[bài đăng lại (trọn 2 phần) từ nguồn:]
http://www.vnisone.com/diendan/showthread.php?t=22285
Đọc một số bài viết về Hồi ký của một thằng hèn
Đỗ Văn Minh
Có một hiện tượng nghịch lý liên quan đến Tô Hải
và “Hồi Ký của một thằng hèn”. Hải ngoại nổi tiếng là “thành
đồng chống cộng”. Hồi ký của Tô Hải, một tác phẩm tố giác chế độ
Cộng sản mạnh mẽ đến như thế, như một ngọn roi quất thẳng vào
thành trì vô sản, đáng lý ra phải được đón nhận nồng nhiệt thì
trái lại, đã bị một số nguời mệnh danh chống cộng to tiếng nhất
đả kích thậm tệ.
Có điều lạ lùng nữa là mấy ông chống đối này hầu như đã hướng
mũi dùi toàn lực công kích vào người, tức là Tô Hải, nhằm vào
hai chữ “thằng hèn”, và chỉ đề cập rất ít đến tác phẩm, có nói
tới hầu như cũng với tính cách chung chung. Như thế, giả như Tô
Hải đừng dùng hai chữ “thằng hèn” mà chỉ đặt nhan đề sách là
“Hồi ký Tô Hải” chẳng hạn, hay một cái tên nào khác thì tôi nghĩ
tác giả các bài chống đối này sẽ không có phản ứng, hay nếu lên
tiếng thì có khi còn cao giọng ca tụng hơn ai hết. Thái độ của
mấy ông chống đối này cũng không phải là khó hiểu.
Thứ nhất, gắn cho mình hai chữ “thằng hèn”, Tô Hải đã ngầm có ý
cao ngạo, vì phải có lòng tự tin lắm mới tự nhận mình là hạng
người mà xã hội vẫn có lòng khinh miệt, trường hợp này có thể
cho là Tô Hải đã chơi “ngông”. Anh đã “ngông” thì tôi phải
triệt, mấy ông chống đối hậm hực tức tối mà nghĩ như vậy!
Thứ hai, Tô Hải suốt đời sống trong lòng chế độ, lại từng là một
đảng viên, một cán bộ, nay ông “hồi chánh” viết sách chống chế
độ, tất nhiên sách của ông phải chứa đựng nhiều sự thực, tiết lộ
nhiều điều mà chỉ người trong cuộc mới biết, mới hiểu nội vụ tỏ
tường. Như vậy là Tô Hải chống cộng thực sự trong vùng đất địch,
viết sách xỉ vả Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản ngay tại Sài Gòn,
có thể gọi ông là loại Chống Cộng “xịn”. Còn các ông chống đối,
cũng tự xưng là chống cộng, nhưng chỉ chống cộng qua kiểu “đánh
võ mồm” ở hải ngoại, nơi hậu phương, an toàn tuyệt đối, hẳn là
loại Chống Cộng “rổm” rõ ràng còn gì! Chống cộng “rổm” thấy
chống cộng “xịn” thì ghen tức; Ghen tức thì phải tìm cách nói
xấu, bôi bẩn, có gì lạ đâu!
Trường hợp thứ ba thì có người đã nói hộ tôi rồi. Đó là Người
Quan Sát (NQS) với bài “Chiến dịch bôi nhọ của Cộng sản”
đã đăng trên “TroiNam.net” tháng 6, 2009. Tôi vốn không ưa
chuyện “chụp nón cối” lên đầu người khác, thủ đoạn thường được
dùng nơi hải ngoại, nhưng cũng có những ngoại lệ, và đây là một
trường hợp có nhiều tính cách khả tín.
Tới đây, tôi xin nói thẳng đến mấy ông chống đối Tô Hải và “Hồi
Ký của một thằng hèn” cùng bài viết của các ông ấy. Tôi sẽ đề
cập đến 3 vị có bài mà tôi đã được đọc. Trước hết, là hai ông
Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và ông Đỗ Văn Phúc.
Bài viết của Duyên Lãng Hà Tiến Nhất có cái tên là “Bức chân
dung tự họa”. Ngay ở dòng đầu, chưa chi ông đã gọi những nhà
văn, nhà thơ, nhà báo, … tham dự buổi ra mắt tác phẩm của Tô Hải
là “Ông Bình Vôi”, “Nhà Tu Hú”, “Nhà Dơi”, “Nhà Chuột”. Chưa
thấy ông cắt nghĩa tại sao lại gọi là như vậy, lại có lối so
sánh như thế? Tiếp câu sau, ông viết, “Thú thực, tôi chưa đọc
hồi ký của ông Tô Hải nên không dám lạm bàn rộng rãi”. Tôi nghĩ
rằng ông đã “thú dối” chứ không phải “thú thực”, bởi vì nếu
không đọc thì sao ngay bên dưới ông lại kể ra dài dòng được
những điều Tô Hải đã “chính ông viết ra”, “ông thú nhận”, “ông
còn nói”,… Chưa đọc thì làm sao biết Tô Hải viết những gì để vô
cớ gọi các người đến tham dự buổi ra mắt sách bằng những từ ngữ
đầy tính cách miệt thị. Nói rằng “không dám lạm bàn rộng rãi”,
vậy mà họ Hà lại để ra cả trang để nói hết chuyện này đến chuyện
kia về tác giả hồi ký. Đó là cung cách của một tên ăn gian, nói
dối, và đó mới là thằng hèn đích thực.
