ
những giá trị đạo đức truyền thống của cha ông ta để lại.
Sự từ bỏ những
giá trị đạo đức ấy là mầm mống phát sinh ra quá nhiều tệ nạn :
tham nhũng, hối lộ, hiếp dâm, cửa quyền, lãng phí... Ðáng tiếc
là trong Ðảng của ông lại có quá nhiều thành phần như vậy.
Ngày xưa cứ mỗi
chiều chủ nhật đến chùa, ông đều có đọc 5 Ðiều luật Gia đình
Phật tử. Trong đó, điều luật thứ ba là :
Phật tử trau dồi trí huệ, tôn trọng
sự thật. Nếu trong tâm tư
ông còn vướng lại một chút của điều luật này, thì xin ông hãy
đem ra áp dụng ngay đi.
Tôn trọng sự
thật là cách duy nhất để
cứu vãn niềm tin của toàn dân đối với Ðảng của các ông đang trên
đà suy thoái, và cứu vãn niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ
của ông đang trên đà khủng hoảng, trước đòi hỏi Ða nguyên, Ða
đảng như hiện nay.
Xin chào ông.
Lê Công Cầu
Vài lời nhận xét của Giao điểm
(Nguyễn Văn Hóa lúc còn phụ trách mạng giaodiem.com ):
Sau khi nhận được bài viết này gởi đến hộp thư của mạng Gđ, đọc
xong chúng tôi phân vân về việc nên hay không phổ biến. Phân vân
vì lẽ, cuộc phỏng vấn ông Ngô Yên Thi –Trưởng ban Tôn giáo của
chính phủ nước CHXHCNVN của đài Á Châu Tự do (RFA) về vấn đề của
Giáo hội PGVNTN thì họ đã dư thừa phương tiện để phổ biến khắp
thế giới rồi. Riêng, bài trả lời của ông Lê Công Cầu –một Huynh
trưởng gia đình phật tử thì hẳn cũng đã được một số websites,
phòng thông tin chuyên lo về “khai thác” tin tức PG trong nước
đăng tải rồi… Tuy nhiên, lý do làm chúng suy nghĩ thêm là bởi
nội dung của bài viết đã bộc lộ tinh thần, tâm đạo của một phật
tử đúng nghĩa. Đọc xong bài viết trên đây, chúng tôi tin rằng
bạn đọc đã có cùng những suy nghĩ tương tự. Vậy, chúng ta tự
hỏi từ nguyên nhân lịch sử nào mà tập đoàn Catô La mã Việt Nam
đã rất thù ghét Phật giáo, nhất là đại bộ phận PG đã đứng lên
tranh đấu chống lại sự kỳ thị đàn áp của chế độ ông Ngô Đình
Diệm đến về sau?. Sự thù ghét ấy đã đưa tới những lập luận
xuyên tạc, nói sai sự thật qua các phương tiện truyền thông, báo
chí, sách vở của họ nhằm vào mục đích tiêu diệt PG, đặc biệt là
thành phần Catô La mã đang trôi giạt ở hải ngoại.
Sau biến cố Nguyên Thiều ở trong nước và đại hội bất thường của
Giáo hội PGVNTN ở Melbourne Úc châu ngày 12.10.2003, ông Tú Gàn
(còn có bút danh là Lữ Giang) là người được dư luận trong thành
phần Catô ở Mỹ coi là một cây viết “xuất sắc, tài ba nhất” còn
sót lại của chế độ ông Diệm, đã “mượn” tờ báo Saigòn Nhỏ để đẩy
mạnh sự xuyên tạc trong qui mô rộng bằng một lọat bài báo gây
mâu thuẫn, hiềm khích giữa chế độ trong nước và PG. Tú Gàn đã
gọi mâu thuẫn này là “Cuộc “đấu pháo” trong ngoài” (báo
Sàigòn Nhỏ ngày 9.1.2004) và mở đầu bài viết bằng lập luận như
sau:
“…Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trong nước là một cơ quan tôn
giáo vận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt trực thuộc Mật Trận Tổ
Quốc, còn Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế ở Paris do ông Võ
Văn Ái điều khiển là một tổ chức Phật Giáo hải ngoại được chính
phủ Hoa Kỳ tài trợ để đối kháng với Cộng sản Việt Nam.”
