đăng ngày: 22.01.2010 | email: gd_us@hotmail.com
|
|
|
Hòa thượng
Thích Đôn Hậu Tôn Nữ Ngự Bình | 2008
Năm 1964 tham gia GHPGVNTN, giữ chức vụ Chánh Đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh (gồm các tỉnh phía Bắc Trung phần) kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Thừa Thiên- Huế. Năm 1968 (64 tuổi), tết Mậu Thân Ngài bị cộng sản áp tải ra miền Bắc để lợi dụng Ngài hầu truyên truyền chính nghĩa cho họ. Sau ngày quốc hận 1975, từ Hà Nội Ngài được về lại Huế nhưng vẫn còn bị quản chế tại Viện Đại học Huế mà không được về chùa Linh Mụ của Ngài. Tiếp theo là pháp nạn XHCN diễn ra, những vụ đàn áp GHPGVNTN khốt liệt trên diện rộng từ Quảng Trị đến Cà Mau, biến cố này gặp phải phản ứng cao độ của Tăng ni, Phật giáo đồ. Nhà nước XHCN muốn lợi dụng uy tín Ngài hầu xoa dịu pháp nạn XHCN tại miền Nam đang lên cao. Cho nên “có tin điện của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Chánh phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ Sài Gòn điện ra, mời Hòa thượng vào tìm cách giải quyết cho một việc rắc rối giữa Phật Giáo Ấn Quang và Chính phủ. Nhờ vậy Hòa thượng mới được dịp vào thăm Hội đồng Lưỡng Viện” (tiểu sử niên biểu đã dẫn). Thầy Thích Đôn Hậu đã trãi qua suốt 8 năm trường (1968-1975) “nằm gai nếm mật” trong vòng cương tỏa của cộng sản. Trên vùng đất cộng sản dưới áp lực nặng nề của bạo quyền Hà Nội, những ai muốn sống còn thì phải biết sống để mà được sống và Ngài đã “biết sống” đã vượt qua bao gian nguy để trở về với GHPGVNTN. Cũng có không ít những trường hợp những nhà lãnh tụ tôn giáo khác lâm vào cảnh XHCN áp chế tương tự như Ngài, thế nhưng với do vì hoàn cảnh khác nhau, họ đã bị xoá sổ dưới tay cộng sản và những vụ án oan khuất kia còn chìm trong tăm tối! Như vụ án Giám Mục Nguyễn Kim Điền, vụ án thương tâm Thượng tọa Thích Mật Thể (người bị cộng sản đầu độc bằng cách trộn tóc nhuyển vào trong cháo cho ngài ăn để phải chết); Thượng tọa Thích Tố Liên (bị đuổi khỏi chùa Quán Sứ, biệt đày về nơi núi rừng tây Bắc, sống trong hoang vắng, đơn độc, thiếu thốn rồi bệnh tật mà chết); Thượng tọa Thích Trí Hải, Thượng tọa Thích Vĩnh Tường (người bị cộng sản bức tử bằng cách phải uống nước lò đúc đồng, dùng đúc tượng Phật mà chết), Cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám … (lầm tin cộng sản, bị cô lập mà chết) là những điển hình. Thầy Thích Đôn Hậu là người mai mắn sống sót trong số những nạn nhân cộng sản nói trên. Cho nên có không ít người cho Hoà thượng Thích Đôn Hậu là cộng sản mà không đưa ra được bằng chứng thuyết phục nào. Hay có người nhận định chính trị bằng con mắt toán học, theo đó, Thích Trí Quang, Thích Chánh Trực là những lãnh tụ Phật giáo miền trung là cộng sản; Thích Đôn Hậu cũng là lãnh tụ Phật giáo miền trung, do vậy cả 3 đều là cộng sản. Đó là cố tình đánh đồng Thích Đôn Hậu với Thích Trí Quang (vốn là cộng sản) để gán cho Thích Đôn Hậu là cộng sản. Theo cách nhìn đó, một khi Thích Đôn Hậu là cộng sản thì GHPGVNTN cũng là cộng sản, mà Liên Thành, Biến Động Miền Trung là một điển hình. (http://www.vietquoc.org/modules.php?name=News&file=article&sid=238). Rồi có người còn đi xa hơn nữa đánh đồng Thích Minh Châu với GHPGVNTN là một để áp đặt GHPGVNTN là cộng sản như Tú Gàn, cộng sản âm mưu biến đảng thành đạo. Những nhận định bệnh hoạn như thế đó là loại hội chứng Diệm 01-11-63 còn hằn sâu trong tâm thức chưa phai. Hơn nữa, Vấn đề chính trị thật đa dạng, làn ranh chính kiến Quốc Cộng cũng đan xen nhau rất phức tạp, do đó không thể lấy quan hệ thầy trò, huyết thống cha con, anh em, thậm chí quan hệ vợ chồng để đánh đồng chính kiến về một tổ chức hay một nhân vật. Điển hình như: cha là Đặng Văn Quang, đại sứ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam tại Liên Xô mà con gái Đặng Mỹ Dung (Yung Krall) lại là CIA, xem Ngàn giọt lệ rơi, Đặng Mỹ Dung (http://www.webwarper.net/ww/~av/www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=64) . Hay như Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bà Nguyễn Đình Chi (Hiệu trưởng trường