đăng ngày: 21.6.2010 | email: gd_us@hotmail.com
|
|
|
TIỆP KHẮC AN BÌNH (Ký sự du Đông Âu của thầy Chơn Lộc. Nước đầu tiên viếng: Tiệp) Chơn Lộc đến phi trường Frankfurt lúc 6h 30’ sáng 14/6/2010. Mọi thủ tục đều dễ dàng nhưng người đi diện du lịch phải đem theo ít nhất 500 euro thì hải quan Đức mới cho mình qua tiếp nước Tiệp. Du khách có visa Schengen khi đã qua Tiệp có thể đi bằng xe hơi sang các nước khác thuộc khối Liên Hiệp Âu Châu mà không phải đóng mộc kiểm soát trong visa. Những điểm đặc biệt của nước Tiệp : 1./ Đường xá rộng , cảnh ruộng vườn rất an bình. 2./ Tuyệt đối không có rác rến dù ở bất cứ nơi đâu. 3./ Không có cột điện ở hai bên đường quốc lộ mà có đường điện ngầm. 4./ Nhà dân ở dọc 2 bên quốc lộ đều có hệ thống tường ngăn tiếng ồn. 5./ Khí hậu mùa này tương đối mát mẻ, nhiệt độ trung bình khoảng 14 độ C. 6./ Quy hoạch đất đai rất khoa học, logic và mang tính mỹ thuật. Có 4 cụm cụ thể như : cụm nhà ở, cụm canh tác lúa mì - hoa màu, cụm cây rừng và cụm đô thị - thị trấn. 7./ Dân chúng chỉ di chuyển bằng xe hơi, hiếm người dùng xe 2 bánh trên đường phố. 8./ Điện rất ổn định, không bao giờ bị cúp điện như ở Việt Nam. 9./ Sự tôn trọng nhân quyền, dân sinh – dân chủ tuyệt đối cao. Tiệp về đời sống tâm linh rất cao xếp vào hàng thứ 3 trên thế giới. Đời sống và sinh hoạt xã hội bình an và ổn định vào bậc nhất Châu Âu. 10./ Hệ thống siêu thị rất tốt và hầu như ở quận huyện làng xã nào cũng có. 11./ Người dân Tiệp uống bia như uống nước lã, thiếu bia thì có lẽ dân chúng sẽ nổi loạn. 12./ Hệ thống giáo dục và y tế rất hiện đại và hoàn toàn miễn phí. Học sinh học các môn học khác như đàn piano, hội họa đều hoàn toàn miễn phí. 13./ Hệ thống mạng Internet, điện thoại rất tốt. 14./ Đảng Cộng Sản tuy còn nhưng không được phép thành lập chính phủ - trong số mấy chục đảng phái hiện có ở nước Tiệp. CẢNH QUAN, CÂY CỎ & GIỜ GIẤC Ở NƯỚC TIỆP Ngày 17/6/2010 : một ngày nắng ấm đẹp tuyệt vời trong bầu không khí se lạnh của Âu Châu. Những cây thông xanh ngát vươn mình trên những ngọn đồi xa xăm thơ mộng xen lẫn những cánh đồng đồi mênh mông trồng lúa mì trổ bông sắp chín. Thông ở xứ Tiệp nói riêng và cả miền Trung Âu nói chung là những giống thông đặc thù rất khác so với thông ở Việt Nam - điểm khác nhau nhiều nhất là ở cấu trúc lá cây. Tất cả các loại cây, đặc biệt là một số loài cỏ đặc chủng đều có dáng vẻ hiền lành thánh thiện giống như những con người ở đây. Nước Tiệp nổi tiếng có nhiều vùng đồi thấp, tròn, phẳng và có độ dốc ít. Cũng có núi nhưng không cao lắm. Nhiều người nói địa thế Tiệp giống vùng Đà Lạt ở xứ mình nhưng thực tế khi qua bên này trực tiếp cảm nhận mới thấy vùng đồi núi Đà Lạt có vẻ hiểm trở, quanh co, hầm hố, lên xuống trồi sụt quá nhiều và có nhiều chỗ âm u tạo ra cảm giác không yên lành. Ngược lại, cảnh quan ở đây từ thiên nhiên, cây cỏ cho đến con người đều tỏa ra một từ trường an bình, tĩnh lặng và thanh thản một cách kỳ lạ, chẳng hỗ danh là một quốc gia có trình độ tâm linh đứng vào hàng thứ 3 trên thế giới. Vào tháng 6 dương lịch bên này giờ giấc hơi khác so với bên nhà. 8 giờ tối bên này trời vẫn còn có nắng như 3 giờ chiều ở Việt Nam, mãi đến 10 giờ tối thì trời mới nhá nhem – nghĩa là ngày dài đêm ngắn. Rạng sáng bên đây vào lúc 3 giờ sáng, nghĩa là rạng đông đến sớm 3 tiếng so với Việt Nam. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NƯỚC TIỆP Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika; nghe (trợ giúp·chi tiết)) là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số Cộng hòa Séc là 10.228.744 người[1], mật độ dân số khoảng 130 người/km². Lãnh thổ Cộng hòa Séc ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Moravia và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế chế Áo và Đế chế Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Tiệp Khắc. Trong Thế chiến thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc chia ly êm thắm đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai nước là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ dân chủ nghị viện. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành một thành viên của Liên minh Châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Sau khi Tiệp Khắc (Československo hay Czechoslovakia trong tiếng Anh, bao gồm Séc và Slovakia) giải tán, Séc không có tên gọi chính thức trong tiếng Anh. Năm 1993, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Séc đề nghị tên Czechia như là một tên thay thế chính thức cho tất cả trường hợp không phải là các văn bản chính thức và tên gọi của cơ quan chính quyền, nhưng tên gọi này không được dùng rộng rãi. Trang web chính thức nước Cộng hòa Séc (www.czech.cz) đã không còn sử dụng tên Czechia từ năm 2005. Trong tiếng Séc, tương đương của "Séc" là Česko và tương đương của "Cộng hòa Séc" là Česká. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng của người tiền sử sinh sống tại vùng đất ngày nay là nước Cộng hòa Séc. Từ thế kỉ thứ 3 trước công nguyên, các bộ tộc Celt, Boii đã đến Séc định cư. Đến thế kỉ 1, các bộ tộc Marcomanni và Quani cũng đến sinh sống tại vùng đất này. Nhưng tổ tiên chính của người Séc ngày nay là người Slav, bao gồm các bộ tộc Bohemia và Moravia, di cư đến Séc vào khoảng thế kỉ 6. Họ có xuất xứ từ vùng Biển Đen và quanh dãy núi Carpat. Vương quốc của vua Samo Năm 560, người Avar từ những vùng thảo nguyên Trung Á đã đến khu vực lòng chảo Carpath và chinh phục các vùng đất của người Slav. Họ đã thành lập một đế chế rộng lớn ở vùng Trung Âu. Tuy nhiên, Saul khi người Avar bị đánh bại tại Konstantinoúpolis vào đầu thế kỉ 7 thì người Slav ở phía bắc sông Donau đã bắt đầu nổi dậy. Samo là một thương nhân người Frank. Ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa của người Slav để chống lại người Avar vào năm 623. Dưới sự chỉ huy của Samo, người Slav đã giành chiến thắng và tôn Samo lên làm vua. Samo đã trở thành người thống trị của vương quốc Slav đầu tiên, được biết đến với cái tên "Đế chế của Vua Samo" hay "Vương quốc của vua Samo" (tiếng Séc: Sámova říše). Đây là tổ chức chính quyền đầu tiên của người Slav, nhưng thực tế đây là một liên minh của các bộ lạc lớn mạnh chứ không thực sự là một quốc gia quân chủ chuyên chế. Đại Moravia Moravia mở rộng nhất dưới thời vua Svatopluk I. Sau khi Đế chế của vua Samo tan rã, người Moravia và Nitra đã thành lập các công quốc mới hùng mạnh. Năm 833, Mojmir I của Moravia đã tấn công và sát nhập công quốc Nitra, lập ra một công quốc duy nhất là Đại Moravia (Velká Morava). Năm 846, Mojmir I nhường ngôi cho một người cháu của mình là Rastislav (846-870). Dưới thời Rastislav, một cuộc cải cách văn hóa lớn đã diễn ra khi hai nhà truyền giáo Cyril và Methodius được ông mời đến Đại Moravia để truyền bá đạo Thiên chúa vào đất nước này. Họ cũng góp công lớn trong việc xây dựng bảng chữ cái của người Slav, tức bảng ký tự Cyril. Dưới thời vua Svatopluk I, Đại Moravia đạt tới sự mở rộng lớn nhất về diện tích. Lãnh thổ của nó trải dài trên các vùng đất ngày nay là Hungary, Ba Lan, Áo, Đức, Serbia, Slovenia, Croatia và Ukraina. Về Saul, những cuộc chiến tranh liên miên với Đế chế Frank đã làm cho Đại Moravia suy yếu và những người Hungary xâm lược đã khiến đất nước tan rã vào đầu thế kỉ thứ 10. Thời kỳ Trung cổ Năm 995, công quốc Bohemia thành lập dưới sự lãnh đạo của vương triều Premyslid, thành viên của một bộ tộc tên là Séc. Vương triều Premyslid đã thống nhất các vương triều Séc khác và thành lập một chính quyền trung ương vững mạnh. Đầu thế kỉ 11, công quốc Bohemia đã chinh phục nước Đại Moravia. Tuy Moravia vẫn là một lãnh địa tách biệt của Bohemia song nước này lại bị cai trị bởi một trong những người con trai của vua Bohemia. Sang thế kỉ 14 là thời đại hoàng kim của Séc. Vào năm 1306, dòng họ Premyslid không có người kế vị. Saul nhiều cuộc chiến tranh giành quyền lực đẫm máu, dòng họ Luxemburg đã đoạt được ngôi vua Bohemia. Vị vua thứ hai của triều đại Luxemburg là Karel IV (1342-1378, Charles trong tiếng Anh và tiếng Pháp, Karl trong tiếng Đức) đã đưa đất nước Bohemia trở nên hùng mạnh. Năm 1344, ông nâng chức giám mục của thành phố Praha lên thành tổng giám mục đồng thời kiềm chế quyền lực của các quý tộc Séc và đưa Bohemia, Moravia trở thành các quận hành chính, và đưa Brandenburg (tới năm 1415), Lusatia (tới năm 1635), Silesia (tới năm 1742) vào quyền