Tô Hải đã nhận mình là hèn và đã giải thích tại sao lại hèn và
hèn lâu đến như vậy. Rồi ông lại cắt nghĩa:
Viết hồi ký xong từ năm 2000, nhưng chưa dám cho ra mắt, trước
hết là vì vẫn còn “sợ”, sau nữa là vì thấy vẫn chưa dám nói lên
hết để vạch trần những sự thực dưới chế độ Cộng sản cho nên ông
phải viết đi, viết lại, viết thêm cho đầy đủ.
Như thế mà Hà Tiến Nhất cứ đem cái chữ “hèn” ra để kết tội, hỏi
còn gì vô lý cho bằng? Bây giờ tôi giả dụ có một tên trước kia
đã hành nghề móc túi ở chợ, có nghĩa là ăn cắp, chỉ vì quá nghèo
đói, không có miếng ăn. Nhưng sau tên đó đã hoàn lương và viết
một cuốn sách có tên “Hồi ký của một thằng ăn cắp” trong đó hắn
đã vạch trần những mánh khóe, những cách thức móc túi như thế
nào. Hồi ký này được nhiều người đón đọc, vì nhờ nó mà người đi
chợ đã biết để tránh nạn bị móc túi được phần nào. Hồi ký của
một thằng ăn cắp có ích lắm chứ! Vậy giả dụ người ta cứ bảo Hà
Tiến Nhất là tên ăn cắp này, rồi nếu có ai cứ tiếp tục sa sả
mắng Hà Tiến Nhất là tên ăn cắp thì ông Hà Tiến Nhất nghĩ sao?
Thôi, xin tạm ngưng chuyện ông họ Hà với “bức chân dung ông Hà
tự hoạ ông Hà” để chuyển sang nhân vật thứ hai là ông Đỗ Văn
Phúc.
Ông Đỗ Văn Phúc viết một bài có tên là “Nhạc sĩ Tô Hải, Hèn
hay Không Hèn?” Khác với ông Hà Tiến Nhất, ông Phúc có đọc
Hồi ký Tô Hải. Đọc và có vài ý kiến, nhưng không phải ý kiến về
những gì Tô Hải viết trong hồi ký mà về cá nhân Tô Hải.
Ông viết: “Ông gia nhập đảng Cộng sản rất sớm, và từ đó đến nay
đã hơn 60 năm ông đã liên tục phục vụ đắc lực chế độ như một đặc
công văn nghệ … cho đến năm 65 tuổi mới chịu về hưu”. Ông Phúc
vì nôn nóng muốn “hạ” Tô Hải nên đã viết mà thiếu suy nghĩ. Ông
tố cáo Tô Hải đã hơn 60 năm liên tục phục vụ đắc lực chế độ. Rồi
ông cho biết ngay là Tô Hải 65 tuổi mới chịu về hưu, có nghĩa là
về dưỡng gìa, là thôi không còn phục vụ nữa. Vậy ra Tô Hải đã
phục vụ ngay từ lúc ông mới có 5 tuổi, cộng thêm 60 năm liên tục
phục vụ, tức là về hưu năm 65 tuổi! Trong mục đích gây cho tội
của Tô Hải nặng hơn, ông Đỗ Văn Phúc đã lý luận một cách thiếu
thông minh như thế đó!
Thêm nữa, ông Phúc có hiểu thế nào là đặc công không? Thời còn
chiến tranh Việt Nam, Việt Cộng có những đơn vị gọi là đặc công,
những đơn vị từ một vài người cho tới một vài chục người có
nhiệm vụ vào vùng do VNCH kiểm soát để đặt mìn khủng bố phá
hoại, đột nhập vào các căn cứ quân sự đánh lén, đánh trộm, rồi
mau chóng rút đi. Tô Hải suốt đời sống trong vùng Cộng sản kiểm
soát, nếu là đặc công thì để tự phá hoại chế độ sao? Chính quyền
Việt Nam hiện nay chắc chắn có những đặc công văn nghệ chúng gửi
ra hải ngoại đễ mai phục tìm cơ hội gây chia rẽ trong cộng đồng.
Đó mới là đặc công. Gán cho Tô Hải hai chữ “Đặc công”, Đỗ Văn
Phúc đã chứng tỏ sự dốt nát của mình, của hạng người “Dốt hay
nói chữ”.
Ớ một đoạn sau, Đỗ Văn Phúc tố giác tiếp một cách rất vu vơ,
“Rồi chính Tô Hải đã từng viết ra nhiều bản nhạc ca tụng tên đồ
tể Hồ Chí Minh”. Nếu ông Phúc có thể nêu ra tên vài bản nhạc
ca tụng này, cho biết lấy ở đâu ra, và làm sao mà biết là do Tô
Hải sáng tác thì mới chứng tỏ điều ông nói là có giá trị, Nói
một cách chung chung như thế này thì ai chả nói được và chỉ
những ai thiếu đầu óc suy nghĩ mới tin theo được. Sự tố giác
thiếu lương thiện này có được kể là “hèn” không?
Tôi chỉ nêu ra vài trường hợp để chứng tỏ bài viết của Đỗ Văn
Phúc có giá trị như thế nào, và do đó những chi tiết khác ông
nói trong bài có tin được không?
Tuy nhiên, ở cuối bài, ông đã công nhận rằng:
“Hồi ký của một Thằng Hèn có thể được coi là một chứng cớ xác
thực để buộc tội một chế độ dã man, đểu cáng. Mọi người Việt Nam
đều cần đọc để hiểu thêm về những phương cách trấn áp con người
của cộng sản. Nhưng hãy xin trả lại cái danh xưng ‘thằng hèn’ mà
tác giả đã tự nhận.”
Ông Đỗ Văn Phúc ít nhất cũng có được một nhận xét xác đáng.