nữ Đồng Khánh, Huế), đến “hơn nửa cuộc chơi” mới thấy chính kiến mình đã bị đánh lừa rồi mạnh dạn từ bỏ con thuyền của đảng mà về với dân tộc. Một vài điểm hình như thế cho thấy, có những trường hợp cùng huyết thống mà hai chính kiến Quốc Cộng khác nhau. Hay cũng có trường hợp nằm lâu trong lòng địch hằng chục năm để hoạt động gián điệp như Hoàng Nguyên Nhuận (Hoàng Văn Giàu) trong “chiếc áo” Trưởng ban chấp hành Đoàn sinh viên Phật tử Sài gòn (Quán Như, Mối tình đoàn hữu hơn ba mươi năm). http://www.giaodiem.com/doithoai/quannhugioithieuhvg.htm lại “lặn sâu” vào tổ chức Thanh niên Phật tử rồi “trèo cao” vào hàng cận sự của Hoà Thượng Thích Thiện Minh (Đỗ Xuân Hàng), Cố vấn Ban chỉ đạo, Viện Hoá Đạo (1977) nhưng sự thật Hoàng Nguyên Nhuận lại là một điệp viên hoạt động tôn giáo dưới quyền tướng tình báo cộng sản Ba Quốc; hay như Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh “qua lớp áo” phụ tá Đại tướng Dương Văn Minh lại là một gián điệp cộng sản nằm vùng nhiều năm trong Dinh độc lập; hay như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ (Hai Long), Lê Hữu Thuý… là những giám điệp có tiếng của cộng sản nhưng lại là được phủ chiếc áo “người quốc gia” nhiều năm tại miền Nam Việt nam. Hay như loại “nhà sư tham vọng chính trị” Thích Trí Quang (theo nhận định của Đại sứ Lodge) mà sau 40 năm (1966-2008), kể từ biến cố Phật giáo, “bàn Phật xuống đường” của Hoà Thượng Thích trí Quang, cho đến giờ nầy, chân tướng Sư Thích Trí Quang: Phạm Văn Bông (Phạm Văn Quang) chỉ mới hé mở có một nữa, sự thật vẫn còn đang giải mã. -Mark Moyar, Sư chính trị: Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam (Trần Hải dịch) http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3800 Cũng không thể do từ hiện tượng một người nào đó vì nhiều lý do phải sống trong lòng cộng sản nhiều năm, tham gia chính quyền cộng sản hay có quan hệ với cộng sản rồi đi đến kết luận rằng đó là cộng sản được. Do đó, không thể ngây thơ căn cứ “trên chiếc ao” hay dáng vẻ “bề ngoài” của xâu chuổi Tràng hạt hay cây Thánh giá mà phân định lằn ranh quốc cộng về một con người được đâu. mà cần phải quan sát vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau nhất là phải căn cứ vào những hệ quả tác hại do nó gây nên với người quốc gia thì mới rõ lẽ tận tường. Người xưa nói: “chờ đậy nấp quan tài rồi mới định luận được về một con người” (cái quan luận định). Hiện tượng “Phật giáo Ấn Quang” hay hiện tượng Hoà thượng Thích Đôn Hậu 8 năm (1968-1975) sống trong lòng Hà Nội có liên hệ mật thiết với nhà nước, một khi luận định làn ranh Quốc - Cộng về Ngài cũng cần nên tư duy như thế. Cho nên, với nhận định cho Hoà thượng Thích Đôn Hậu là cộng sản, đó là những nhận định chưa chân xác, thiếu cơ sở khoa học, không thuyết phục với nhiều người. Có 9 sự kiện sau đây để nói rằng Hoà thượng Thích Đôn Hậu không là cộng sản. Một. 1968 Mậu Thân Thầy Thích Đôn Hậu bị cộng sản áp tải ra Bắc chứ không phải theo cộng sản. Hai. 1969 Thầy Thích Đôn Hậu không đứng hầu quan tài Hồ Chí Minh. Ba. 1970 Thầy Thích Đôn Hậu Không ký tên vào Thông Điệp Phật Đản 2514 (DL. 1970) trước áp lực nặng nề của nhà nước Hà Nội. Bốn. 1975 Hoà thượng Thích Thiện Minh thẳng thắn đặt vấn đề quan niện chính kiến với Hoà thượng Hoà thượng Thích Đôn Hậu và theo cái nhìn của nhà chiến lược Viện Hoá Đạo thì Hoà thượng Thích Đôn Hậu không là cộng sản.
Năm.
1978 Thầy Thích Đôn Hậu Từ chức Đại biểu quốc hội khoá 6
(đơn từ chức ngày 26-10-1978) nước CHXHCNVN để Phản kháng về cái
chết của Hoà thượng Thích Thiện Minh trong ngục tù cộng sản
(Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 13); Thầy Thích Đôn Hậu nhân danh
Chánh thư ký, xử lý Viện Tăng thống đưa ra Lời Tuyên Bố (ngày
08-12-1978)
trước hai vị Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN để
tố cáo nhà nước gây ra cái chết với Hòa thượng Thích Thiện Minh.
Bảy. 1982 Thầy Thích Đôn Hậu Nhân danh Chánh thư ký, xử lý Viện Tăng thống phản đối Giáo Hội Phật giáo Việt nam chiếm đoạt trụ sở, hạ bản Viện hóa Đạo, GHPGVNTN.
Tám.