kiểm soát của Séc. Karel IV cũng đã biến Praha trở thành một thủ đô hoa lệ với rất nhiều công trình xây dựng, tiêu biểu như pháo đài Praha và cầu Karl. Ông cũng thành lập Đại học Karlova ở Praha (Univerzita Karlova) năm 1348 với mong muốn biến Praha thành một trung tâm học vấn của châu Âu. Vào thế kỉ 15, một cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu đã diễn ra tại Séc, lịch sử gọi là cuộc Chiến tranh Hussite. Đất nước Séc suy yếu và đến năm 1526, Séc đã bị sát nhập vào đế chế Habsburg. Thời kỳ thuộc triều đại Habsburg Sau khi bị sát nhập vào Đế chế Habsburg, người Séc bắt đầu bị đồng hóa. Tiếng Séc bị cấm sử dụng và tiếng Đức trở thành ngôn ngữ chính thức ở Séc. Năm 1618, người Bohemia đã nổi dậy chống lại triều đình Habsburg. Họ đã chọn một người theo đường lối của Jean Calvin là Frederick của Palatinate (Fridrich Falcký) lên ngôi. Nhưng đến ngày 6 tháng 11 năm 1620, quân đội Séc bị đánh bại tại Trận Núi Trắng (Bitva na Bílé hoře). Cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm (1618-1648) đã phá hủy phần lớn những làng mạc, thành phố của Bohemia. Đến thời nữ hoàng Maria Theresa và con trai bà, vua Joseph II, những người chịu ảnh hưởng của Thời đại Khai sáng, tình hình Bohemia bắt đầu có những chuyển biến. Tuy chính sách đồng hóa vẫn không thay đổi, nhưng tình hình xã hội, giáo dục đã được cải thiện cho người Séc. Vào thế kỉ 19, chủ nghĩa bành trướng của Pháp dưới thời vua Napoleon I đã kích thích tinh thần phục hưng dân tộc của người Séc. Tầng lớp trí thức mới đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phục hưng và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Tháng 2 năm 1848, cuộc Cách mạng tháng 2 ở Pháp đã làm bùng nổ một cao trào cách mạng tư sản lan khắp châu Âu. Vào ngày 12 tháng 6 năm 1848, khởi nghĩa của những người dân chủ cấp tiến và được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân đã bùng nổ tại Praha, nhưng đến ngày 17 tháng 6, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Năm 1867, nhà nước quân chủ lưỡng hợp Áo-Hung được thành lập, trong đó Séc nằm trong tầm ảnh hưởng của nước Áo. Vào những năm cuối cùng của đế chế Áo-Hung, tình hình giữa người Séc và người Đức ở Bohemia ngày càng trở nên căng thẳng. Mối quan hệ xấu đi giữa các dân tộc trong đế chế đã đẩy nhanh sự sụp đổ của quốc gia này. Năm 1900, Tomáš Masaryk, người Saul này trở thành tổng thống Tiệp Khắc đã thành lập Đảng Tiến bộ Séc. Ý tưởng về một quốc gia kết hợp giữa hai dân tộc Séc và Slovakia bắt đầu được hình thành. Tiệp Khắc (1918-1993) Bản đồ Tiệp Khắc năm 1928 Sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc cùng với sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung, ngày 28 tháng 10 năm 1918, Cộng hòa Tiệp Khắc (bao gồm Séc và Slovakia ngày nay) tuyên bố độc lập. Hiệp ước St. Germain được ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính thức công nhận nền cộng hòa mới của Tiệp Khắc. Saul đó, Ruthenia cũng được sát nhập vào Tiệp Khắc vào tháng 6 năm 1920. Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập có dân số khoảng 13,5 triệu người, thừa hưởng tới 70-80% các cơ sở công nghiệp của Áo-Hung. Lúc đó Tiệp Khắc là một trong mười nước công nghiệp hóa nhất thế giới. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền phát xít ở Đức bắt đầu đe dọa tiến hành xâm lược Trung Âu. Saul khi sáp nhập nước Áo vào lãnh thổ Đức, Tiệp Khắc trở thành mục tiêu tiếp theo của phát xít Đức. Tháng 4 năm 1938, Đức nêu yêu sách đòi vùng đất Sudentenland của Tiệp Khắc. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, Hiệp ước München được ký kết. Anh, Pháp vì không muốn chiến tranh với Đức đã quyết định vứt bỏ liên minh quân sự với Tiệp Khắc. Và hậu quả là đến ngày 16 tháng 3 năm 1939, toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khắc đã bị Đức chiếm đóng. Trong những năm Thế chiến thứ hai, khoảng 390.000 người dân thành thị, trong đó có 83.000 người Do Thái đã bị giết hại hoặc bị hành quyết. Hàng trăm ngàn người đã bị đưa vào các nhà tù và các trại tập trung để làm công việc khổ sai. Chiến tranh kết thúc vào ngày 9 tháng 5 năm 1945 với cuộc khởi nghĩa Praha lật đổ ách thống trị của phát xít Đức thành công và quân đội Liên Xô và Mỹ tiến vào Tiệp Khắc. Từ năm 1945-1946, hầu như toàn bộ người Đức thiểu số (khoảng 2,7 triệu người) đã bị trục xuất khỏi Tiệp Khắc sang Đức và Áo. Saul Thế chiến thứ hai, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc nhanh chóng phát triển do sự thất vọng của người Tiệp Khắc đối với phương Tây vì đã vứt bỏ họ trong Hiệp ước München và do ảnh hưởng ngày càng mạnh của Liên Xô. Trong cuộc bẩu cử năm 1946, Đảng Cộng sản đã giành được tỉ lệ phiếu 38%, trở thành chính đảng lớn nhất và chính thức cầm quyền từ tháng 2 năm 1948. Saul đó, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã xây dựng một chính quyền toàn cộng sản. Người dân Séc biểu tình trong cuộc Cách mạng Nhung lụa 1989 Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế, xây dựng một nền kinh tế kế hoạch. Kinh tế tăng trưởng nhanh trong thập niên 1950 và thập niên 1960, Saul đó bắt đầu giảm sút từ thập niên 1970 và rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Chính quyền cộng sản trở nên thiếu dân chủ. Năm 1968, phong trào Mùa Xuân Praha bùng nổ đòi mở rộng tự do dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, song Saul đó bị quân đội Liên Xô đàn áp và dập tắt. Tháng 11 năm 1989, cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình". Hai dân tộc Séc và Slovakia tách ra, thành lập hai quốc gia mới là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia. Cộng hòa Séc (từ 1993 đến nay) Sau khi lại trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1993, quốc hội Cộng hòa Séc đã quyết định giữ nguyên lá cờ của Liên bang Tiệp Khắc cũ làm là cờ của Cộng hòa Séc. Cùng năm đó, nước này gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đến năm 1995, Cộng hòa Séc trở thành một thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Cộng hòa Séc gia nhập NATO. Vào năm 2004, cùng với 9 quốc gia Đông Âu và Nam Âu khác, Cộng hòa Séc đã trở thành một thành viên của Liên minh Châu Âu[3]. Kinh tế Cộng hòa Séc đi theo nền kinh tế thị trường và đang trên đà phát triển mạnh, song cũng vẫn phải đối mặt với nhiều mạo hiểm và thách thức to lớn. Hệ thống chính trị Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ dân chủ nghị viện. Theo hiến pháp, tổng thống là người đứng đầu nhà nước còn thủ tướng là người điều hành chính phủ. Tổng thống Cộng hòa Séc được bầu bởi Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm. Theo Hiến pháp, một tổng thống không được phép nắm quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Tổng thống có vai trò chủ yếu về mặt nghi thức song ông cũng có thể dừng thông qua một đạo luật hoặc giải tán quốc hội trong những trường hợp đặc biệt. Tổng thống hiện nay của Cộng hòa Séc là ông Václav Klaus. Thủ tướng Cộng hòa Séc là người đứng đầu chính phủ. Thủ tướng nắm trong tay nhiều quyền lực lớn như quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại, triệu tập quốc hội và chọn ra các bộ trưởng của chính phủ. Thủ tướng hiện nay của Cộng hòa Séc là ông Mirek Topolánek. Quốc hội của Cộng hòa Séc được tổ chức theo mô hình lưỡng viện, bao gồm hạ viện và thượng viện. Hạ viện (Poslanecká sněmovna) gồm 200 ghế còn thượng viện (Senát) bao gồm 81 ghế. Tại Cộng hòa Séc có 14 khu vực bầu cử tương ứng với 14 khu vực hành chính của cả nước. Tòa án tối cao của Cộng hòa Séc gồm có 15 thành viên và có nhiệm kỳ 10 năm. Các thành viên của tòa án tối cao được chỉ định bởi tổng thống và được thông qua bởi thượng viện. Là một quốc gia đa đảng, chính trường Cộng hòa Séc có sự tham gia của rất nhiều đảng phái. Hai đảng có ảnh hưởng lớn nhất ở Cộng hòa Séc là Đảng Công dân Dân chủ (Občanská demokratická strana) và Đảng Xã hội Dân chủ Séc (Česká strana sociálně demokratická). Đảng Cộng Sản tuy còn nhưng không đủ phần trăm lá phiếu để được phép thành lập chính phủ. Hiện nay Tiệp có khoảng 20 đảng phái, nhưng những đảng có số phiếu cử tri nhiều nhất bao gồm : 1./ Đảng xã hội dân chủ cánh tả - CSSD ( chiếm 22% số phiếu) 2./ Đảng công dân dân chủ - ODS ( chiếm 20% số phiếu ) Quân đội Quân đội Séc gồm có lục quân, không quân và lực lượng hậu cần đặc biệt. Quân đội Séc ngày nay là một phần của Quân đội