Nhưng rồi đọc câu cuối thì lại thấy ông nói gì mà lạ vậy! Muốn
Tô Hải phải “trả lại cái danh xưng “thằng hèn” thì ông chỉ việc
chứng minh là Tô Hải đã không hèn là xong ngay. Mà trả lại danh
xưng “thằng hèn’ cho ai? Chắc là cho ông Đỗ Văn Phúc chứ còn gì!
Đỗ Văn Phúc quả đã có dị ứng nặng với hai chữ “thằng hèn” của Tô
Hải mà tôi đã có dịp nói tới ở phần dầu bài viết này. Bỏ đi hai
chữ này, biết đâu Tô Hải lại chẳng được Đỗ văn Phúc tung hô lên
tận trời xanh!
Sở dĩ tôi nói cùng một lúc về hai ông Hà Tiến Nhất và Đỗ Văn
Phúc là vì ở cuối cả hai bài, hai ông đều nhắc đến chuyện “Đập
Mả Bố” mà có người đã kể ra và được hai ông tin theo rồi lặp lại
trong bài viết một cách chi tiết với những nhận xét theo khuynh
hướng cho là có thực. Trong khi ông Hà Tiến Nhất cho biết nguồn
tin “Đập Mả Bố” là do “đọc trên báo chí” thì Đỗ Văn Phúc nói rõ
hơn là từ bài của ông Thiết Trượng đăng trên Đặc San Ức Trai,
phát hành tại California mùa xuân 2009, trang 254-255. Để hiểu
rõ cội nguồn, tôi đã tìm đọc bài của ông Thiết Trượng. Câu
chuyện, theo lời kể trong bài của Thiết Trượng, tóm lược như
sau:
“Sau 30 tháng 4 năm 1975, Tô Hải được ‘điều’ vào Nam. Người nhà
dẫn Tô Hải ra mộ viếng cha. Đọc trên mộ bia thấy hàng chữ nội
dung ‘Hiền tề Trung Tướng LQT lập mộ’, Tô Hải la hét to tiếng và
ra lệnh đàn em đập nát bia mộ có tên người em rể là một ‘tướng
ngụy’ … sau đó hội đồng gia tộc trong họ đã họp lại và nhất
quyết khai trừ khỏi họ hàng ‘thằng con mất dạy’.”
Ông Thiết Trượng cũng chỉ nghe chuyện này do một người bạn thuật
lại, mà ông tạm gọi tên là “Thằng Thời (xin dấu tên thật).
Thằng Thời này cho biết thêm “trong họ tao là vai anh của nó (Tô
Hải).”
Mặt khác, trong một bức thư trần tình, bà Tô Ánh Tuyết, em gái
ông Tô Hải, đã kể rằng:
“Năm 1971, khi thân phụ tôi qua đời được an táng tại nghĩa trang
Mạc Đĩnh Chi, chính thân mẫu tôi là người xây mộ cho cha tôi.
Sau năm 75, nghĩa trang MĐC đã bị bọn Cộng sản giải tỏa. Mẹ tôi
phải gửi tiền về nhờ mấy đứa cháu còn kẹt lại lo việc bốc mộ đem
thiêu, tạm gửi vào chùa rồi sau đó ít lâu chuyển nắm tro tàn qua
Mỹ cho chúng tôi hương khói.”
Như vậy, khi tìm hiểu sự thật trong vụ “Đập Mả Bố” của các ông
từ Thiết Trượng cho đến Hà Tiến Nhất, Đỗ Văn Phúc, vì mộ phần,
gồm cả tấm mộ bia, là những vật chứng nay không còn nữa, cho nên
chỉ còn có thể dùng lý luận để biện giải cùng dựa vào nhân
chứng.
Trước hết, về mộ bia có hàng chữ “Hiền tế Trung Tướng Lâm
Quang Thi lập mộ.” Năm 1971, ông Lâm Quang Thi còn là Thiếu
Tướng. Không lẽ ông Lâm Quang Thi khi lập bia mộ đã tiếm cấp
bậc, tự cho mình lên cấp Trung Tướng sao? Nội chi tiết này cho
thấy bia này là bia thật hay chỉ là tấm bia giả, do bạn ông
Thiết Trượng là “Thằng Thời” chế tạo ra cho màn kịch “Đập Mả Bố”
cũng do chính ông Thiết Trượng đạo diễn. Đúng là dấu đầu lòi
đuôi!
Theo phong tục Việt Nam thì con trai có bổn phận phụng dưỡng cha
mẹ, con rể thường được coi là người ngoài. Song thân Tô Hải,
ngoài Tô Hải, còn có 3 con trai ở miền Nam. Khi thân phụ Tô Hải
qua đời, một người con là Tô Tiến Phát đang công tác, không phải
tại Đà Nẵng, Nha Trang, hay Biên Hoà, Cần Thơ, mà mãi tận bên
Hoa Kỳ. Tuy chưa hết nhiệm kỳ, anh Phát đã phải cố gắng xin về
Việt Nam để chịu tang cùng gia đình. Như thế đủ thấy cái tình
gia tộc nặng như thế nào, cái gia phong được tôn trọng ra sao.
Hơn nữa, các con trai, người là giáo sư trung học, người là sỹ
quan cấp tá, không thiếu thốn túng kém gì mà phải nhờ đến con rể
lo việc tang ma, mộ phần.