1991 (10-09) Thầy Thích Đôn Hậu trao truyền phó chúc mạng
mạch GHPGVNTN cho Hòa thượng Thích Huyền Quang; Khơi dòng chãy
khô cạn GHPGVNTN phục hoạt GH nầy sống lại đến nay; Thầy ra
Thông Điệp gởi Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng
Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam ở hải ngoại kêu gọi: Thành lập
Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất tại hải ngoại (Giáo
Hội Minh Hạnh Tập, bài 31). ====== Sử kiện Một. 1968 Tết Mậu Thân, Hoà thượng bị cộng sản áp tải ra Bắc chứ không phải theo cộng sản. Lúc 23 giờ, ngày 19-01 âm lịch (tức ngày 17-02 dương lịch). Chính quyền Cộng sản Việt Nam, dưới danh nghĩa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đã ra lệnh cho một toán người có võ trang đến chùa Linh Mụ “mời” Hòa thượng lên Trường sơn để tham gia kháng chiến cứu nước. Lúc nầy, thời tiết đang giá lạnh, nên bệnh xuất huyết dạ dày của Hòa thượng tái phát trầm trọng. Vả lại, là một vị Thiền sư chỉ chăm lo việc tu hành, nên Hòa thượng cũng chẳng thiết tha gì đến việc tham gia kháng chiến cứu nước như lời mời. Do đó, mà Hòa thượng đã viện dẫn nhiều lý do để từ chối, nhưng cuối cùng vẫn bị mời lên cáng khiêng đi “vì lệnh của cấp trên”. (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, tiểu sử niên biểu, tr. 6) Sử kiện Hai. 1969. Thầy Thích Đôn Hậu không đứng hầu quan tài Hồ Chí Minh. Dưới áp lực nặng nề của bạo quyền cộng sản, nhiều lãnh tụ tôn giáo như: Như Sư cụ Phạm Thế Long, chùa Cổ Lễ (chùa Thần Quang, tỉnh Nam Định) (Phó chủ tịch Quốc hội, VN dân chủ cộng hòa) http://www.tinparis.net/vn_index.html; Linh mục Võ Thành Trinh (Phó chủ tịch Quốc hội, VN dân chủ cộng hòa) http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4010 đã bị buộc phải đứng hầu quan tài Hồ Chí Minh khi xác chết Già Hồ còn quàn lại, đây chẳng những là điều nhà nước sĩ nhục tôn giáo mà còn là áp đặt chính trị với tôn giáo nữa. Phạm Văn Đồng đã áp lực Thầy Thích Đôn Hậu phải đứng hầu quan tài Hồ Chí Minh, Ngài Đôn Hậu từ chối với lý do: - Theo truyền thống Phật giáo, “Sa môn bất bái vương giả”; Theo đây Người xuất gia tu Phật thì chỉ lạy Cha mẹ một lần lúc thọ giới pháp của Phật, từ đó về sau không lại nữa. Cho nên "Tôi đã cát ái từ thân, bất bái quốc vương, bất bái phụ mẫu. Tôi chỉ biết lạy Phật mà thôi."; người xuất gia không thể đứng hầu người thế gian, xin cho tôi giữ tròn luật Phật. Ông nhà nước viện lẽ tiếp. "Nhưng mà Thầy kiêng quan tài của Hồ Chủ tịch nghĩa là thầy làm nghĩa vụ của một người dân chứ không phải là nghĩa vụ của một vị tu sĩ." Ngài Đôn hậu đáp: "Bây giờ Mỹ Ngụy còn ở Huế, làm sao mà chúng tôi đưa Thầy về Huế để xả giới được?" Chúng đành ngậm đắng nuốt cay mà bỏ qua vụ đó! - Để làm bổn phận công dân thì xin nhà nước hãy cho tôi trở về Huế, chùa Linh Mụ, nơi tôi lãnh thọ giới của Phật, tôi xả bỏ giới xuất gia tu Phật, sau đó tôi sẽ làm bổn phận công dân. Ông nhà nước vốn biết, có bao giờ họ cho Ngài trở về Nam lúc đó (vào năm 1969, khi 2 miền nam Bắc còn chia cắt). Cho nên nhà nước đành chịu mà chẳng biết xử sự ra sao. Nghĩa vụ vì với cái tên già Hồ bán nước hại dân kia. Sử kiện Ba. 1970 Thầy Thích Đôn Hậu không ký tên vào Thông Điệp Phật Đản 2514 (1970) dù dưới áp lực nặng nề của nhà nước Hà Nội. 8 năm sống trong lòng cộng sản Hà Nội, dưới áp lực thường xuyên của XHCN, đôi lúc Ngài phải “đẩy đưa” theo thời thế, kể cả “đưa đẩy” qua loại hình văn bản tôn giáo. Nhân Phật Đản 2514 (1970) lại về, Hà Nội cử ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến “thăm hỏi và tặng quà” Hoà thượng Thích Đôn Hậu, nhân tiện nhà nước XHCN cũng có soạn sẳn Bản Thông Điệp Phật Đản và vận động Hoà thượng ký tên để nhà nước ta “rao hàng” Xã nghĩa hầu tiếp tục lừa bịp quần chúng. Giai thoại về dự thảo Thông Điệp Phật Đản 2514 tại miền Bắc dưới đây do chính Ngài kể lại: Nhân dịp Đại lễ Phật đản 2514, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Hà Nội, đã soạn thảo sẵn một bức Thông điệp, dưới [cuối] bức thông điệp lại cẩn thận ghi tên[nơi chỗ ký tên]: Thích Đôn Hậu. Sau khi soạn thảo xong, ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, liền đem đến để Đại lão Hòa thượng xem và nhờ Đại lão Hòa thượng sửa chữa, thêm bớt trước khi đọc. Đại lão Hòa thượng xem xong rồi cười vui vẻ. Ông Chủ tịch Ủy ban Trung ương thấy Đại lão