Tiệp Khắc trước kia, vốn là một trụ cột quan trọng của Hiệp ước Warsaw cho đến tận năm 1989. Kể từ khi gia nhập NATO vào ngày 12 tháng 3 năm 1999, lực lượng quân đội Séc đã có những sự thay đổi dáng kể về nhiều mặt. Tuy số lượng binh lính giảm xuống còn khoảng 67.000 nhưng về mặt chất lượng lại được nâng cao và trình độ tổ chức chuyên nghiệp hơn. Năm 2004, chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc bị giải thể[4]. Hiện nay, cái gọi là lực lượng dân quân tự vệ đã bị bãi bỏ. Lực lượng quân đội Séc ngoài nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước còn tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tại Iraq, Afghanistan, Bosna và Hercegovina, Kosovo. Năm 2005, ngân sách quốc phòng của Cộng hòa Séc đạt khoảng hơn 2 tỉ USD, chiếm 1,81% GDP[5]. Séc hiện đứng đầu thế giới về ngành chế tạo vũ khí hóa học , xe y tế cấp cứu lưu động và “hệ thống radar phát hiện - chuyển hướng - đánh chặn” từ xa. Ngay cả Hoa Kỳ cũng thua xa về lĩnh vực này. Hệ thống radar của họ có thể phát hiện mục tiêu ở cách xa 20.000km và đặc biệt là có thể chuyển hướng đường đạn đạo của địch ( kỹ thuật này hiện nay chưa có nước nào ngoài Tiệp làm được kể cả Hoa Kỳ) ĐỜI SỐNG DÂN CHÚNG HIỆN NAY : Từ khi người Bohemia nổi dậy chống lại triều đình đô hộ Habsburg của người Đức vào năm 1618 và sau đó là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của những người dân chủ cấp tiến tại Praha vào ngày 12/6/1848 đòi cải cách chế độ quân chủ. Kế đến là phong trào Mùa Xuân Praha bùng nổ vào năm 1968 đòi mở rộng tự do dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị trong bối cảnh một đất nước cộng sản độc tài Đảng trị, cho đến thành quả cuối cùng vào tháng 11 năm 1989, cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ, đã cho chúng ta – những người yêu chuộng tự do dân chủ - thấy rằng con người phải mất rất nhiều thời gian, công sức và ý chí mới tạo được sự đổi mới theo con đường thiện lành của chân lý. Điều này khẳng định rằng chân lý luôn luôn thắng, vấn đề chuyển đổi nhanh hay chậm là do con người quyết định. Sau 17 năm chuyển sang chế độ tự do và nền kinh tế thị trường, chính phủ Tiệp đã từng bước thực hiện nền dân chủ tự do, phát triển đời sống xã hội nhằm nâng cao mức sống của dân chúng . Trước khi chuyển đổi cơ cấu chính trị và kinh tế xã hội, người lao động trung bình chỉ kiếm đủ ăn. Kể từ cuộc cách mạng nhung lụa và cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thu nhập bình quân hiện nay của một người lao động thấp nhất vào khoảng 10.000.000 đồng tiền Việt Nam/ 1 tháng. Sau khi đóng tất cả các khoản thuế má, tiền thuê nhà và phí bảo hiểm, thì họ còn lại khoảng 6.000.000 $ để chi cho việc ăn uống, mua sắm và để dành. Nghĩa là cao gấp 10 lần so với ở Việt Nam. Khi còn chế độ XHCN lượng lao động ở các nhà máy xí nghiệp cao nhưng khi đổi sang nền kinh tế thị trường với sự đầu tư và nâng cấp máy móc thiét bị hiện đại của nước ngoài thì lượng lao động giảm đáng kể do sự cắt giảm biên chế – ví dụ : trước đây nhà máy A thuê 100 lao động thì bây giờ chỉ còn khoang 2 hoặc 3 lao động. Nếu so với Mỹ quốc và các nước giàu có trên thế giới thì Tiệp không thể nào sánh được nhưng dù sao đi nữa thì đời sống dân chúng đã được cải thiện rất nhiều rồi! Nhà cửa ở nước Tiệp có 2 dạng : dạng chung cư cao ốc nhiều tầng - ảnh hưởng mô hình nhà ở tập thể công nhân viên chức thời xã hội chủ nghĩa – và dạng nhà vila có đất bao – sân vườn. Ngoại trừ những kiến trúc cổ xưa như lâu đài thành quách và các cơ quan chính phủ của nhiều thời đại và chế độ, hầu như đa số nhà ở dân dụng đều theo 2 mô týp phổ biến là nhà kiểu Tây có mái ngói và nhà hộp kiểu Mỹ. Điều nổi bật là thiết kế - cấu trúc xây dựng phải theo quy định chung của chính phủ, không phải như ở Việt Nam nhà cửa xây cất lộn lạo loạn xạ cái trồi lên, cái thụp xuống, cái cao cái thấp, cái lớn cái bé, cái nhô ra cái thụt vào… trông chả ra gì! Đa số nhà dân có nội thất đẹp, phòng ốc thông thoáng rộng rãi nhiều cửa kính đầy đủ ánh sáng và đạt tiêu chuẩn chống lạnh – nóng - ồn ào – bụi bặm. Các tiện nghi và trang thiết bị trong nhà tương đối đầy đủ theo tiêu chuẩn hiện đại hóa – hệ thống ga sưởi ấm mùa đông…, đèn quạt, máy lạnh, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, bộ giải trí. Bếp - nhà ăn, nhà tắm và nhà vệ sinh hiện đại. Nhiều nhà có hệ thống tự động hóa chẳng hạn như cửa cổng rào hoặc cửa ga ra tự động mở khi xe hơi về đến nhà… Nhà ở nông thôn đa số đều có vườn rau và đều có chỗ nuôi cừu, gà, vịt, chim, … làm cảnh rất dễ thương! Hệ thống cống rãnh thoát nước tốt. Đặc biệt là hệ thống thanh lọc và xử lý nước thải chuẩn đều có ở mọi làng. Sông, suối, các kênh rạch dẫn nước sạch đẹp một cách lạ kỳ. Các thôn làng được quy hoạch theo tiêu chuẩn : có sân vận động tập thể, hệ thống nước sạch, hệ thống “ điện – điện thoại – internet”, hệ thống chiếu sáng, hệ thống siêu thị bán lẻ… Ngoài phương tiện máy bay và xe hơi để đi lại, Tiệp còn có hệ thống tàu hỏa và xe buýt rẻ va đi tất cả các nơi. Công nghiệp xe hơi trung bình, những người làm ăn khá đều có hệ thống định vị - tìm và báo đường tự động - trong xe hơi. Tuy nhiên các loại xe tải của Tiệp thuộc vào loại lớn nhất và tốt nhất Châu Âu. Tiệp tuy có hàng quán nhưng không nhiều và xô bồ như ở Việt Nam. Dân Tiệp dù nghèo hay giàu đều sống giản dị, ít ăn chơi phóng túng. Một số trái cây và thực phẩm phải nhập từ nước ngoài. Ở đây có loại đậu hủ khuôn trắng trộn lẫn với lê ghim rất ngon. Cũng có những loại rau mùi thơm ngon đặc biệt như rau Magi mà người Hoa dùng để chế biến nước tương Magi. Chủ nhật 20/6/2010 : tại sân vận động làng, các đội viên đội PCCC thực tập chữa cháy rất hào hứng trong tiếng nhạc nền vui nhộn. Ở Tiệp, mỗi thôn làng đều có đội PCCC với đầy đủ xe cộ, dụng cụ thiết bị chữa cháy. Trong làng, những người khỏe mạnh và thanh niên thiếu nữ đều tham gia vào đội này. Đội được huấn luyện kỹ năng PCCC tốt và có những ngày thực tập nhất định trong tháng. Sau cách mạng nhung lụa các viên chức trước đây là Đảng viên đảng Cộng Sản vẫn còn được làm ở các công sở, xí nghiệp... tùy theo đạo đức và khả năng chuyên môn của họ chớ không bị phân biệt đối xử, nhưng mọi quyền lực thuộc độc tài đảng trị thì hoàn toàn bị xóa bỏ và thuộc về sự lãnh đạo của chính phủ dân chủ – tự do! Những nông trường tập thể vẫn được duy trì và thuộc quyền sở hữu của các cổ phần chủ đất tư nhân; lợi tức sau khi thu hoạch được chia cho các tư nhân góp đất nhiều ít tùy theo số đất họ góp vào. Sự chuyển đổi từ chế độ XHCN sang Tự Do Dân Chủ không phải là cứng ngắt xóa bỏ hết những cái hay của chế độ trước mà biết giữ lại những điều tốt trong sự dung thông hài hòa. Đây chính là sự kế thừa và phát huy những hoạt động tập thể tích cực và một nền dân chủ đích thực. Những đất đai nhà cửa của tư sản bị tịch thu hoặc đưa vào nông trường tập thể trước đây nay đã trả lại hết cho chủ củ không phân biệt quốc tịch trong nước hay nước ngoài. Ví dụ như cựu tổng thống cộng hòa séc trước đây là ông VACLAP HAVEL nay đã lấy lại được toàn bộ nhà cửa đất đai của bố ông để lại; hoặc con cháu của nhà vua KAREL ĐỆ TỨ trước đây cũng đòi lại gần hết nhà cửa, đất đai ( hơn 50.000 mẫu tây đất ), thậm chí họ còn đòi lại được một tòa thành trị giá hơn 1 tỷ đô la! Thiên chúa giáo là tôn giaó chính ở Tiệp. Hồi còn chế độ Cộng Sản, Tiệp vẫn có Đảng Thiên Chúa Gíao hoạt động nhưng không được tham gia thành lập chính phủ nhưng nhà nước vẫn tôn trọng nề nếp văn hóa - tín ngưỡng của gia đình và xã hội. Đặc biệt, đạo thiên Chúa vẫn được tôn trọng duy trì và Đảng viên CS vẫn được giữ Đạo gốc của mình - không như ở bên mình vào Đảng là phải vô thần và từ bỏ mọi tôn giáo. Hiện nay, Đạo Thiên Chúa chiếm đa số và là tôn giáo duy nhất ở Tiệp. Sau cuộc cách mạng nhung lụa, 80% tài sản thiên chúa giáo thuộc quyền sở hữu của Vatican được nhà nước trả lại. 20% còn lại do quá lớn - chẳng hạn như dinh thự tổng thống...thì nhà nước và Tòa Thánh Vatican đang thỏa thuận về việc trao trả hay đền bù. ( Sẽ gửi tiếp tư liệu, ký sự, bình luận, hình ảnh… cảm ơn đã nhiệt tình theo dõi! Chúc an vui và nhiều sức khỏe ! ) ------------------------------------------------------------------------------------------------- ( cập nhật ngày 25.6.2010 ) NỀN AN SINH XÃ HỘI TỰ DO - DÂN CHỦ ÂU CHÂU & NHỮNG QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA ĐẢNG CÁNH HỮU TIỆP