Truy đến tận gốc thì nhân chứng duy nhất trong vụ “Đập Mả Bố”
này chỉ có một người, được ông Thiết Trượng dấu tên và ông chỉ
tạm gọi là “Thằng Thời”. Và vì thế cũng chỉ ông Thiết Trượng mới
biết bộ mặt thật và tung tích nhân chứng này với vài chi tiết
được kể ra như “Thằng Thời” tự nhận có họ và là vai trên của Tô
Hải, đã chứng kiến vụ “Đập Mả Bố”, và còn cho biết là hội đồng
gia tộc đã họp và khai trừ Tô Hải ra khỏi dòng họ.
Chuyện này, nếu muốn đưa ra ánh sáng, rất dễ! Chỉ cần Thiết
Trượng tiết lộ nhân vật “Thằng Thời” là ai cùng tên tuổi, gốc
tích,… Đem nhân vật “Thằng Thời” này ra đối chất với các em Tô
Hải hiện còn sống ở Hoa Kỳ (3 em gái và em trai út) thì biết đây
có phải là ông anh họ hàng thực không và biết là hội đồng gia
tộc đã khai trừ Tô Hải mà “Thằng Thời” kể ra đó là hội đồng nào
và gồm những ai?
Tôi có thể nói thẳng ngay rằng nếu Thiết Trượng không dám ‘bạch
hóa’ cái tên “Thằng Thời” thì nhân vật này chỉ là một “bóng ma”
do chính Thiết Trượng chế tạo ra để bịa chuyện phỉ báng, bôi nhọ
Tô Hải mà thôi. Phải chăng “Thằng Thời” cũng chính là tên Thiết
Trượng? Còn hai ông Hà Tiến Nhất và Đỗ Văn Phúc không lẽ cũng
thiếu sáng suốt đến nỗi nhắm mắt viết theo Thiết Trượng mà không
cần kiểm chứng về lai lịch của nhân chứng? Bây giờ giả dụ nếu có
tờ báo loan tin rằng một anh xin dấu tên thật và tạm gọi là
“Kèo”. Anh này tự xưng là anh họ Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, trước
kia ở Sài Gòn đã từng thấy Hà Tiến Nhất nhiều lần hành nghề ở
khu Ngã Ba Chú Ía. Vậy ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất nghĩ sao, có
đòi tờ báo phải cho biết tên “Kèo” thực sự là ai không? Còn ông
Đỗ Văn Phúc thì cũng giả như có người tạm gọi tên là “Cột” đã tố
cáo rằng thời gian trong trại cải tạo, Đỗ Văn Phúc là một cây
ăng-ten đã tận tình theo dõi lời nói và hành động của anh em
trong phòng để báo cáo lên quản giáo, cán bộ an ninh khiến cho
nhiều bạn bè đồng tù bị hành hạ tàn tệ. Ông Đỗ Văn Phúc có đòi
phải được biết lý lịch của cái tên “Cột” đó để đối chất không?
Ông Hà Tiến Nhất còn có lối suy luận khác thường. Ông viết:
“Không biết Tô Hải có đập mả bố thiệt không. Kẻ nói có người nói
không, biết tin ai. Nếu ông không chứng minh được kẻ nói có là
nói láo thì cái chân dung “thằng hèn” mà ông tự vẽ e rằng sẽ
biến thành “thằng cuội” mất. Thực là ngược đời! Trong vụ “đập mả
bố”, Tô Hải là người bị tố cáo. Người khởi đầu đứng ra tố cáo có
bổn phận phải đưa ra bằng chứng cụ thể, có thể tin được, không
phải là cái nhân vật “ma” là “thằng Thời” mà lai lịch, tên họ bị
dấu kín, do đó không có giá trị gì. Chừng nào ông Hà Tiến Nhất
đưa ra được nhân chứng khả tín thì Tô Hải mới cần phải phản
biện. Đúng là phường dốt nát, không hiểu gì về phương thức tranh
luận!
Tóm lại các ông Thiết trượng, Hà Tiến Nhất, Đỗ Văn Phúc, trong
khi đua nhau “Đập Mả Bố”, đã để lộ chân tướng của những kẻ mà bà
Tô Ánh Tuyết, em gái nhạc sĩ Tô Hải, đã lên án là “bất nhân,
thất đức”. Như thế cũng chưa đủ, còn phải gọi đó là những kẻ
không những vô liêm sỉ mà còn “ngu” nữa. Vô liêm sỉ vì đã dựng
đứng câu chuyện để xúc phạm đến danh dự người khác, và “ngu” là
vì đã chế tạo ra những điều vu vơ, ấu trĩ, mà người đọc có chút
suy nghĩ cũng thấy là bịa đặt cho một mục đích vu cáo hèn hạ.
Nhân vật thứ ba trong nhóm “tam nhân bang” hùa nhau “đánh” Tô
Hải là một nhân vật có nhiều lai lịch hơn hai ông Hà Tiến Nhất
và Đỗ Văn Phúc. Ông này, khi sang Mỹ viết văn, thường xưng là
“Công Tử Hà Đông”. Ông Công Tử này vào Nam trước năm 1954. Vào
những năm giữa thập niên 1950, ông viết phóng sự bằng một lối
văn nham nhở, chuyên về phòng trà và tiệm nhảy, nghĩa là rất
thành thạo về các cô ca sĩ và ca-ve. Ông còn viết phóng tác từ
các truyện ngoại quốc, rồi khi Mỹ sang thì trở thành nhân viên
sở Mỹ. Tháng 4, 1975, tuy làm cho Mỹ nhưng chạy đôn chạy đáo vẫn
không tìm được cách đi, ông đành ở lại. Sau 1975 mấy năm, ông bị
bỏ tù vì cái tội chuyển bài viết ra ngoại quốc, nhưng cũng nhờ
vậy mà năm 1994, ông được sang Mỹ trong danh sách “tù nhân chính
trị” và ông coi đó như là một “thành tích chống cộng” rực rỡ.