Hòa thượng cười vui vẻ, tưởng bức thông điệp đã đúng ý Hòa thượng. Ông Chủ tịch liền nói : “Thưa Sư cụ, Sư cụ có cần thên bớt, gạch bỏ những chữ nào không ạ ?” Đại lão Hòa thượng nhìn ông Chủ tịch rồi thong thả nói : “Xin phép Cụ Chủ tịch cho tôi được bỏ ba chữ !” Hòa thương kể tiếp: Chắc ông Chủ tịch nghĩ là trong một bức thông điệp dài gần hai trang đánh máy mà tôi chỉ xin gạch bỏ ba chữ thì sẽ không thay đổi gì về nội dung, chắc ông nghĩ như thế nên ông hỏi vội vàng: “Thưa Sư cụ, nên gạch bỏ ba chữ nào ạ ?” Tôi chậm rãi nói : - ‘Thưa Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho tôi gạch bỏ ba chữ - “Thích Đôn Hậu”. Sau khi nghe tôi nói câu ấy, nét mặt ông đang vui liền ủ xuống. Từ đó ông không nói thêm gì, ngồi nán lại một chặp rồi ông xin về.” (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, lời tựa). Sự kiện trên đủ nói lên đôi nét chân dung tôn giáo dưới vòm trời XHCN rằng nhà nước luôn âm mưu lợi dụng tôn giáo hầu tuyên truyền cho họ. Thế nhưng hòa thượng Đôn Hậu đã không để cộng sản lợi dụng Ngài. Qua đó cho thấy Thầy Thích Đôn Hậu đã “nói không” với cộng sản và như vậy,Thầy Thích Đôn Hậu không là cộng sản. Sử kiện Bốn. 1975 Hoà thượng Thích Thiện Minh (1905-1978) thẳng thắn đặt vấn đề lập trường chính trị GH trước thời thế với Hoà thượng Thích Đôn Hậu và theo cái nhìn của Hoà thượng Thích Thiện Minh, nhà chiến lược Viện Hoá Đạo thì Hoà thượng Thích Đôn Hậu không là cộng sản. Đoạn hỏi đáp dưới đây là trích từ Lời Phát Biểu của Hòa thượng Thích Đôn hậu Trước Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 11) giữa Hòa thượng Thích Thiện Minh với Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Phần chữ [Tôi nói] trong đoạn hỏi đáp dưới đây là lời của Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Thượng tọa Thiện Minh hỏi: “Thưa Hòa thượng, Hòa thượng trước kia thì không nói, từ nay sắp đi, Hòa thượng tham gia với tư cách gì? Cá nhân hay đoàn thể ? Tôi nói: “Tôi làm là cá nhân thôi. Trước kia cũng vậy, từ nay sắp lui cũng vậy, luôn luôn là cá nhân”. Thượng tọa Thiện Minh nói: “ Sao Hòa thượng không nhân danh là đoàn thể ? Tôi nói: Tôi không nỡ nhân danh đoàn thể, bởi vì Thượng tọa cũng như các vị Hòa thượng, Thượng tọa khác đã biết. Đôn Hậu này từ khi xuất gia, sau khi học Đạo cho đến mãi mãi ngày nay, Đôn Hậu không làm một việc gì cho riêng mình hết. Trong khi đó, làm riêng cái gì cũng được, nhưng mà không, làm cho Đạo thôi. Trước sau chỉ vì Đạo thôi. Ở ngoài tham gia cách mạng cũng vì Đạo, thì làm cái gì đã là vì Đạo, thì có cái thái độ gì, ngôn ngữ gì đều có lợi cho Đạo tôi mới làm, mà cái tổn thương cho Đạo nhất định tôi không làm. Tôi làm cái gì lợi ích cho Đạo thì trong tổ chức mình được nhờ, mà cái gì có hại thì Đôn Hậu tự chịu lấy. Nếu tôi nhân danh đoàn thể mà tôi tham gia, thì tôi làm sai cái gì đó là đoàn thể sai, tôi không nỡ để cho đoàn thể phải chịu cái tiếng tăm đó. Nói như vậy, Thượng tọa Thiện Minh gật đầu một cái gần sát bàn. Thượng tọa Thiện Minh hỏi thêm: “Thưa Thượng tọa, đành rằng Thượng tọa tham gia với tư cách cá nhân, nhưng Thượng tọa có muốn ai tham gia với Thượng tọa nữa không? Tôi nói: “Tôi chỉ biết tôi là nhiều rồi. Tôi tham gia là nhiều rồi. Còn ai nữa tham gia thì tôi không dám biết, mà dầu có ai tham gia đi nữa, thì tôi yêu cầu mình tham gia thì cứ là mình tham gia, đừng có cái mình tham gia rồi mình bắt buộc người khác cũng tham gia với mình. Thì cái chuyện đó tôi không đồng ý.” Thượng tọa hỏi: “Vì sao vậy? Hòa thượng nói rõ cho một chút”! Tôi nói: “Là thế nầy, tôi tham gia với tinh thần bảo vệ Đạo pháp, người khác không tham gia với tinh thần bảo vệ Đạo pháp, thì đứng ngoài bảo vệ Đạo pháp, hay vào trong đó để bảo vệ Đạo pháp in nhau. Cho nên tôi không muốn ai tham gia và tôi không rủ rê ai đi theo với tôi cả.”
“Đi lâu mới biết đường dài, Ở lâu mới biết con người phải chăng!”
Sử kiệnNăm.
1978 Thầy Thích Đôn Hậu Từ chức Đại biểu quốc hội khoá 6
(đơn từ chức ngày 26-10-1978) nước CHXHCNVN để Phản kháng về cái
chết của Hoà thượng Thích Thiện Minh trong ngục tù cộng sản
(Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 13); Đưa ra Lời Tuyên Bố (ngày
08-12-1978)
trước hai vị Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN để
tố cáo nhà nước gây ra cái chết với Hòa thượng Thích Thiện Minh.