Với những lời lẽ khinh mạn và tự hạ thấp Giáo hội PGVNTN như là
một tổ chức của ông Võ Văn Ái, Tú Gàn dùng hậu ý khác để làm cho
chế độ CS coi GHPGVNTN (ông còn gọi là Giáo hội Ấn Quang) là một
“kẻ tử thù” chính trị của Hà Nội qua đoạn văn này :
“- -Giáo Hội Ấn Quang được thành lập với chủ trương quy tụ
Phật tử lại thành một lực lượng
để tiến lên nắm chính quyền
tại Việt Nam. Đây là chủ trương của nhóm tăng sĩ miền Trung. Tuy
bên ngoài, không có văn bản nào chính thức nói như vậy, nhưng
các họat động của Giáo Hội Ấn Quang từ 1964 đần nay đều nhắm vào
mục tiêu đó. Giáo Hội này chủ trương không liên kết với các tông
phái Pậht Giáo khác hay những tổ chức ngoài Phật Giáo, mà chỉ
muốn tông phái Phật Giáo và mọi tổ chức phải đứng sau lưng của
Giáo hội Ấn Quang mà thôi.”
Thâm ý của Tú Gàn cho người đọc có ấn tượng rằng bất cứ một chế
độ chính trị nào, dù thối nát độc tài hay không, đều là kẻ thù
chính tri của Giáo hội Phật Giáo Thống Nhất (hay theo cách gọi
của Tú Gàn là Giáo hội Ấn Quang). Đây là đòn tâm lý đánh vào
người Cộng sản thôi; nhưng để đánh vào tâm lý quần chúng, Tú
Gàn đã kết tội Giáo hội PGVNTN trong quá khứ đã từng làm “tay
sai” cho Cộng sản, nhưng nay không được nhà nước cộng sản dùng
nữa nên tìm muốn làm cho nó “tan biến” để thay thế bằng “Giáo
Hội Nhà Nước”. Tú Gàn viết như sau:
“Ngay sau khi Hòa Thượng Đôn Hậu và Huyền Quang đưa kiến nghị
nói trên, Phật Giáo Ấn Quang từng được tuyên xưng là “Phật Giáo
Yêu Nước” hay “Phật Giáo có công với Cách Mạng”, nay bị coi là
“Phật Giáo phản động”. Một Giáo hội Phật Giáo khá đã được thành
lập để làm tan biến hay loại Giáo Hội Ấn Quang ra, đó là Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam, thường được gọi là Giáo Hội Nhà Nước hay
Giáo Hội Quốc Doanh.
Với chủ trương như trên, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Giáo
Hội Ấn Quang đã không được cả chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lẫn
chính quyền Cộng Sản chấp nhận. Cả hai chính quyền đã tìm cách
đẩy giáo hội này ra ngoài vòng pháp luật.
Chúng tôi tin rằng nếu cứ tiếp tục theo đuổi đười lối này, những
chính quyền hậu cộng sản cũng sẽ không còn có cách lựa chọn nào
khác hơn là phải đối xử với Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang như các
chính quyền truớc đó.”
(lưu ý: chữ đậm là của Tú Gàn).
Sự lưu manh, xảo ngôn trong lập luận của Tú Gàn là làm cho giới
chức chính quyền Việt Nam hiểu rằng, nếu có xếp Giáo Hội PGVNTN
(Ấn Quang) vào thành phần đối thủ cần phải bị tiêu diệt cũng là
điều hợp lý thôi, vì chính ngày trước chế độ Việt Nam Cộng Hòa
cũng muốn tiêu diệt, nhưng chẳng may không làm được đó thôi, nay
mấy ông Cộng sản làm được thì càng hay!. Điều đó còn ngụ ý gián
tiếp là sẽ có thế lực Catô La mã nội địa và quốc tế sẽ ngầm ủng
hộ.
Nhưng, để kết luận Tú Gàn lại dùng một lập luận nghịch đảo để
tạo nên những mâu thuẫn chồng chéo trong nội bộ Phật Giáo, y
viết: “Có thể nói, kế hoạch “thống nhất Phật giáo” lần thứ
hai của nhà cầm quyền CSVN qua Hòa Thượng Huyền Quang để xóa sổ
Giáo Hội Ấn Quang đã bị bẻ gãy. Nhưng thua keo này, địch sẽ bày
keo khác, nên chúng ta phải luôn đề phòng.”
Nêu ra dẫn chứng cụ thể trong bài viết của Tú Gàn để chúng ta có
thể nhìn ra âm mưu gian trá của một tín đồ Catô La mã là : dưới
bất cứ một chế độ chính trị nào, hòan cảnh xã hội nào, họ cũng
đều coi Phật Giáo là một kẻ thù (vì PG muôn đời là một tôn giáo
dân tộc); nhưng chúng tôi tin rằng những người cộng sản VN trong
quá trình lịch sử vì yêu nước đã “mượn” chủ nghĩa Cộng sản để
giải quyết vấn đề độc lập cho dân tộc… không thể mù quáng trước
những âm mưu thâm độc đó, thành ra chúng tôi nghĩ nếu chính
quyền và các Giáo hội Phật Giáo nói chung không khéo léo dùng
trí tuệ để giải quyết sớm vấn nạn hiện nay, không chừng cả hai
có thể trở thành những nạn nhân của đạo Công Giáo La Mã.