Ông viết lách trở lại, vẫn cái lối văn nham nhở và còn dơ dáy
thêm nữa, như trong bài viết về Tô Hải và “Hồi ký của một thằng
Hèn” có nhan đề là “Thằng Hèn Hà Nội” ngày 20 và 24 tháng 6,
2009.
Vẫn nhằm vào đối tượng là tác giả Tô Hải theo cái công thức dựa
trên hai chữ “thằng hèn”, nhưng ông Công Tử cũng đưa ra được mấy
nhận xét về cuốn hồi ký. Và ông Công Tử đã nhận xét ra sao?
Trong hồi ký trang 203, Tô Hải viết: “Nhưng tôi chủ trương
‘nằm im chờ thời cơ thoát hiểm’ nên theo gương Phù Sai nuốt hết
những thứ khó ngửi, khó nghe ấy cho xong chuyện”. Công Tử
phê là “Tác giả viết sai sử Tàu: Câu Tiễn nếm phân, không phải
Phù Sai nếm phân”. Đúng lắm! Nhưng từ đó, ông lại tán rộng ra để
chê bai Tô Hải là “hăng say hơn trong việc ca tụng chế độ. Dù
giả vờ hăng say cũng là hăng say, người giả vờ hăng say còn hèn
hơn người hăng say vì sai lầm, vì không biết mà hăng say”.
Rõ là lý luận của anh dốt hay nói lý! Vậy tôi cũng có thể nói,
đặc công văn nghệ Việt Cộng giả vờ chống cộng để trà trộn vào
hàng ngũ quốc gia cũng là người chống cộng thực sự hay sao? Phải
có lý do nào đó người ta mới phải ‘giả vờ’ chứ! Tô Hải đã phải
‘giả vờ’ hăng say làm những bài ca tuyên truyền, ca tụng chế độ
để được sống mà viết cho nên bây giờ mới có quyển hồi ký chống
cộng này. Tô Hải đã ở tuổi trên 80, ông có nhớ lầm chuyện sử
cách nay hàng ngàn năm cũng là điều thường. Ông Công Tử nhỏ hơn
Tô Hải năm bảy tuổi, chuyện sờ sờ ngay trước mắt mà ông cũng nhớ
sai mới là chuyện lạ. Trong bài, ông viết:
“Ông (Tô Hải) gặp và lấy bà vợ thứ hai ở Sàì Gòn, bà này trẻ hơn
ông 2 con giáp, tức kém ông 24 tuổi”.
Tất nhiên là ông lấy tin này từ trong sách của Tô Hải. Nhưng
trong Hồi ký, chính Tô Hải cho biết bà vợ sau của ông nhỏ hơn
ông 29 tuổi “…dám lấy một người hơn cô 2 con giáp + 5 làm chồng”
(trang 497). 29 tuổi viết là 24! Vậy ông Công Tử hãy sờ lên gáy
mình mà xem trước khi lên giọng chê bai người khác là viết sai,
nhớ lầm.
Để “hạ” Nhạc sĩ Tô Hải, ông Công Tử đã “đội” Thi sĩ Nguyễn Chí
Thiện lên đến trời xanh:
“Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện hơn tất cả những Thi Sĩ Chửi Cộng trên
Thế Giới. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là Thi Sĩ Duy Nhất kể từ ngày
Loài Người Mắc Nạn Cộng sản và Loài Người có Những Thi Sĩ làm
Thơ Kết Tội Bọn Cộng: Sống trong kìm kẹp Cộng sản mà dám đưa Thơ
Mình Chửi Cộng ra ngoại quốc dù biết làm việc ấy ông có thể bị
bọn Cộng giết chết, bỏ tù đến chết”.
Tả Nguyễn Chí Thiện khí phách đến như thế, bất khuất đến như
thế, vậy mà ngay trong đoạn sau, ông lại lập tức xuống giọng,
đổi hướng để chê là
“Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, có lẽ vì sợ bị người Việt quên ông nên
ông hay xuất hiện ké trong đám nọ vụ kia ở Cali, ông tham dự ké
và ông phát biểu ké vài câu không ra làm sao cả”.
Nguyên do tất cả chỉ vì Nguyễn Chí Thiện lại ‘dám’ tham dự buổi
ra mắt “Hồi ký của một Thằng Hèn” của Tô Hải. Nguyễn Chí Thiện
gặp một người đồng điệu, cũng chống cộng mạnh mẽ như mình, thì
lên tiếng phát biểu cổ động để tiếng nói chống Cộng được lan
truyền rộng rãi, có gì mà ông Công Tử phải cay cú để thốt ra
những lời hằn học mai mỉa. Vừa “tôn” người ta là “Thi sĩ duy
nhất” rồi ngay sau đó lại “mỉa” là “Phát biểu ké không ra làm
sao cả”, hạng “Công Tử” nào mà có cái thái độ trở cờ, lật mặt
nhanh như vậy?
Tô Hải đã xác nhận là trong hồi ký, ông chỉ nói đến Cộng sản tại
miền Bắc trong thời kỳ chuyên chính cực độ, nghĩa là cho đến
những năm bắt đầu có cái gọi là Đổi Mới. Cho nên câu ông viết
“Chẳng có một câu nói chống lại bạo quyền nào đáng ghi vào sử
sách chứ chưa nói đến hành động” phải được hiểu là hạn chế
chỉ nhằm vào miền Bắc và không bao gồm thời Việt Nam Cộng Hoà ở
miền Nam. Vậy mà ông Công tử không hiểu cho nên đã động lòng rồi
tru tréo lên là VNCH có biết bao nhiêu người chống cộng và kể lể
dài dòng về người này người nọ. Tất nhiên là những người ông kể
ra đều là những người chống cộng thực sự. Nhưng rất tiếc là ông
Công tử đã lạc đề, đi ra ngoài cái hạn chế về không gian và thời
gian mà Tô Hải đã xác định.