Ngày 08-12-1978 trước hai vị Đại diện Ủy Ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN, Thầy Thích Đôn Hậu nhân danh Chánh thư ký, xử lý Viện Tăng thống đưa ra Lời Tuyên Bố tố cáo nhà nước XHCNVN gây nên cái chết oan khuất của Hòa thượng Thích Thiện Minh; Đòi sự công minh cho GH nầy mà bao năm qua đã bị cộng sản chà đạp. Thầy Thích Đôn Hậu phản kháng: “Hãy đưa cái chết của Thượng tọa Thiện Minh ra ánh sáng, nghĩa là phải đưa cái người giết Thiện Minh ra ánh sáng. Không nói lôi thôi gì hết. Có người giết!” (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 14, điều 2).Điều nầy cho thấy Hoà thượng Thích Đôn Hậu không là cộng sản. Nguyên văn Lời Tuyên Bố (xem thêm: Tôn Nữ Ngự Bình, Vụ án Hòa thượng Thích Thiện Minh) Sử kiện sáu. 1981 Thầy Thích Đôn Hậu từ chối tham gia GHPG quốc doanh qua 2 lá thư gởi Hoà thượng Thích trí Thủ, Chủ tịch Hội đồng trị sự GHPG quốc doanh và Thư gởi Hoà thượng Thích Đức Nhuận, Pháp chủ GHPG quốc doanh. Thư gởi Hoà thượng Thích trí Thủ, Chủ tịch Hội đồng trị sự GHPG quốc doanh (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 21). THƯ GỬI Phật lịch 2525, Linh Mụ, ngày 24 tháng 11 năm1981. Kính gởi: Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam. Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật Giáo Việt Nam. (tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4 đến 7-11-1981)
Thưa Hòa thượng, Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi vào Ban vận động, với danh nghĩa Cố vấn, nhưng tôi đã không có sự cộng tác gì với Ban vận động cả, kể cả cuộc Đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam vừa qua tôi đã vắng mặt. Thế nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật. Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống. Do đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn Chủ tịch cuộc Đại hội vừa qua. Kính chúc Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh di độ. Và mong Hòa thượng nhận nơi đây lòng chân thành của chúng tôi. Nay thư, Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU (ấn ký) Thư gởi Hoà thượng Thích Đức Nhuận, Pháp chủ GHPG quốc doanh (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 22). Phật lịch 2525, Bệnh viện Thống Nhất, ngày 08.02.1982 Kính gởi: Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Hòa Thượng, Vào những ngày cuối cùng của năm Tân Dậu, vì bệnh tình bức bách, nên ngày 21. 01.1982, tôi đành phải rời Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh, giữa lúc mọi người đang hoan lạc đón xuân sang, và cho đến hiện nay tôi vẫn đang còn được điều trị tại bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian ấy, ngày 07- 02-1982, tôi lại nhận được lá thư của Hòa thượng gởi cho tôi với danh nghĩa Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nội dung bức thư ấy, Hòa thượng báo tin cho tôi biết là Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật Giáo Việt đã thành tựu viên mãn, cũng như Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Bản Hiến chương, danh sách Ban Lãnh đạo và cho phép Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động. Đồng thời Hòa thượng đã có lời khuyên tôi cố gắng cộng tác với Giáo hội trong chức vụ nói trên. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng thạnh tình của Hòa thượng đối với tôi, đồng thời, tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng, thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết, vào đầu mùa xuân năm 1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện Thống nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong đó tôi được có tên với danh nghĩa Cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng phải vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già, sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó, tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng rõ là tôi không thể đảm nhận được chức vụ quan trọng "Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật" Giáo hội Phật Giáo Việt Nam mà hội nghị đã đề cử. Tuy vậy, riêng cá nhân, tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện sẽ tiếp tục đem tất cả sức tàn ra phụng sự chánh pháp trong khả năng còn lại của mình và trong điều kiện sức khỏe cho phép. Rất mong Hòa thượng thông cảm và nhận nơi đây lòng chân thành của tôi. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, chúng sanh dị độ. Kính thư, Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU ( ấn ký ) Sử kiện Bảy. 1982 Thầy Thích Đôn Hậu Nhân danh Chánh thư ký, xử lý Viện Tăng thống có công văn phản đối Giáo Hội Phật giáo Việt nam chiếm đoạt trụ sở, hạ bản Viện hóa Đạo, GHPGVNTN (Giáo hội Minh Hạnh Tập, bài 24). CÔNG VĂN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN TĂNG THỐNG Số 02/ 82/ VTT Phật lịch 2526, ngày 14. 7. 