TỲ KHEO THÍCH CHƠN LỘC Điều 38 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, liên quan đến việc tổ chức an ninh xã hội cho xứ sở trong một Quốc Gia Cộng Hoà Dân Chủ có các tiểu đoạn trích dẫn sau đây : 1) " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện cần thiết để sống, có quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội". 2 ) "Những ai làm việc đều có quyền được tiền liệu và bảo đảm các phương thế thỏa đáng đối với các nhu cầu của cuộc sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn tật, già nua và bị thất nghiệp làm ngoài ý muốn". 3 ) " Những ai không có khả năng và yếu kém có quyền được giáo dục và hướng dẫn chức nghiệp". 4 ) " Các quyền được tiền liệu trong điều khoản nầy sẽ được các tổ chức và cơ quan được thiết định chăm lo hoặc được chính tổ chức Quốc Gia đứng ra bổ túc". Hệ thống an sinh xã hội ở các nước Nhân Bản và Dân Chủ có mục đích bảo đảm cho " mọi công dân " có quyền được " nuôi sống và trợ cấp xã hội", bảo trợ cho người dân ít nhứt có mức sống tối thiểu, đầy đủ đáp ứng lại nhu cầu của cuộc sống một cách xứng đáng nhân phẩm con người, cho chính cá nhân đương sự liên hệ cũng như cho gia đình. Mức lợi tức tối thiểu được bảo đảm để có thể nuôi sống cả gia đình cho thấy mối liên hệ giữa điều 38, về an sinh xã hội nêu trên và điều 36, liên quan đến mức lương thoả đáng của người làm việc, đã được Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891) của Đức Giáo Hoàng Leo XIII đề cập đến trước đó. " Người làm việc có quyền được thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm và dù sao đi nữa cũng đủ để bảo đảm cho chính mình và gia đình mình một cuộc sống khang trang " ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Hệ thống an sinh xã hội vừa kể, một quốc gia Nhân Bản và Dân Chủ không dựa vào mức đóng góp của thành phần nghề nghiệp liên hệ, mà dựa trên sự liên đới hổ tương (solidarietà) của cả Cộng Đồng Quốc Gia. Hệ thống an sinh xã hội được cả Cộng Đồng Quốc Gia bảo trợ cho " mọi công dân" có quyền được " nuôi sống và trợ cấp" cho cá nhân và gia đình liên hệ , với mức lợi tức tối thiểu ít nhứt đáp ứng lại một cuộc sống xứng đáng. PHẦN I : Những tiền đề cho v/đ an sinh xã hội trong lịch sử Châu Âu : Trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo và ban hành, trong xã hội Ý đã có tổ chức an ninh xã hội dựa vào đạo luậ :.17.3.1898, số 80 về việc thiết lập tổ chức bảo hiểm tai nạn cho thợ thuyền làm việc. Theo đạo luật trên thì các chủ hảng xưởng có trách nhiệm dân sự bắt buộc phải bảo hiễm tai nạn cho công nhân của mình ( Carnelutti Francesco, Criteri di interpretazione della legge sugli infortuni, Athenaeum, Roma, 1913-1914, I, 22ss). Nhưng hệ thống tổ chức bảo hiểm tai nạn như vừa kể, cho đến khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo và ban hành, vẫn còn tùy thuộc thể thức và quy chế của các bảo hiểm tư nhân. So với Ý, Đức Quốc dưới thời Bismarck, trước thế chiến I ( 1914-1919) đã có hệ thống tổ chức an ninh xã hội hoàn bị gần như hiện nay (Curcio, Idee e discussioni intorno alla previdenza nel Risorgimento e dopo, in Prev. Soc., 1961, 1130). Các biến cố chiến tranh và nhu cầu cần có sự đồng thuận của mọi thành phần dân chúng đang chung sức nhau trong chiến tranh, đưa đến cho Quốc Gia tư tưởng cần loại bỏ quan niệm mỗi người phải cán đáng tự lo lấy tương lai cho chính mình.Và đó là những yếu tố tiên khởi nền tảng cho việc hình thành một hệ thống tiền liệu xã hội ( previdenza sociale) ( Zampetti, La legislazione sociale in Italia dall'inizio del secolo alla vigilia della prima guerra mondiale, in Prev. Soc. agr., 1959, 1960,1961). Nhưng biến cố chiến tranh và nhu cầu cần " đoàn kết dân tộc" đã gợi lên những tư tưởng manh nha về hệ thống tổ chức an sinh xã hội, chớ không phải cung cấp khuôn mẫu " tiền chế sẵn" cho những ai quan tâm đến cuộc sống xã hội. Những nhu cầu " đoàn kết dân tộc" và lo nghĩ đến cuộc sống tương lai đã khiến cho dân chúng Ý lúc đó thấy cần có sự can thiệp của Chính Quyền vào kinh tế, để điều chỉnh lại mức lương quá thấp khiến cho công nhân có cuộc sống cùn cực vào thời kỹ nghệ mới phát triển, mà chính Đức Giáo Hoàng Leo XIII cũng phải lên tiếng với Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891). Tuy nhiên tư tưởng của dân chúng lúc đó vẫn chưa thoát khỏi khuôn mẫu tổ chức bảo hiểm riêng tư cho lãnh vực phe nhóm liên hệ, chưa phải là hệ thống tiền liệu xã hội phổ quát cho mọi người. Việc bảo hiểm tai nạn, rủi ro lúc làm việc là riêng tư giữa giới chủ nhân và công nhân, để tiên liệu những bất hạnh trong lãnh vực hảng xưởng của họ: " Sự tiền liệu tai nạn rủi ro là một hình thức cao cả của việc áp dụng nguyên tắc cộng tác. Chủ nhân và công nhân phải cộng tác nhau theo tỷ lệ cho việc tiền liệu trên. Quốc Gia, qua tổ chức nghề nghiệp và các hiệp hội chuyên nghiệp, có bổn phận phối hợp và liên kết, trong giới mức có thể, hệ thống các tổ chức tiền liệu xã hội" ( Carte del Lavoro, disp. XXVI) ( Barassi, Il sistema delle assicurazioni sociali nell'ordinamento sindacale e corporativo, in Ass. Soc., 1938, 509). Câu nói trên cho thấy "phương thức tổ chức đề phòng tai nạn rủi ro trong lúc làm việc" dựa trên việc quản trị tài chánh thu góp được do hai giới liên hệ cung cấp, giới chủ nhân và thợ thuyền, và cung ứng lại theo tỷ lệ sít sao với số tiền đóng góp. Nói cách khác, cho đến thời gian vừa kể, thời kỳ trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo, vấn đề tiền liệu xã hội( previdenza soaciale) và trợ cấp xã hội ( assistenza xã hội ) chỉ giới hạn trong giới nghề nghiệp liên hệ và trợ cấp theo tỷ lệ cao thấp số tiền mà đương sự đã cung cấp trong thời gian trước đó. Và cũng vì có tính cách giới hạn trong giới nghề nghiệp, nên chỉ có những lãnh vực nghề nghiệp nào nguy hiểm mới bị bắt buộc " trả thuế cộng tác xã hội " ( contributo sociale ) để được bảo hiểm. Và vì đó, vấn đề an sinh xã hội cho từng lãnh vực nghề nghiệp có hình thức là phương thức bảo hiểm tư riêng, mặc dầu có luật lao động bắt buộc ( Gueli, Analisi giuridica delle assicurazioni sociali, in Saggi in Scienze Assicurative, III, 75). Phần còn lại, những thành phần dân chúng gặp khó khăn về kinh tế, Quốc Gia bổ túc bằng cách can thiệp dưới hình thức trợ cấp xã hội nhưng là những trợ cấp tùy theo việc xét đoán của các cơ quan công quyền có nhiệm vụ được giao phó, trợ cấp với chủ ý dùng trợ cấp xã hội để đạt được mục tiêu chính trị, " đoàn kết dân tộc", như trên chúng ta có dịp đề cập (Mazziotti si Celso Fabio, in Enc. del Dir., voce Assistenza, profili costituzionali, 749). Trước tình trạng còn phôi thai về quan niệm an sinh xã hội như vừa kể, chúng ta phải nhìn nhận rằng lý tưởng một nền an sinh xã hội dựa trên tinh thần liên đới của và cho cả cộng đồng dân tộc cùng chung sống trong lòng Quốc Gia là một lý tưởng cao cả và mới mẻ. Cả cộng đồng Quốc Gia cùng liên đới bảo trợ cho mỗi cá nhân có được cuộc sống an sinh, xứng đáng với nhân phẩm con người là lý tưởng được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc rút ra từ một trong những điều khoản nền tảng căn bản của Hiến Pháp: " Bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội. Đó là những chướng ngại giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của cá nhân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tư tưởng về an sinh xã hội đã thực hiện được nhiều điều khá quan trọng trong thời kỳ New Deal của Tổng Thống Roosvelt. Tư tưởng trên cũng đã được ghi vào Hiến Chương Bắc Đại Tây Dương để tổ chức một thế giới tự do trong tương lai ( Pigou Artur Cecil, Economia Generale, Utet, Torino, 1953). Tư tưởng an sinh xã hội được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đặt liên hệ với một phương thức quan niệm mới mẻ về tự do và các quyền căn bản của con người. Con người muốn được hưởng tự do và các quyền căn bản của mình một cách thiết thực, cần phải đạt được những khả năng kinh tế và xã hội : "dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn tự do và bình đẳng của cá nhân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào lảnh vực chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn , cit.) Tư tuởng con người cần có được khả năng kinh tế và địa vị xã hội để được hưởng trọn vẹn các quyền tự do bất khả xâm phạm của mình làm giao động xã hội Ý lúc đó, - không những vì lý tưởng cao đẹp của quan