Đọc một quyển sách trên 500 trang mà chỉ moi ra được dăm ba nhận
xét, mà lại là những nhận xét vu vơ, theo thiên kiến, tiền hậu
bất nhất, còn lại thì chỉ nhằm đối tượng là tác giả quyển sách
để chửi bới hạ cấp, Công tử Hà Đông tức Hoàng Hải Thủy đã lộ cho
thấy cái tư cách của tác giả như thế nào qua 2 điểm sau.
Thứ nhất là soi mói vào đời tư của Tô Hải. Thứ hai là dùng những
lời lẽ hết sức dơ bẩn để thóa mạ Tô Hải.
Cho nên “đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”, nếu
nay tôi có nói nhiều, có đi sâu vào đời tư của Hoàng Hải Thủy,
nếu tôi có dùng những từ ngữ không được thanh tao cho lắm thì
xin người đọc cũng lượng thứ cho cái trường hợp ngoại lệ này,
chẳng qua là “ai đã gieo gió thì phải gặt bão.”
Hoàng Hải Thủy viết:
Trong hồi ký ông (Tô Hải) chỉ viết có một dòng về việc ly khai
ông của bà vợ thứ nhất của ông: “gia đình đổ vỡ”, tức ông và bà
vợ thứ nhất bỏ nhau. Ông gặp và lấy bà vợ thứ hai ở Sàì Gòn –
(đúng ra là lấy tại Nha Trang, không phải Sài Gòn – ĐVM), bà này
trẻ hơn ông hai con giáp, tức kém ông 24 tuổi” (kém 29 tuổi,
không phải 24 - ĐVM).
Chuyện Tô Hải và bà vợ bỏ nhau cũng như Tô Hải lấy bà vợ thứ hai
nhỏ hơn ông mấy chục tuổi hoàn toàn không dính dáng gì tới việc
nhận xét cuốn hồi ký hết, cũng như không liên hệ gì tới chuyện
“hèn” mà Hoàng Hải Thuỷ đang cố gán cho Tô Hải. Chính Tô Hải đã
công khai kể ra những chi tiết trên trong hồi ký, có gì là đáng
kể (lại) mà Hoàng Hải Thủy phải đem ra để mách người đọc! Hèn hạ
hơn nữa là ngay trang đầu bài viết, Hoàng Hải Thủy đã in bức
hình hai vợ chồng Tô Hải (lấy từ trong hồi ký) với lời chú thích
“Tô Hải, tác giả ‘Hồi ký của một Thằng Hèn’ và người vợ thứ
hai trẻ hơn chồng 24 tuổi”. Bà vợ Tô Hải có tội tinh gì để
Hoàng Hải Thủy đem ra mai mỉa như vậy. Có tội hẳn vì là vợ Tô
Hải chắc? Hành động này của Hoàng Hải Thủy thật là bỉ ổi mà chỉ
có những thằng hèn mới làm được. Bây giờ nếu tôi đem hình hai vợ
chồng Hoàng Hải Thủy lên mặt báo với lời chú thích “Hoàng Hải
Thủy, chuyên viên phóng tác ‘thuổng’ cốt truyện của “Tây”, và vợ
là một cô “Đầm” lô-can có tên là Alice” thì ông nghĩ sao?
Chỉ vì Tô Hải đã nhớ nhầm cái tên Phù Sai, thay vì phải là Câu
Tiễn, Hoàng Hải Thủy đã cứ vịn vào đó mà thóa mạ Tô Hải một cách
hết sức tục tĩu:
“Tác giả bắt chước Câu Tiễn nếm phân… Ông Tô Hải nếm phân rồi cứ
nếm phân dài dài… dài dài cho đến hết đời. Để đến những ngày gần
đất xa trời, ông khoe với mọi người ông từng nếm phân”.
Rồi ông tả tiếp, “… một đời được Đảng ban ân sủng, vỗ béo như
nuôi heo, mắt híp lại, ria mép bóng nhẫy những mỡ và máu…”
Đến như câu nói về nhạc sĩ Phạm Duy sau đây mới lột trần được
cái ngôn ngữ bẩn thỉu của Hoàng Hải Thủy:
“Phạm Duy bạc đầu rệu rã đem thân già dzê dzơ dzáy dzơ dzáng
khai khắm khai khú về nước lẹo lưỡi thằn lằn lộn kiếp tán tụng
bọn ác ôn.”
Giả như Tô Hải có hèn, Phạm Duy có tội đi chăng nữa thì khi nói
đến, Hoàng Hải Thủy cũng nên viết một cách ‘có giáo dục’ đôi
chút chứ, sao lại hạ cấp đến như vậy! Công tử Hà Đông quen thói
ngậm các chất phế thải của con người đem phun vào những kẻ mà
ông không ưa thích, những người có lối suy nghĩ, có hành động
không giống ông. Cái lối viết “ngậm rồi phun” này ở hải ngoại
xem ra ông Hoàng Hải Thủy thành thạo nhất.
Khi viết bài, Hoàng Hải Thủy thường kể lể là đang sống ở Xứ Tình
Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích! Kỳ Hoa là Hoa Kỳ, tức là nước Mỹ, Đất
Trích là đất bị lưu đầy. Ông Công tử ngậm ngùi, cảm khái ra cái
điều ta đang bị đầy ải ở nước Mỹ. Thực là giả dối hết cách! Nước
Mỹ có mời ông đến đây không, chính phủ Hoa Kỳ có bắt ông sang
đây không? Hay là ông đã phải lo tóe khói để trà trộn được vào
danh sách “tù nhân chính trị” hầu được sang miền đất tự do này?