1982 Kính gởi: Hòa thượng THÍCH TRÍ THỦ, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung Ương Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Thưa Hòa thượng, Như Hòa thượng đã biết, vào ngày 7.7.1982 Ban Trị sự Thành hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, đã tự tiện đến công bố đoạt thủ trụ sở Trung ương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (số 243, Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh) mà không cần có sự thỏa thuận của chúng tôi! Thay mặt Chư Tôn giáo phẩm Hội đồng Lưỡng Viện và toàn thể Tăng Ni, Phật tử thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên và hoàn toàn không đồng ý đối với việc làm ấy của Ban Trị sự Thành hội. Nhân dịp nầy, chúng tôi xin nhắc lại với Hòa thượng rằng Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là một tổ chức không những có nhiều công lao xây dựng Đạo pháp mà còn có sự đóng góp lớn đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Ngay cả những vị lãnh đạo Phật giáo hữu danh trên đất nước nầy, trong đó có Hòa thượng, đều đã xuất thân từ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất mà được hiển đạt như hôm nay. Do đó, dù bất cứ ai có sự xúc phạm đến sự tồn vong của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, thiết tưởng Hòa thượng cũng phải trực tiếp chịu phần trách nhiệm đối với lịch sử Dân tộc và Đạo pháp. Huống nữa là trước hành động phi pháp và hoàn toàn trái ngược với giới luật Phật chế của Ban Trị sự Thành hội Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh đã nói trên, cũng như đối với tất cả các cơ sở của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất ở khắp các tỉnh, thị từ Quảng Trị đến Cà Mâu, nếu có xảy ra những trường hợp tương tự thì trách nhiệm của Hòa thượng lại càng lớn lao hơn nữa! Chúng tôi hy vọng Hòa thượng sẽ bày tỏ thái độ của mình trước những việc làm đó và sẽ có biện pháp giải quyết tốt đẹp. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, Bồ đề quả mãn. Nay kính, TM. Hội đồng Lưỡng viện GHPHVNTN. Chánh Thư ký Xử lý Viện Tăng Thống Hòa thượng THÍCH ĐÔN HẬU (ấn ký) Phó bản kính gởi: Ban Chỉ đạo Viện Hóa Đạo GHPGVNTN "để tri tường" Sử kiện Tám. 1991 Thầy Thích Đôn Hậu trao truyền phó chúc mạng mạch GHPGVNTN cho Hòa thượng Thích Huyền Quang; Khơi dòng chãy khô cạn GHPGVNTN phục hoạt GH nầy sống lại đến nay; Thầy ra Thông Điệp gởi Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam ở hải ngoại kêu gọi: Thành lập Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất tại hải ngoại (Giáo Hội Minh Hạnh Tập, bài 31) THÔNG ĐIỆP CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG CHÁNH THƯ KÝ XỬ LÝ VIỆN TĂNG THỐNG Phật lịch 2535: Huế, ngày 31 tháng 10 năm 1991 Thân gởi: Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam ở hải ngoại. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quý liệt vị, Trước hết, thay lời Chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử trong nước, tôi trân trọng gởi đến chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử Việt Nam ở hải ngoại lời thăm hỏi ân cần trong đạo tình nồng nhiệt nhất. Riêng tại quê nhà, mặc dù trải qua bao biến cố dồn dập của đất nước trong những năm tháng đã qua, nhưng tôi và quý vị trong Hội đồng Lưỡng Viện của Giáo hội vẫn giữ đúng truyền thống của Phật Giáo Việt Nam, trước sau như một. Sự chịu đựng kiên trì ấy, phải chăng đã làm sáng tỏ thêm đặc tính nổi bật của Phật Giáo Việt Nam là luôn luôn gắn liền với vận mệnh Dân tộc. Yếu tố căn bản để có được sự chịu đựng kiên trì như vậy, trước hết, chính là tinh thần thống nhất, đoàn kết và hòa hiệp của Tăng già. Từ đó, tôi tin tưởng rằng, dù có ra đi hành đạo ở bất cứ nơi đâu, quý liệt vị cũng sẽ cùng chung với chúng tôi một quan điểm ấy. Do vậy, vừa qua với ý thức trách nhiệm và kinh nghiệm của một người đi trước, tôi đã mạnh dạn gởi một bức Tâm thư đến quý liệt vị. May mắn thay, những lời thống thiết của tôi đã được đông đảo Chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni ở trong nước và hải ngoại đồng tình. Từ đó đến nay đã có rất nhiều văn kiện, điện tín, thư từ...gởi về tỏ bày đáp ứng. Sau khi đã nghiên cứu các văn bản và hiệp ý cùng chư vị Hòa thượng trong Hội đồng Lưỡng Viện, nay nhân danh Viện Tăng Thống, tôi xin chân thành khuyến thỉnh quý liệt vị lưu ý thực hiện mấy điểm sau đây: 1. Tất cả chư Tăng nguyên trước đây đã từng là Giáo phẩm, nhân sự, Tăng sĩ thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất , nay đang hành đạo và tu học tại nhiều quốc gia trên thế giới, nên có kế hoạch thành lập một Giáo hội hợp nhất, lấy tên là Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại Hải ngoại. 2. Nguyên tắc tổ chức của GHPGVNTN tại Hải ngoại căn bản dựa theo Hiến chương của GHPGVNTN, đã ban hành năm 1964, do một Ban Đại diện ( hoặc có thể là Ban điều hành.v.v.) trực tiếp lãnh đạo và chịu trách nhiệm với Hội đồng Lưỡng Viện tại quê nhà. Tuy nhiên, cũng có thể tùy theo điều kiện và bối cảnh cụ thể ở hải ngoại mà nghiên cứu phối hợp tổ chức cho hơûp lý, hữu hiệu: Nhằm thể hiện tinh thần hòa hiệp cao độ, tạo cho lịch sử truyền giáo của Giáo hội Hải ngoại có hệ thống chặt chẽ và quy mô hơn. 3. Để thực hiện được hai điều trên, yêu cầu cấp thiết và trước hết là phải thành lập xong các Giáo hội thực sự thống nhất tại mỗi quốc gia hiện có Tăng tín đồ Phật Giáo Việt Nam đang sinh hoạt. Đặc biệt, tại Hoa Kỳ hiện có 6 đến 7 tổ chức Phật Giáo Việt Nam, yêu cầu khẩn cấp vận động, điều hợp thành một Giáo hội duy nhất, và đề nghị nên hoan hỷ tự ý ngừng sinh hoạt các tổ chức riêng lẻ hiện có. 4. Giáo hội tại quê nhà cũng như cá nhân tôi và quý vị trong Hội đồng Lưỡng Viện sẽ không liên hệ mọi Phật sự với bất cứ một tổ chức Phật Giáo Việt Nam nào ở hải ngoại, nếu như ở đó chưa có một Giáo hội thật sự thống nhất và sẽ không yên tâm nếu như những điều khuyến thỉnh này chưa đạt được kết quả mong muốn. Thưa quý liệt vị, Trên đây là tất cả niềm thao thức của chúng tôi, những người đã và đang gắn chặt đời mình với sự thịnh suy của Đạo pháp, trong một hoàn cảnh hết sức phức tạp và khó khăn như hiện tại. Vì danh dự của Giáo hội, vì tiền đồ của Phật Giáo Việt Nam và vì sự quang vinh của Dân tộc, kính mong quý vị đặc biệt lưu tâm. Cầu nguyện hồng ân chư Phật gia hộ cho tất cả chúng ta. TM. Hội đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN. Chánh Thư ký Xử lý Viện Tăng Thống.