niệm, - mà còn để đối ngược lại quan niệm hạn hẹp bảo hiểm trong lãnh vực hạn hẹp của nghề nghiệp - và loại bỏ những ai còn lại trong Cộng Đồng quốc Gia ra bên lề. Còn nữa, ngay cả tổ chức có tính cách riêng tư cũng không đủ khả năng đáp ứng lại nhu cầu của các giới liên hệ, do tình trạng kinh tế và tài chánh suy thoái của thời gian sau thế chiến II ( Pastore, Un problema urgente: la riforma della previdenza sociale, in Prev. Soc., 1945, 2). Như vậy, sau thế chiến II, quan niệm an ninh xã hội thời kỳ New Deal của Tổng Thống Roosvelt và của Hiến Chương Bắc Đại Tây Dương không những trở nên hấp dẫn vì lý tưởng cao cả, mà còn gặp được thiên thời, địa lợi ( kinh tế tài chánh suy thoái không đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm nghề nghiệp và người dân hoang mang) khiến cho người dân có cuộc sống bấp bênh. Biết như vậy, chúng ta hiểu được tại sao vấn đề an sinh xã hội được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nâng lên hàng quốc sách với tư tuởng của điều 3, đoạn 2 vừa kể. Ngay cả trước khi Hiến Pháp được ban hành, Chính Quyền lúc đó đã giao phó cho một ủy ban nghiên cứu vấn đề, Ủy Ban Thượng Nghị Sĩ D'Aragona. Ủy Ban D'Aragona không tạo ra được những đạo luật để áp dụng tiếp đến cho an sinh xã hội, vì thời gian Chính Quyền còn quá ít trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được ban hành và kế đó Chính Quyền mới được thành lập, Thượng Nghị Sĩ d'Aragona không còn được tái cử để tiếp tục công việc. Nhưng điều quan trọng là Ủy Ban dùng lần đầu tiên danh từ " an sinh xã hội" ( sicurezza sociale) và đưa ra định hướng phải đi cho tương lai: " nới rộng những phương thức "an sinh xã hội ( sicurezza sociale) , với mục đích bảo đảm mức lợi tức tối thiểu và bảo vệ sức khỏe đầy đủ cho tất cả những ai cần được bảo vệ " (Ministero del Lavoro e della Previdenza Sociale, Relazione della Commissione per la Riforma della Previdenza Sociale, Roma, 1949, 2). Phúc trình vừa kể của Ủy Ban d'Aragona đua ra định hướng mới, thay thế cho mối liên đới hạn hẹp trong lãnh vực nghề nghiệp, cần thiết lập tình liên đới phổ quát bảo vệ giá trị mà đáng lý phải được gán cho con người, trước khi gán cho người công nhân: " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay như thành phần xã hội nơi mỗi người phát triển nhân cách của mình và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Kế đến cũng do tình thế và để đáp ứng lại các nhu cầu thiết thực sau chiến tranh, những động tác can thiệp của Quốc Gia vào môi trường xã hội như đã nói, tạo nên tổ chức hệ thống an sinh xã hội bắt đầu tách dần khỏi hệ thống bảo hiểm riêng tư nghề nghiệp. Một bước tiến khác được thực hiện, đó là với nghị định D.L. 2.4.1946, n. 142, Chính Quyền quyết định từ nay việc trả " thuế cộng tác xã hội " hay " cộng tác xã hội " ( contributo sociale ) , phần tốn kém để trang trải bảo hiểm tai nạn rủi ro, hoàn toàn được quy trách cho giới chủ nhân. Trong tâm thức vừa kể, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ngồi lại với nhau để viết ra điều 38 chúng ta đang bàn và điều 3, đoạn 2 , nền tảng nhân bản và an sinh xã hội của Hiến Pháp ( Guarini, La previdenza nella Costituzione Italiana e nelle altre Costituzioni, in Riv. Inf. Mal. Prof., 1952, 15). Chúng ta có thể tự hỏi " những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, trong khi ngăn cản thực sự tự do và bình đẳng của cá nhân"( Điều 3, đoạn 2, cit.) là những chướng ngại vật nào? Đó là những chướng ngại do tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua và thất nghiệp đem đến. Chính những chướng ngại vật đó - " không cho mỗi cá nhân phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ( Persiani Mattia, Sicurezza sociale e persona umana, Problemi Sicurezza Sociale, Cedam , Padova, 1970, 609). Những gì chúng ta vừa đề cập đưa đến một kết luận quan trọng: thiết lập hệ thống tiền liệu xã hội ( previdenza sociale) - không còn chỉ cần thiết để bảo vệ người làm việc trong lúc làm việc và trong đời sống của mình, - mà là cần thiết để đáp ứng lại lợi ích của cả cộng đồng được tổ chức trong lòng Quốc Gia. Từ đó chúng hiểu tại sao sự cần thiết phải thiết lập hệ thống an sinh xã hội và tại sao Hiến Pháp quy trách cho tổ chức Quốc Gia phải cán đáng tổ chức, như là một trong những bổn phận đứng hàng đầu phải chu toàn: - " Bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội..." ( Điều 3, đoạn 2, cit.). Cũng vậy, điều 38 đang bàn cũng liên hệ đến điều 32 của Hiến Pháp, liên quan đến việc bảo vệ sức khoẻ. Con người được khoẻ mạnh không phải chỉ là quyền bất khả xâm phạm của cá nhân, mà còn là lợi ích của cộng đồng xã hội: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, và bảo đảm việc chữa trị miển phí cho những ai yếu kém " (Điều 32, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Bởi lẽ con người được khoẻ mạnh không những chỉ là một trong những điều kiện để - " triển nở hoàn hảo con người của mình ", mà còn là lợi ích của cả Cộng Đồng Quốc Gia, tham gia hoạt động để tạo thinh vượng phú cường cho cả Cộng Đồng, đó là chưa nói đến bệnh hoạn do nghèo khổ không đủ ăn, môi trường dơ bẩn mất vệ sinh, sẽ là cho công qủy y tế phải tốn kém để chữa trị: - "và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). A - Từ lý tưởng đến xác định hướng đi. Đọc đoạn 1 của điều khoản đang bàn ( điều 38), nói về - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện sống..." đều được trợ cấp xã hội, và đoạn 2 bàn về " Người làm việc có quyền được tiền liệu và bảo đảm để đáp ứng lại thoả đáng các nhu cầu của cuộc sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua và thất nghiệp..." người ta có cảm tưởng rằng Quốc Gia phân biệt dân chúng thành hai hạng người: hạng làm việc và không làm việc. Và rồi phương cách đối xử với hai hạng công dân cũng khác nhau. a ) Trước hết từ ngữ " người làm việc " ( lavoratori ) được đề cập đến ở đoạn 2, căn cứ trên hệ thống bảo hiểm tai nạn rủi ro cho giới thợ thuyền được thực hiện, trước thời gian Hiến Pháp 1947 được tuyên bố, làm cho người đọc có cảm tưởng là hệ thống an sinh xã hội được Hiến Pháp đề cập chỉ nhằm bảo vệ giới thợ thuyền, " người làm việc " thuộc hạ trong hảng xưởng. Quan niệm trên không có lý chứng. Bởi lẽ ngay ở đoạn 1 của điều 38 đang bàn, Hiến Pháp đứng ra bảo đảm cho " mọi công dân ": - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống, có quyền được nuôi sống và được trợ cấp xã hội ". Người công dân đó, " mọi công dân", là nhân công, người làm việc thuộc hạ trong hảng xưởng, hay người làm việc tự lập ( lavoratore autonomo), tiểu công nghệ, thương gia hay người hành nghề tự do ( luật sư, bác sĩ, ngành chứng khoán tài trợ xí nghiệp) cũng vậy. Kế đến quan niệm hạn hẹp trên không có lý chứng, bởi lẽ trong bài viết về ( cfr QUYỀN LÀM VIỆC ) , bình luận điều 35 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta đã có dịp xác định danh từ "làm việc" theo định nghĩa của Hiến Pháp đang bàn, là mọi hoạt động " có lợi ích xã hội ", việc làm của công nhân thuộc hệ trong hảng xưởng, xí nghiệp, nghề tự lập, nghề tự do cũng vậy: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ việc làm dưới mọi hình thức và mọi áp dụng" (Điều 35, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). b) So sánh hai điều khoản đầu tiên của điều 38 đang bàn, chúng ta không thấy Hiến Pháp nêu ra bổn phận khác biệt của Quốc Gia đối với " mọi công dân" và " người làm việc ", cá nhân hay đoàn thể cũng vậy. Bởi lẽ " người làm việc", trước khi bắt đầu hoạt động để " làm việc " thuộc hệ hay tự lập cũng đã là người công dân như " mọi công dân" khác. Như vậy, " mọi công dân", bất cứ người công dân nào, làm việc hay không cũng vậy, đều được điều 38 Hiến Pháp 1947 bảo đảm cho có quyền, ( và dĩ nhiên hàm chứa phía bên kia, bên tổ chức Quốc Gia bị quy trách có bổn phận phải thực hiện) , quyền của người dân được tự do khỏi bị các nhu cầu vật chất ràng buộc ( Persiani Mattia, Considerazioni sulle motivazioni ideologiche dall'assistenza e della previdenza sociale e sulla loro dovuta all'idea della sicurezza sociale, in Riv. Inf. Mal. Prof., 1973, 419). Tuy nhiên đọc hai đoạn 1 và 2 của điều 38, chúng ta thấy Hiến Pháp nêu lên: a ) " quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội " đối với " mọi công dân" ( đoạn 1) b ) và " những phương tiện thoả đáng đáp ứng lại các nhu cầu cuộc sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tàn tật, già nua, bị thất nghiệp ngoài ý muốn " đối với " những người làm việc" ( đoạn 2) cho thấy đối tượng của việc bảo vệ an sinh xã hội có khác nhau. Dựa trên hai đoạn 1 và 2 của điều 38 vừa kể, chúng ta thấy rằng quyền của những " người làm việc" , tức là những người đã cộng tác để góp phận đem lại thịnh vượng nâng cao mức sống của cộng đồng xã hội, được Hiến Pháp trọng đải hơn đối với những công dân nói cách tổng quát. B - Những điều đã được thực hiện ở nước Ý : Qua những tư tưởng căn bản vừa kể của một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, trên thực tế Ý Quốc đã thực hiện được nền an sinh xã hội của họ như sau : a) Đối với lãnh vực bảo vệ sức khoẻ, nền y tế ở Ý đã có một cuộc cách mạng hoàn toàn so với hệ thống bảo hiểm riêng tư về tai nạn, rủi ro, tàn tật dành cho lãnh vực nghề nghiệp công nhân và chủ hảng của thời Hiến Pháp 1947 chưa ban hành, mà chúng ta đã có dịp đề cập ở phần đầu. Nền y tế ở Ý Quốc hiện nay được tổ chức hoàn toàn dựa trên tinh thần của điều 32: - " Nền Cộng Hoà Dân Chủ bảo vệ sức khỏe như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, bảo đảm chữa trị miển phí cho những ai không có phương tiện" (Điều 32, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quốc Gia đứng ra bảo vệ sức khoẻ cho tất cả mọi công dân không phân biệt. Nền y tế không còn được coi là tổ chức chỉ để chữa bệnh cho bệnh nhân, mà là cơ quan để bảo vệ sức khoẻ cho người dân gồm trị liệu, phục hồi khả năng và đề phòng bệnh tật. Nền y tế cung cấp phục vụ bằng hệ thống y tế Quốc Gia, tổ chức theo Vùng và phân chia đến từng địa phương Tỉnh, làng xã thôn ấp, được Quốc Gia hoàn toàn tài trợ. Điều đó cho thấy tổ chức y tế đã vượt khỏi quan niệm hệ thống bảo hiểm bệnh tật và rủi ro của lãnh vực nghề nghiệp riêng tư, và đặt nền tảng trên tính cách liên đới hỗ tương của cả Cộng Đồng Quốc Gia ( Berlinguer, Dalla tutela di malattia alla tutela della salute, Riv. it. sic. soc., 1970, 3ss). b) Đối với lãnh vực tai nạn và bệnh tật do nghề nghiệp, tổ chức an sinh xã hội Ý chưa có được nền luật pháp thoả đáng. Mặc dầu lãnh vực bảo đảm tai nạn và bệnh tật do nghề nghiệp đã được nới rộng cho công nhân các ngành nghề và cả giới làm việc tự lập cũng như nghề tự do, hệ thống bảo đảm vẫn còn theo tinh thần của dành riêng cho những nghề nghiệp trong những lãnh vực và môi trường nguy hiểm. Và từ đó, những ai không can dự trực tiếp vào nghề nghiệp trong những lãnh vực vừa kể có thể bị tai nạn hoặc bệnh tật sẽ không được bảo đảm, vì chưa được luật pháp đề cập tới. Dĩ nhiên sức khoẻ được chữa trị cho đến hồi phục, nhưng các phương tiện để đi đứng, trông thấy, chỉnh hình, luyện tâp thân thể... sẽ phải do người đương cuộc đài thọ. Nói như vậy không có nghĩa là mọi gánh nặng đều đổ lên vai họ, mà là được Quốc Gia phụ giúp tùy theo mức lợi tức hàng năm họ tìm ra được. Người có lợi tức nhiều, sẽ được Quốc Gia trợ giúp chi phí cho bệnh tật, tai nạn, già nua ít hơn, và ngược lại, theo tiến trình lủy tiến ngược chiều của mức lợi tức của mỗi người. c) Tàn tật, già nua, sống sót, bệnh lao phổi và thất nghiệp cũng đã được hệ thống bảo đảm an sinh xã hội như trường hợp bệnh hoạn. Giới người già và người bị bệnh lao được bảo đảm cho tất cả mọi người. Người dân trên 65 tuổi và những ai nghèo khổ đều được Quốc Gia hoàn toàn tài trợ. Người bị bệnh lao được phụ cấp mỗi ngày trong thời gian điều dưỡng và liên tiếp một năm kế tiếp cũng được đài thọ và được các tổ hợp lao phổi chữa trị ( Rossi Francesco Paolo, La tutela contro la tubercolosi: le prestazioni economiche, in Trattato di Previdenza Sociale, Cedam, Padova, 1977, III, 537). d) Lương hưu bổng tối thiểu, phụ cấp xã hội, do Quỷ Xã Hội hoàn toàn đài thọ, được Cơ Quan Quốc Gia Tiền Liệu Xã Hội ( INPS, Istituto Nazionale di Previdenza Sociale) đảm trách, dựa theo luật L. 21.7.1965 n. 903. Cơ Quan Quốc Gia Tiền Liệu Xã Hội thu tóm ngân qủy bằng vừa bằng hình thức góp tiền của những ai làm việc cung cấp, vừa dựa vào tinh thần liên đới hỗ tương của toàn thể Cộng Đồng Quốc Gia. Dưới hai hình thức vừa kể, những đóng góp của những ai đang làm việc hôm nay được dùng tài trợ cho những ai đã làm việc trong quá khứ. e) Cũng dưới hình thức trên, nền y tế Quốc Gia được tài trợ để chữa trị người già cả. Người già cả là những người đã làm việc trong quá khứ, được chữa trị bằng một phần lợi tức của các xí nghiệp sản xuất hôm nay. f) Những ai làm việc tự lập hay làm nghề tự do được bảo đảm an sinh xã hội - một phần do họ tích lũy đóng góp, được tính theo thể thức lủy tiến, tùy theo lợi tức họ thâu nhận được. - một phần do Cộng Đồng Quốc Gia đài thọ, theo định chế lủy tiến ngược chiều đối với mức lợi tức thu nhận được như đã nói. g) Đối với các công nhân làm việc thuộc hệ trong hảng xưởng, lương bổng về hưu của họ được trả bằng mức lương sau cùng trước khi về hưu đã bị trích giữ ( art. 5, comma 1 e 6 D.P.R. 27.4.1968, n. 488: Persani Mattia, Osservazione sul cumulo di pensioni e di retribuzione, Enpas 1972, 7ss). h) Và sau cùng là mọi tài trợ lương bổng về hưu đều được định lượng lại từng chu kỳ, tùy theo thời giá sinh hoạt đắc đỏ do Cơ Quan Thống Kê ( Istat) tính toán. Thường thì số lượng gia tăng lương về hưu được tính theo phần trăm dựa trên số lương trung bình của công nhân kỹ nghệ ( art. 8 e ss, L. 3.6.1975, n. 160). Những dữ kiện biến đổi hệ thống an sinh xã hội Ý Quốc vừa duyệt xét cho chúng ta thấy nỗ lực thực hiện định hướng của Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ được soạn thảo năm 1947. Trên 50 năm nay, hệ thống anh sinh xã hội được biến đổi, canh tân để thực hiện càng hoàn hảo càng tốt sát với tinh thần của điều 38 đang bàn. Mặc cho mọi nỗ lực, thiện ý cũng như tinh thần liên đới hổ tương và nhân bản cao độ, nền an sinh xã hội Ý Quốc vẫn chưa hoàn hảo. Bởi lẽ mọi cải cách đều bị mức thăng bằng luôn luôn thay đổi của các lực lượng thành phần của xã hội ảnh hưởng và các hoàn cảnh kinh tế đặt điều kiện. Dù sao, những gì Quốc Gia Ý đã thực hiện được cho người dân của họ và nhứt là tinh thần Nhân Bản của Hiến Pháp 1947 thể hiện qua các định hướng liên đới hỗ tương là bài học qúy báu cho những ai có tâm quyết muốn đem lại Nhân Bản và Dân Chủ cho đồng bào Việt Nam . PHẦN II : An sinh xã hội Nhân Bản và Dân chủ khác với an bài theo kiểu "san bằng mạc rệp" của Xã Hội Chủ Nghĩa. a./ An sinh xã hội tự do - dân chủ không dựa trên "ý thức hệ không tưởng" : Nền an sinh xã hội của một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ không có mục đích nâng cao mức sống của mọi người, bằng cách " san bằng mạc rệp" tất cả xuống mức sống bần cùng của " bần cố nông vô sản" của Cộng Sản. Nhưng trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, một người chưa bao giờ làm việc trong cả cuộc đời hay một người chỉ làm việc ở địa vị một công dân hạng bét trong hảng xưởng, không thể nào kỳ vọng ở hệ thống an sinh xã hội Quốc Gia cung cấp cho mình lợi tức để có mức sống của chủ hảng, bác sĩ, kỹ sư, giám đốc ngân hàng, thương gia thành đạt trên thị trường. Một hệ thống an sinh xã hội dựa trên ý thức hệ không tưởng như vừa kể là hệ thống dựa trên nền kinh tế phá sản. Bởi lẽ không có lợi nhuận tương xứng để kích thích, sẽ không có cố gắng học hỏi, ra công nghiên cứu, suy nghĩ , sáng kiến đòi hỏi nhiều hy sinh và nghị lực. Và nền kinh tế không có sáng kiến và gắng sức để đổi mới, đáp ứng thoả đáng nhu cầu của người tiêu thụ, là nền kinh tế phá sản trong trứng nước, do thái độ làm việc tắc trách. Hệ thống kinh tế tư bản ở thế thượng phong và thành đạt thịnh vượng ngay trong quan niệm, hơn kinh tế chỉ huy của Cộng Sản thoái bộ và sạt nghiệp ở Liên Bang Sô Viết và Đông Âu, được biểu thị ngay trong tên gọi của hệ thống kinh tế. "Tư Bản " không có nghĩa chỉ là "của cải, tiền tài, dụng cụ, cơ sở, đất đai", như tầm hiểu biết thiếu sót của Karl Marx. "Kinh tế tư bản " trong ngôn ngữ chúng ta đồng nghĩa với " Capitalisme, Capitalismo, Capitalism" trong các ngôn ngữ Tây Âu. Danh từ Capitalism phát xuất từ nguyên ngữ La Tinh " Caput ": cái đầu. Trong con người khi nói đến " cái đầu ", đầu óc, là nói đến trí thông minh, tìm tòi, hiểu biết, sáng kiến. Nền kinh tế tư bản phát triển thịnh vượng là vì có lợi nhuận, kích thích con người cầu tiến, học hỏi, sáng kiến hay"số vốn nhân thức"( human capital ) được nâng cao do cố gắng hy