Ông Công tử vỗ ngực khoe thành tích ngồi tù Cộng Sản, nhưng thực
ra ông bị bằt bỏ tù vì viết bài lén gửi ra ngoại quốc chứ ông có
biết chống cộng là cái gì! Suốt hơn 20 năm sống tại miền Nam,
Hoàng Hải Thủy có viết một cuốn sách chống cộng nào không, có
viết một bài nào đề diễn tả nỗ lực chiến đấu của quân lực VNCH
không? Hay ông chỉ lai vãng hết phòng trà này sang vũ trường
khác để viết phóng sự ăn chơi, tìm sách Tây, sách Mỹ để phóng
tác kiếm tiền, rồi cũng theo thời nhảy đi làm sở Mỹ. Chính vì
vậy mà khi Cộng sản vào Sài Gòn, chúng bắt ngay những người như
Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Như Phong,… những
người chống cộng thực sự, chống cộng tự nguyện. Chúng bắt một
tên ăn chơi cò con như Công tử Hà Đông làm gì cho chật nhà giam!
Lại còn bốn chữ “Viết ở Rừng Phong”! Sống ở khu chung cư được
chính phủ trợ cấp thì “Viết ở khu Hao-Dinh (Housing)” có lẽ sát
với thực tế hơn
Hoàng Hải Thủy chắc cho mình thuộc loại ‘con dòng cháu giống’
kiêm ăn chơi sành sỏi ở đất Hà Đông cho nên trong các bài viết
còn kèm theo bốn chữ “Công tử Hà Đông”. “Hoàng Công tử” có sánh
được với “Hắc Công tử”, “Bạch Công tử”, với những “Công tử Cần
Thơ”, “Công tử Bạc Liêu” không, cái đó còn phải hỏi lại ở các
nơi phòng trà, sàn nhẩy, tuy nhiên về dòng dõi thì chính ông
Công tử Hà Đông đã khoe như sau:
“Ông nội tôi làm việc với Quận Công Hoàng Cao Khải…Thầy tôi làm
Thông Phán, người rất được cụ Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu tin cẩn
…Bố làm với bố, con làm với con. Cuộc phục vụ diễn ra trong gần
một trăm năm trời bị trị” (Hoàng Hải Thủy - Bây giờ tháng mấy,
trang 39, Chiêu Dương xuất bản).
Lịch sự thì viết là “làm”, nhưng thực tế thì phải hiểu là “bố
hầu bố”, “con hầu con”, danh giá gì mà cũng khoe mẽ! Sự nghiệp
‘hầu hạ’ này chỉ kéo dài có 2 đời mà ông Công tử cứ hùi hụi tiếc
rẻ mãi là không cố thêm được một đời nữa. Ông viết:
“Cuộc phục vụ ấy không kéo dài tới ba đời. Đến tôi là dứt. Tôi
có muốn tiếp tục phục vụ cho gia đình họ Hoàng cũng không được
vì cụ Hoàng Trọng Phu không có con trai”. (Sđd, trang 39).
Thật uổng! Bằng không thì đã có nhân vật “Ông Phán Hà Đông” rồi.
Ông ‘Phán Hụt’ này chính ra là họ Dương, đổi sang họ Hoàng từ
năm 1954 khi Ông từ Hà Nội vào Sàỉ Gòn cùng với những người di
cư. Khi thấy được phép khai lại giấy tùy thân, ông bèn đổi quách
từ họ Dương sang họ Hoàng, “về sau cứ phải giữ mãi cái thẻ
giả đó và cái họ Hoàng…” (Sđd, trang 244).
Tại sao không lấy họ khác mà lại lấy họ Hoàng? Tại sao mấy chục
năm sau không xin chuyển lại họ gốc? Hẳn là vì nhớ ‘công ơn trời
bể’ của cụ Thiếu Hoàng Trọng Phu đã ban cho Ông Thông Phán đầu
tòa được hưởng cái cảnh mà ông Công tử Hà Đông còn hãnh diện nhớ
mãi là “…các vị tổng lý đến nhà tôi, vái thầy tôi rạp đến tận
đất và xưng hô chúng con, quan lớn, cụ lớn nghe thật long
trọng.” (Sđd trang 39), cho nên Công tử đã đổi họ để đôi lúc
cũng nhớ lại được cái cảnh vàng son thủa trước, cái thời mà nhờ
núp bóng quan thầy lên mặt hống hách theo lối thượng đội hạ đạp.
Đúng là thấy sang bắt quàng làm họ! Họ Hoàng cũng có năm bẩy
thứ, khác nhau xa lắm.
Một sở trường của Hoàng Hải Thủy là viết tiểu thuyết phóng tác.
Phóng tác có nghĩa là lấy một quyển truyện ngoại quốc, chuyển
sang tiếng Việt, nhưng không phải là dịch sát nghĩa từng câu
từng chữ mà có thể chuyển không gian sang địa phương ở một nơi
nào khác, do đó cũng có thể thay đổi một số chi tiết trong
truyện cho thích hợp, tuy nhiên vẫn phải giữ để cốt truyện không
đi quá xa với nguyên bản. Một số phóng tác của Hoàng Hải Thủy từ
trước 1975 đã được xuất bản lại ở Hoa Kỳ từ những năm ông còn ở
Việt Nam. Có quyển in rõ tên tác giả và tác phẩm gốc ngoại quốc,
có quyển chỉ in tên tác phẩm gốc, lại có những quyển chỉ thấy
trơ trọi có tên Hoàng Hải Thủy thôi.