Đại lão Hòa thượng THÍCH ĐÔN HẬU Sau đó, y cứ tinh thần Tâm Thư nầy, Hoà thượng Thích Huyền Quang, Quyền viện trưởng Viện Hoá Đạo ban hành Quyết Định 27-1992 đặt cơ chế VP 2 GHPGVNTN hải ngoại, theo hoàn cảnh nhân sự thiếu vắng lúc bấy giờ, cơ chế VP2 GHPGVNTN hải ngoại trực thuộc GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ. Đến 2007 Viện Tăng thống đã ra Giáo Chỉ 09 ngày 08-09-2007 chính chỉnh cơ chế VP2, GHPGVNTN hải ngoại trực thuộc Viện Hóa Đạo trong nước như hiện nay (2008). Như vậy, phải nói rằng, Thầy Thích Đôn Hậu đã dành hết tâm lực cuối đời (1992) cứu sống GHPGVNTN trước “ngàn cân treo sợi tóc”. Sử kiện Chín. 1992. Theo Lời Di Huấn cùng tất cả bảy chúng đệ tử của Ngài, GHPGVNTN đã từ chối Huân chương Hồ Chí Minh do nhà nước XHCN áp đặt lên linh cửu Ngài. (Giáo hội Minh Hạnh Tập, bài 29). Tang lễ diển ra trước áp lực nặng nề của nhà nước, họ cố xóa diệt GH nầy. Với ý đồ chính trị thâm hiểm, Nhà nước muốn dành quyền tổ chức tang lễ Thầy Thích Đôn Hậu theo nghi thức quốc tang trong mục đích nhuộm đỏ GHPGVNTN, âm mưu nầy đã bị GH “từ chối”. Thế nhưng nhà nước lại bày kế khác: Họ áp đặt Huân chương Hồ Chí Minh lên linh cửu Ngài hầu lợi dụng danh đức của Ngài để che lấp tội ác ngút trời của họ. Việc nầy GH cũng đã phản ứng quyết liệt nên nhà nước đành phải nhượng bộ. Lời Di Huấn cùng tất cả bảy chúng đệ tử (19-02-1988) đã nói lên tâm nguyện tách nhà nước ra khỏi GH; tách chính quyền ra ngoài tôn giáo. Theo đó Ngài tỏ cho Tăng ni, Phật giáo đồ thấy biết rằng Ngài đã Nói Không Với XHCNVN.
Cùng tất cả thất chúng đệ tử: Lời kinh dạy: "Mạng người vô thường ngắn ngủi trong hơi thở". Thầy nay tuổi ngoài bát tuần, lại thêm trọng bệnh, sức khỏe yếu dần, giờ phút giã biệt các con không còn bao lâu nữa. Vậy, Thầy có vài lời tâm huyết căn dặn lại, một khi Thầy trút hơi thở cuối cùng: 1. Khi Thầy không còn nữa, anh em các con hãy biết thương quý nhau trong tinh thần hòa hợp. Người đi trước phải có trách nhiệm giúp đỡ, dìu dắt kẻ đi sau; nhất là đối với việc duy trì tịnh giới, tinh tấn tu hành để khỏi luống uổng chí nguyện của kẻ xuất gia. 2. Tang lễ của Thầy nên tổ chức một cách đơn giản, trang nghiêm và không kém phần đạo vị. Nên miễn giảm các nghi thức rườm rà, ảnh hưởng những đạo giáo của thế gian, mà không thể hiện được tinh thần thuần túy của Phật Giáo. 3. Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni có lòng đến dự tang lễ, phải thừa sự cúng dường chu đáo, xếp đặt chỗ ngồi tôn nghiêm, thỉnh mời các Ngài đứng ngồi theo ngôi thứ, bao quanh linh cửu, tụng kinh và niệm Phật theo chánh pháp. 4. Các cơ quan, đoàn thể công tư có lòng đến thăm viếng, phúng điếu, xin mời giữ im lặng tưởng niệm là đủ. Miễn tất cả sớ ai, điệp ai, tiểu sử hoặc tuyên dương công đức... trái với tinh thần vô ngã, vô tướng của Phật pháp. Hãy nhường những việc làm ấy cho lịch sử mai hậu. 5. Ngoài sự tụng kinh, niệm Phật, xin giữ thanh tịnh, không nên có tiếng kêu khóc, nhất là về phía Phật tử thiện tín. 6. Ban tang lễ nên cử bộ phận phát ngôn thay đổi làm việc. Ngoài bộ phận nầy, không ai được tự tiện phát biểu hay tuyên bố lời gì, nếu không có sự chấp thuận của Ban tang lễ. Suốt cuộc đời Thầy hơn tám mươi năm, sống tận tụy bên đồ chúng, không phải giờ ra đi chỉ để lại có bấy nhiêu lời. Nhưng vì đó là những điều cần yếu khi lâm sự, nên phải dặn dò, còn những ưu tư trong bản nguyện của Thầy đối với Đạo pháp, Dân tộc và đồ chúng thì không sao nói được! Là những người thường sống bên Thầy, các con phải tế nhị mà tự cảm nhận lấy. Còn như chỗ thâm yếu của giáo lý Phật đà thì các con phải cần dụng công tu tập mới có thể giác ngộ, chứ không thể dùng lời dặn dò mà được. Các con hãy luôn luôn thức tỉnh, nhớ nghĩ đến cuộc đời vô thường mà tinh tấn nhiều hơn! Hãy ghi nhớ lấy. Mong lắm thay! Linh Mụ, ngày 19 tháng 02 năm 1988 Lão bệnh Tỳ kheo ĐÔN HẬU 9 SỰ KIỆN trên cho thấy Thầy Thích Đôn Hậu danh vị Đạo – Đời, thế quyền bổng lộc cũng không mua được Ngài. Có không ít người do vì lầm tin cộng sản, do vì bị khống chế mà phải theo cộng sản thế nhưng ngoài Thầy Thích Đôn Hậu, Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bà Nguyễn Đình Chi (Hiệu trưởng trường nữ Đồng Khánh, Huế) thì có mấy ai trong số đó đã nói lên tiếng nói phảng kháng cộng sản đâu? Cho nên hãy thử đặt mình trong hoàn cảnh bị áp chế như Thầy Thích Đôn Hậu, bi đưa lên cáng võng áp tải lên Trường Sơn rồi đưa ra Bắc, sống với cộng sản 8 năm trường thì phải ứng xử ra sao? Để không bị nhuộm đỏ bởi cộng sản. Cho nên có nhiều cách nhìn khác nhau cho rằng Thầy Đôn Hậu là cộng sản (Liên Thành, Biến động miền trung 1- 2-3 http://www.vietquoc.org/modules.php?name=News&file=article&sid=238);