sinh, học hỏi, chuyên cần. Càng có sáng kiến, chế ra sản phẩm mới để thích hợp đáp ứng lại nhu cầu của người tiêu thụ hơn, tìm cách sản xuất nhanh hơn, nhiều hơn, rẻ hơn, càng bán được nhiều hơn, thu lợi tức nhiều hơn và được trả lương cao hơn. Nói cách khác, một nền kinh tế phát triển thịnh vượng là nền kinh tế đáp ứng lại được các câu hỏi một cách thoả đáng và hiệu năng: Sản xuất sản phẩm gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất bao nhiêu? Sản xuất bằng cách nào? Bao giờ sản xuất? Chủ thể con người với " số vốn nhân thức " ( human capital ) luôn luôn giữ vai chính để đáp ứng lại các câu hỏi đó một cách thoả đáng, chớ không phải là tài nguyên vật chất, mà là khối óc biết nhìn xa thấy rộng, sắp đặt, phối hợp, định lượng, quyết định thời điểm, phân phối đến người tiêu thụ và tính toán lợi lộc hay thua lỗ ". Thửa ruộng, mãnh đất, con bò, quặng mỏ, máy móc, cơ xưởng và cả khối bạc nằm trong ngân hàng, tự chúng không thể suy nghĩ để quyết định trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi trên. Chỉ có khối óc của con người " Caput, human capital " mới là "Chủ Thể " đóng vai chính điều khiển kinh tế. Không ra công tìm tòi, học hỏi, sáng kiến, kinh tế đời nọ sang đời kia chỉ là kinh tế " chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa". Và không có lợi nhuận kích thích, không ai ra công học hỏi, nghiên cứu, sáng kiến. Mọi người đều lãnh lương " bần cố nông vô sản" như nhau là quan niệm không tưởng của nền kinh tế phá sản, nếu không muốn nói là xuẩn động. b./ Bình đẳng là sự công bình : Nền an sinh xã hội cung cấp lợi tức bằng nhau cho " mọi công dân " là quan niệm không thể có trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ lấy nguyên tắc bình đẳng làm nền tảng. Mọi người đều là " bần cố nông vô sản" như nhau, là lối suy nghĩ không tưởng và xuẩn động, nhân danh nguyên tắc bình đẳng để áp dụng, biến kinh tế thành phá sản và mọi người đều bần cùn mạc rệp như nhau. Người ta có cảm tưởng rằng những ai theo chủ thuyết Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ biết có một loại bình đẳng duy nhứt trên trần gian: bình đẳng toán học. Bình đẳng toán học được định nghĩa là loại bình đẳng trong đó " cùng một thứ đối tượng cho tất cả mọi người ". Trong khi đó thì Bình đẳng theo tỷ lệ là bình đẳng trong đó " cùng một thứ đối tượng cho tất cả những ai ngang nhau ". Và dĩ nhiên các đối tượng không đồng nhau cho những người không bằng nhau. Aristotes xác định rỏ hơn: " Những người không bằng nhau được đãi ngộ tùy theo sự khác biệt của họ" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, V vol.) Như vậy, muốn có Bình Đẳng phải có Công Bình. Và cũng chính Aristotes diễn tả mối tương quan: " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, 113 a ). Bình đẳng được áp dụng chính đáng phải dựa trên nền tảng luân lý " Công Bằng". Và người La Tinh từ ngàn xưa đã định nghĩa "Công Bằng " là: " Suum cuique tribuere" ( trao trả cho mỗi người điều gì thuộc về anh ta), đã được ghi trong Bộ Luật Roma. Dựa trên nguyên tắc bình đẳng, " bình đẳng toán học " để sang bằng mọi người trong xã hội xuống cấp ngang nhau thành " bần cố nông vô sản" như nhau, là cách hành xử vừa không tưởng, vừa phạm nguyên tắc " Công Bằng". Không tưởng, vì không có lợi nhuận sẽ không có yếu tố thúc đẩy khuyến khích để cố gắng, hy sinh học hỏi, nghiên cứu, sáng kiến và kinh tế sẽ dẫm chân trong tình trạng bán khai, chậm tiến đi đến phá sản, như đã nói. " Không Công Bằng", những người có tài năng, cố gắng hy sinh, chịu khó nghiên cứu nhiều năm ở đại học như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, kinh tế gia, các nhà đầu tư có kinh nghiệm, bị đối xử ngang hàng với những ai tầm thường, có thể không biết đọc biết viết: ngược lại với nguyên tắc " Suum cuique tribuere". Nói tóm lại, trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, "mọi công dân" đều có quyền "được nuôi sống và trợ cấp xã hội ", cả cá nhân người đương cuộc và gia đình liên hệ, và được " tiền liệu các phương thế thoả đáng đối với các nhu cầu của cuộc sống, trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua, bị thất nghiệp ngoài ý muốn ". Nhưng không phải bất cứ ai cũng được quyền kỳ vọng ở tổ chức Quốc Gia có được lợi tức để có mức sống ngang hàng với những người đã hy sinh học hỏi, nghiên cứu, sáng kiến hay lao tác vất vã , để tạo được mức sống khang trang hơn cho Cộng Đồng Quốc Gia. Muốn có mức sống ngang hàng với họ, mỗi người phải cố gắng, hy sinh chuyên cần, học hỏi, nghiên cứu, mở rộng kiến thức của mình để góp phần vào việc xây dựng phú cường và thịnh vượng cho cộng đồng. Và do đó Cộng Đồng Quốc Gia có nhiệm vụ đãi ngộ tương xứng với khả năng góp sức của mình: " Mỗi người làm việc có quyền được thù lao tương xứng với lượng số và phẩm chất của việc làm của mình" ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947). Trong nỗ lực đó của mỗi cá nhân, Quốc Gia có nhiệm vụ trợ lực bằng cách - cung cấp phương tiện thích hợp cho mỗi người khỏi phải túng bấn về nhu cầu vật chất để họ được "phát triển hoàn hảo con người của mình " (Điều 3, đoạn 2, id.), - cung cấp nền học vấn cho mọi người , để bất cứ ai cũng có cơ hội khởi hành tạo khả năng và địa vị cho chính mình ( Điều 34, đoạn 1 id.): * " Nền học vấn được giảng dạy miễn phí và bắt buộc trong vòng 12 năm ". - cung cấp phương tiện thực hữu cho những ai chuyên cần học hỏi nhưng thiếu thốn phương tiện tài chánh: * " Những người có khả năng và những ai đáng được tưởng thưởng, dẫu thiếu phương tiện cũng có quyền được giáo dục đến những cấp bực cao nhứt của nền học vấn. Quốc Gia biến quyền được giáo dục nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và những phương thế tiền liệu khác, được cấp phát bằng các cuộc thi tuyển" ( Điều 34, đoạn 3 và 4, id.). - cung cấp điều kiện thích nghi để bất cứ ai cũng có quyền được đào tạo và thăng tiến chức nghiệp trên bực thang xã hội: * " Nền Cộng Hoà chăm lo việc huấn luyện và thăng tiến chức nghiệp của người làm việc" ( Điều 35, đoạn 2, id.). - và ngay cả những người bị tàn tật, khiếm khuyết , Quốc Gia cũng có bổn phận đào tạo, huấn nghệ cho họ: *" Những ai không có khả năng và những người khiếm khuyết, cũng có quyền được giáo dục và hướng dẫn chức nghiệp" ( Điều 38, đoạn 3, id.). Nói tóm lại, trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, không một người dân nào bị bỏ rơi, sống lê lết đầu đường xó chợ, rách rưới lang thang. - Quốc Gia có bổn phận " nuôi sống và trợ cấp xã hội " ( Điều 38, đoạn 1, id.) cho cá nhân và gia đình có được một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người, - cũng như tạo điều kiện thuận lợi để mỗi người dân - " phát triển hoàn hảo con người của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). Do đó, một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ không thể nào nhân danh nguyên tắc bình đẳng để đãi ngộ bất công đối với những ai hy sinh, chuyên cần, nỗ lực học hỏi, nghiên cứu, sáng kiến và làm việc vất vã ngang hàng đối với những ai chưa hề biết hy sinh chịu khó hay không muốn hy sinh chịu khó để cầu tiến, tạo lợi ích và giá trị cho chính mình và cho Cộng Đồng Quốc Gia. PHẦN III : Từ chủ trương tài chánh trù liệu cho an sinh xã hội ở các nước lớn Châu Âu trong năm 2010 cho đến những quyết định sáng suốt tạo nên thắng lợi của Đảng cánh hữu Tiệp : a./ Những ngày tháng 6 sôi động : Vấn đề CHI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC đã trở thành sôi động ở Pháp sau khi thấy gương nước Đức, mặc dù có thặng số mậu-dịch, đã tìm đủ mọi cắt xén trong lãnh vực công chi để nhằm thăng bằng ngân sách. Đã có những 'đụng chạm' nhỏ giữa Pháp và Đức về vấn đề trợ giúp cho các quốc gia bị khiếm khuyết tài chánh nặng nề như Hi Lạp, Bồ Đào Nha và cả Tây Ban Nha. Giờ thì Pháp cũng đi theo con đường của bà Merkel ! N Ngày chủ nhật 13/06, Tổng Trưởng Ngân Sách của Pháp, ông Françoic Baroin, đã nói đến mục tiêu của chánh-phủ là đạt đến tiêu chuẩn khiếm ngạch 3% của sản-lượng nôi-địa thuần tịnh (PIB) từ nay cho đến 2013. Chánh phủ sẽ có những nỗ lực lớn trên tất cả các nguồn chi tiêu và nhấn mạnh là "những nỗ lực này sẽ không kém quan-trọng" so với nước Đức! Thủ tướng Fillon, vào ngày thứ bảy 12/06 nói là chánh-phủ sẽ làm giảm thâm thủng 100 tỉ euros từ nay đến 2013 để đưa số thâm thủng xuống còn 3% sản lương nội địa thuần tịnh,trong đó có việc