Tôi nghĩ có khi nhà xuất bản tiếng Việt bên Mỹ này không coi
việc ghi tên tác giả và tác phẩm gốc là quan trọng nên đã bỏ
qua. Khi Hoàng Hải Thủy qua Mỹ, ông tiếp tục phóng tác lại và
tôi đã đọc 2 quyển đều do Làng Văn Canada xuất bản. Cuốn đầu,
“Tiếng kêu của máu” năm 1996, chỉ đề tên Hoàng Hải Thủy,
dòng dưới có 2 chữ (phóng tác). Cuốn thứ hai, “Mang xuống
tuyền đài” năm 1998, chỉ còn trần tên Hoàng Hải Thủy mà
thôi. Thì ra những nhà xuất bản tiếng Việt ở Hoa Kỳ, khi cho in
lại những phóng tác của Hoàng Hải Thủy, đã không làm bậy mà chỉ
có sao in vậy. Đem truyện của nguời ta ra phóng tác mà không đề
tên nguyên bản của tác phẩm, không đề tên tác gỉả, coi như là
truyện mình sáng tạo ra, như thế tức là đạo văn, hay chính xác
hơn là “Đạo cốt truyện”, nói cho dễ hiểu và đúng với sự thực thì
là “ăn cắp” rồi còn gì. Cũng như khi một tiểu thuyết được đem
đóng phim đưa lên màn ảnh, nhà sản xuất lúc nào cũng vẫn phải đề
tên tác giả và tên truyện ngay phần đầu khi giới thiệu cuốn
phim, mặc dù cốt truyện có thể được thay đổi nhiều đến đâu chăng
nữa.
“… năm đó, tôi đã mắc cái tật ăn cắp hơi nặng… Mười hai tuổi,
tôi đã biết tìm đến hàng bán khóa ở Phố Chợ, hỏi mua một cái
chìa khóa tủ chè. Tôi chỉ cần dùng cái rũa đưa qua đưa lại vài
đường là cái chìa khóa riêng của tôi đã mở được khóa tủ chè của
mẹ tôi” (Sđd, trang 128-129).
Có lẽ tật ăn cắp của Công tử Hà Đông mắc phải từ nhỏ nay đã trở
thành thói quen. Còn nhỏ ‘ăn cắp’ của mẹ, lớn lên ‘thuổng’ cốt
truyện của người, tiếp nữa sẽ là gì?
Một tác phẩm, sau khi ra mắt công chúng, đều phải chấp nhận “búa
rìu dư luận”, không ngoài hai chữ “thuận” hay “chống”, nghĩa là
đồng ý hay không đồng ý, tùy theo sự nhận xét của người đọc về
tác phẩm. Tuy nhiên, để cho có được tinh thần của một cuộc tranh
luận nghiêm chỉnh hầu đi đến lẽ phải thì, dù đồng ý hay phản
đối, người viết cũng phải có những luận cứ rõ ràng dựa trên từng
điểm của tác phẩm mà mình có ý kiến, và nếu cần thì phải đưa ra
những bằng cớ để biện minh cho lập luận của mình. Không thể nói
mơ hồ, chung chung, vu vơ được. Phải xác định là đúng, sai ở chỗ
nào, như thế nào. Đừng chỉ kết luận theo định kiến mà không
chứng minh.
Khi muốn phản bác lại thì cũng vậy! Không thể đem đời tư của tác
giả vào bài viết, trừ trường hợp chi tiết về đời tư đó cần thiết
để soi sáng cho lập luận của mình. Nhất là khi lên án người nào
đó với trọng tội chẳng hạn như tội đại bất hiếu trong trường hợp
“Đập mả Bố” thì càng phải cực kỳ cẩn trọng, cần phải có những
chứng cớ hết sức rõ ràng khó lòng chối cãi. Rồi nếu sự thực cho
thấy những lời tố cáo chỉ thuần là vu cáo thì những kẻ tố cáo sẽ
đáng bị phỉ nhổ như những tên bất lương chứ không phải chỉ dễ
dàng thốt ra một lời xin lỗi xuông như ông Đỗ Văn Phúc đã hứa.
Thêm nữa, lời lẽ trong bài viết không thể phản ảnh tiếng nói của
“hàng tôm, hàng cá”, của những kẻ “đầu đường, xó chợ”, với những
từ ngữ tục tĩu, dơ bẩn để tỏ ra biết tự trọng, biết tôn trọng
người khác, nhất là tôn trọng độc giả.
Bài viết của các ông Thiết Trượng, Hà Tiến Nhất, Đỗ Văn Phúc, và
Hoàng Hải Thủy hoàn toàn không theo các nguyên tắc thảo luận kể
trên. Các ông đã lồng lộn lên vì hai chữ “thằng hèn” mà Tô Hải
đã tự nhận, rồi cứ gán cho Tô Hải là “Hèn!”, “Hèn!”, “Hèn!”… rồi
kết tội bằng cách lặp lại những gì chính Tô Hải đã tự lên án
mình.
Cho nên mục đích của các ông rõ ràng chỉ cố ý phỉ báng tác giả
Tô Hải một cách phi lý chứ không vạch ra được sai lầm nào đáng
kể trong “Hồi ký của một thằng hèn”. Trong khi Tô Hải đã “hết
hèn” thì chính các ông đã trở thành những “thằng hèn” vậy!
30/07/2009
© DCVOnline
nguồn (hai phần của bài viết):
http://www.vnisone.com/diendan/showthread.php?t=22285