Thầy Đôn Hậu là giác ngộ cộng sản (theo cách tuyên truyền của
cộng sản); Thầy Đôn Hậu là thời thế đưa đẫy phải “sống trong
lòng Hà Nội”, … Ở đây, tôi cho rằng Thầy Đôn Hậu không là cộng
sản bởi Thầy đã trao truyền pháp lý kế thừa GH nầy cho Hòa
thượng Thích Huyền Quang, bằng cách trao ấn tín, chúc thư, chỉ
định Hòa thượng Thích Huyền Quang chức vụ Viện trưởng VHD kiêm
xử lý Viện Tăng thống, GHPGVNTN. Trong thời điểm GHPGVNTN lâm
vào cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” như bối cảnh tang lễ Thầy Thích
Đôn Hậu, giả như Thầy Đôn Hậu chỉ “siêu lòng” , “không có lòng”
hay “không thật lòng” với GHPGVNTN mà lại “có chút lòng” với
cộng sản thì GH nầy đã chết ngày từ những năm 1992 rồi. Cho nên,
9 sự kiện nêu trên cho chúng ta nhận định rằng Thầy Thích Đôn
Hậu không là cộng sản đó là sự thật. Thế nhưng sự thật bị xuyên
tạc nay đã được giải bày. http://www.tinparis.net/vn_index.html; và Linh mục Võ Thành Trinh (Phó chủ tịch Quốc hội, VN dân chủ cộng hòa) http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4010 phải đứng hầu quan tài Hồ Chí Minh; Rồi tiếp đến 30-03-1980 Nhà nước buộc Hoà thượng Thích Trí Thủ, chùa Già Lam với Giuse Maria Hồng Y Trịnh Như Khuê phải đứng hầu quan tài Chủ tịch nước, Tôn Đức Thắng http://www.gpnt.net/diendan/archive/index.php/t-2317.html, đây là tình huống tôn giáo bị sĩ nhục. Nay 40 năm sau, ngày 16 tháng 02 năm 2008 Tang lễ Cụ Hòang Minh Chính theo nghi thức Phật giáo do Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất (GHPGVNTN) chủ trì, chỉ với 4 chữ (tứ ngữ) SANH VỀ NƯỚC PHẬT tôn vinh cụ Chính, thật là tuyệt chiêu thượng thừa. Cụ Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng, Viện nghiên cứu Mác – Lê của Hà Nội, ông tổ lý luận Mác Lê cho con cháu Hồ Chí Minh mà đến hết đời không sanh về nước Mác mà lại sanh về nước Phật. Điều nầy cho thấy Buổi tang lễ cụ Hoàng Minh Chính – Chân Tâm (Chân Tâm là Pháp Danh của Cụ Chính, do Hòa thượng Thích Quảng Độ ban cho), điều nầy đã nói với toàn dân rằng: GH Phật giáo Việt nam Thống nhất đã có mặt tại Hà nội; Đây cũng chính là tình huống nhà nước được cái tát tay (đánh mà không cho khóc) từ GHPGVNTN theo kiểu “giáo dục từ xa” (từ Thanh Minh Thiền viện đến triều đình Hà Nội), một tuyệt chiêu “tứ ngữ” thật là ngoạn mục. 28 năm trước, 1980 Mai Chí Thọ, người đứng đầu công an XHCN cao giọng : [Phật giáo Ấn Quang] “Quí Thầy chỉ có 2 con đường, một là theo, hai là chống … mà không có con đường thứ ba”. Câu nói kia, 28 năm sau (1980-2008) phải nói lại thế nầy: nhà nước XHCN ngày nay chỉ có 2 con đường một là Chủ động dân chủ hóa toàn dân, theo mô hình đa đảng để được sống còn và hai là cố níu kéo tàn lực để Tự Sát mà không có con đường thứ ba. Không chủ động trước thời thế là tự hủy diệt mình là bài học lịch sử sáng giá với XHCNVN ngày nay, hãy nên khá biết. Đây là lần thứ 2, GHPGVNTN đã nói thay đồng bào, cất cao tiếng nói Dân Chủ, Đa đảng như có lần Thầy Quảng Độ đã nói thay cho tiếng nói dân oan trước quốc hội 2, vào tháng 07-2007. Xin cảm ơn Thầy Quảng Độ. Từ bài học Thích Đôn hậu cho thấy: Đôn Hậu hiện thân Phật Tâm - cư sĩ, tám bảy năm du phương, nào Thiên Hạ sự, nào vạn dậm đường, thế mà Pháp lữ tình thâm chan chứa núi sông.
Nhân đây cũng xin nói lời phụ lục: Bài nầy chính yếu tham khảo từ “Giáo hội Minh Hạnh Tập”, một tư liệu thuộc loại kỷ yếu nói về Thầy Thích Đôn Hậu do môn đồ biên soạn,sách còn dạng bản thảo chưa xuất bản. Minh Hạnh là tên hiệu của Ngài Đôn Hậu. Nhân đây cũng xin nói lời tri ân đến Quí môn đồ của Ngài, những người đã dày công biên soạn sách “Giáo hội Minh Hạnh Tập”. Hy vọng rằng trong tương lai như nhân duyên hội đủ, sách nầy sẽ được phổ biến rộng rãi cùng bạn đọc. Thiết nghĩ đó cũng là cách báo ân trong muôn một với bậc Thầy cao cả của Giáo Hội, Người đã “vững tay chèo” đưa GHPGVNTN qua cơn bảo tố phong ba, làm hồi sinh sức sống dòng chảy 2000 năm Phật giáo Việt nam.
|
© copyright giaodiem.us | 2009