giảm thiểu công chi 45 tỉ euros. Ông Baroin đã cho biết một số chi tiết về việc giảm thiểu khiếm ngạch ngân sách như việc áp dụng chặt chẽ các chi tiêu về y tế, chánh sách chỉ thay thế một trong số hai công-chức hồi hưu, việc giảm thiểu chi phí của nhà nước 10%,giảm 10% các chi phí về can-thiệp nhất là trợ cấp xã hội. Ngoài ra cũng còn việc tăng tuổi hồi hưu và tăng thời gian đóng góp cho quỹ hưu bổng! Theo một nguồn tin của Reuters , tổng trưởng Lao-Động Eric Woerth có ý định "rút hết tiền của quỹ dự trữ hưu bổng (FRR= Fonds de Réserves des Retraites) và các công-chức cũng sẽ đóng góp thêm cho bằng với khu vực tư. Quỹ Dự Trữ Hưu Bổng được thành lập năm 1999 với mục đích tái tạo sự trường cửu của hệ thống hưu bổng bằng sự chia xẻ giữa các người làm việc trong khu vực tư và được bắt đầu hoạt động năm 2004. Các khoản tiền thu được sẽ được làm sinh lợi trong vòng hai mươi năm trước khi được hoàn trả lại cho chế độ thụ hưởng. Hiện Quỹ này có một tích sản lên đến 34,5 tỉ euros trong khi theo dự kiến,quỹ sẽ phải đạt đến 150 tỉ vào năm 2020. Nhưng, khi thấy Quỹ có sẵn tiền, ông tổng trưởng Lao Động muốn "hút sạch" với lý luận được trình bày trên Europe1 vào sáng thứ tư rằng " Quỹ Dự Trữ Hưu Bổng sẽ phải dùng đến lúc này hay lúc khác vì cũng như quý vị có một chương mục ngân hàng nhiều tiền và trên một chương mục ngân hàng khác có một thiếu hụt lớn" nhưng ông không nói rõ số tiền dự định dùng tới lên đến bao nhiêu! Điều dự tính của ông Eric Woerth đã bị chỉ trích nặng nề như ông Jean-Marc Ayrault coi đó là "cưỡng đoạt các thế hệ tương lai". Quỹ dự trữ hưu bổng đã không đưa ra lời bình luận nào, chỉ nói là chờ có những chỉ thị rõ ràng của chánh-phủ. Trên nguyên-tắc, quỹ dự trữ hưu bổng sẽ bắt đầu tài trợ một phần cho chế độ hưu bổng khu vực tư kể từ 2020. Tuy nhiên, việc xử dụng ngay Quỹ dự trữ hưu bổng cũng không phải dễ dàng,không phải về mặt pháp lý, nhưng về mặt kỹ thuật. Các số tiền thu góp được hiện đã được đầu tư :46,8% bằng cổ phiếu,27% bằng công khố phiếu có lãi xuất cố định, 8,2% trên công khố phiếu theo lạm phát,9,8% cho qũ tiền tệ,3,2% vào địa ốc và 5% trên nguyên-liệu. Quỹ cũng cho Tây Ban Nha nợ 520 triệu euros,Hi Lạp 200 triệu euros, Ái Nhĩ Lan 200 triệu euros, Ý Đại Lợi 1650 triệu euros, Bồ Đào Nha 95 triệu euros. Nợ dành cho nước Pháp lên đến 3,5 tỉ. Hiểm tai của Quỹ dự trữ hưu bổng nằm ở chỗ có gần một nửa số đầu tư vào cổ phiếu tuỳ thuộc thị trường chứng khoán và nếu chánh phủ cần xử dụng, việc bán đi vào lúc thị trường chứng khoán sa sút không phải là một thuận lợi ví dụ như cổ phiếu của BP. Quỹ dự trữ hưu bổng cho biết sẽ cân nhắc về việc này. Nói chung,các đầu tư đem lại cho Quỹ khoảng trên dưới 6% một năm, bổ đồng trong vòng 15 năm số vốn sẽ tăng gấp đôi Ước lượng kết khiếm của CNAV (quỹ bảo hiểm người già) sẽ khiếm thu khoảng trên dưới 90 tỉ vào năm 2040; nếu để nguyên không dùng đến, quỹ dự trữ hưu bổng sẽ có khoảng trên dưới 150 tỉ, có khả năng bù đắp cho khiếm ngạch này! Trong một cuộc phỏng vấn của "chương trình 20minutes", theo một dân biểu UMP - thuyết trình viên về dự luật tài chánh - thì các chương mục của bảo hiểm y tế (Sécuruté Sociale) kết khiếm 26,8 tỉ euros cho năm 2010. Sự kết khiếm này có tính cách cơ cấu. Số chi tiêu luôn luôn nhiều hơn số đóng góp và người Pháp ngày càng sống lâu hơn vì thế chi phí y tế nhiều hơn.Việc đóng góp thêm là điều không thể tránh như tăng tỉ lệ đóng góp y tế, hưu bổng, tăng CSG, tăng mức thuế lợi tức, giảm chi tiêu. Các ngành nghề y tế phải chỉ cho toa những thứ thật cần thiết để chữa trị, và chắc chắn phải xem lại tất cả vì không thể tài trợ cho mọi thứ và cho bất kỳ việc gì, bởi vì không còn lựa chọn nào khác. b./ Sự thắng lợi vẻ vang của Đảng cánh hữu Tiệp : Là một quốc gia đa đảng, chính trường Cộng hòa Séc có sự tham gia của rất nhiều đảng phái. Hiện Tiệp có khoảng 20 đảng phái, nhưng những đảng có số phiếu cử tri nhiều nhất bao gồm : 1./ Đảng xã hội dân chủ CSSD thuộc cánh tả ( chiếm 22% số phiếu) 2./ Đảng công dân dân chủ ODS thuộc cánh hữu( chiếm 20% số phiếu ) 3./ Đảng Top 9 thuộc cánh hữu ( chiếm 12,5 % số phiếu ) 4./ Đảng Công Cộng VV thuộc cánh hữu ( chiếm 10% số phiếu ) 5./ Đảng Cộng Sản KSSA không thuộc tả hay hữu ( chiếm 13% số phiếu ) Hai đảng có ảnh hưởng lớn nhất ở Cộng hòa Séc là Đảng Công dân Dân chủ (Občanská demokratická strana) và Đảng Xã hội Dân chủ Séc (Česká strana sociálně demokratická). Nhà nước có 1 nguyên tắc là nếu khối nào chiếm hơn 101 ghế trong Hạ Nghị Viện thì được thành lập chính phủ . Sáng 4/6/2010, tổng thống Václav Klaus đã triệu tập thủ lĩnh đảng Công Dân Dân Chủ cánh hữu ODS Petr Necas thẩm quyền đàm phán thành lập chính phủ. Cuộc bầu cử quốc hội vừa qua tuy Đảng xã hội dân chủ giành thắng lợi với số phiếu cao nhất là 22%, nhưng vì là cánh tả, họ không thể kết hợp với các Đảng cánh hữu khác kể cả Đảng Cộng Sản để thành lập chính phủ nên chính phủ chỉ định Đảng Công Dân Dân Chủ cánh hữu thành lập chính phủ gồm 20% số phiếu kết hợp với các Đảng cánh hữu khác là TOP 9 - 12,5% và Đảng Công Cộng VV - 10% để thành một khối hữu 32,5 % tương đương 118 ghế trong quốc hội. Trong 3 Đảng cánh hữu nêu trên, những người trong Đảng chỉ có tài năng và trình độ trung bình; những người xuất sắc thì tách ra để thành lập 15 Đảng cánh hữu khác. Trước đây, Đảng cánh hữu chỉ có 1 Đảng, nhưng vì chiếm không đủ phần trăm số phiếu nên để có đủ đ/k thành lập CP họ phải tách ra nhiều Đảng cánh hữu khác với nhiều tên gọi khác nhau để tranh thủ được đa số phiếu bầu của nhân dân. Nguyên tắc “ứng cử - bầu cử” tuyệt đối dân chủ tự do tương tự các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Hoàn toàn không có tham nhũng và gian lận trong bầu cử. c./ Những yếu tố sáng suốt tạo nên thắng lợi cho Đảng cánh hữu Tiệp : - Tạo một nền an sinh xã hội ổn định và hợp lý không có những chủ trương và biện pháp cực đoan hoặc thiên lệch : không theo kiểu cộng sản "san bằng mạc rệp" biến người dân thành bần cùng vô sản; cũng không theo kiểu "hút hết quỹ an sinh xã hội" để đầu tư tài chính gây bất ổn cho sự chi tiêu an sinh xã hội. - Kích thích đầu tư nước ngoài bằng cách không tăng thuế lợi tức quá đáng khiến các công ty ngoại quốc rút ra khỏi nước. - Hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân nhỏ, trung bình phát triển và duy trì sản xuất. Không để các công ty nhỏ bị phá sản. - Tăng tuổi về hưu đến 65 tuổi để gia tăng quỹ lợi tức đóng góp của người còn đang làm việc. - Trợ cấp an sinh xã hội hợp lý : vừa trợ cấp đủ sống cho các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, vừa tìm việc làm hợp lý và phù hợp khả năng cho những người thất nghiệp. - Duy trì & phát triển nền giáo dục - văn hóa - tâm linh theo chiều hướng phát triển hội nhập với cộng đồng chung Âu Châu. - Bảo vệ môi sinh tốt theo tiêu chuẩn cộng đồng Âu Châu. Ngoài ra, để thành lập được chính phủ, một Đảng đắc cử phải thực hiện cho bằng được những gì mình đã hứa hẹn trong lúc vận động tranh cử. Hơn nữa, nếu một Đảng bị thất cử - nghĩa là không còn được dân chúng tín nhiệm - thì những người đương chức sẽ tự động từ chức để nhường chỗ cho người của phe thắng cử. d./ Những nguyên nhân thất bại của Đảng cộng sản Tiệp : Tuy ngày nay Đảng Cộng Sản vẫn còn nhưng trong nhiều năm vừa qua họ chỉ đạt 13% lá phiếu của cả nước. Những nguyên nhân khiến Đảng cộng sản không thể thành lập chính phủ : - Các Đảng thuộc cánh Tả và cánh Hữu đã tẩy chay không hợp tác với họ để tạo thành liên minh nhằm giành được phần trăm lá phiếu cao, kết quả là họ bị cách ly và không đủ “tiêu chuẩn - điều kiện” thành lập chính phủ. - Đảng cộng sản không có khả năng tạo nền an sinh xã hội hợp lý và ổn định. - Đảng cộng sản không tạo được nhân quyền, công bằng và dân chủ theo yêu cầu của cộng đồng Âu Châu tự do. - Đảng cộng sản không thể nào làm cho nền kinh tế phồn thịnh và khắc phục được tình trạng suy thoái kinh tế của toàn cầu nói chung và của nước Tiệp nói riêng. Trong tương lai gần Đảng Cộng Sản sẽ dần dần thoái hóa và sẽ bị xóa sổ một cách nhẹ nhàng, êm thắm!!!
(CÒN TIẾP : ĐÓN XEM PHẦN IV : KẾT LUẬN) "AN SINH XÃ HỘI ĐÚNG MỨC - HỢP LÝ " + PHÁT TRIỂN "VĂN HÓA - GIÁO DỤC - TÂM LINH" + "PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP LÝ" LÀ KIỀNG BA CHÂN GIÚP CHO CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU PHÁT TRIỂN
|
© copyright giaodiem.us | 2009