Mấy Suy Nghĩ Rời Trong Đêm Giao Thừa Năm Dần (2010)
nguyễn văn hóa

Nạn “Hoàng họa” (Yellow Peril)
Một thời gian ngắn trước khi chế độ miền Nam sụp đổ, cố
học giả Nguyễn Hiến Lê cho ra đời thêm vài cuốn sách mới, không
những có giá trị thực chất về nội dung mà ông còn có ý hướng bồi
đắp cho thế hệ hậu sinh qua vài dịch thuật những kiến thức cần
thiết về văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, phối nhịp với chức năng phát
triển kinh tế, xã hội. Xin kể ra : Khổng Tử, Sử Trung Quốc, Lịch
Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa… Một cuốn sách
khác, đáng kể thêm: Những Vấn Đề Của Thời Đại (NVĐ-CTĐ),
là một tiểu luận về các vấn nạn tồn đọng của phát triển kinh tế
toàn cầu. Cuốn sau này, vì xuất bản quá cận kề ngày
30/4/1975
nên, tôi tin một số lượng nhỏ sách chưa được phân phối đến được
tay người đọc. Hẳn là vô tình, nhưng cuốn NVĐ-CTĐ tôi xem như là
một tác phẩm song song với Những Vấn Đề Triết Học Hiện Đại
(NVĐ-THHĐ) của cố Giáo sư Lê Tôn Nghiêm, bổ túc cho nhau về các
lý thuyết, tư tưởng và các vấn đề thực dụng đang hiện lưu trên
thế giới –cũng là đóng góp tư duy cần cho các chương trình phát
triển kinh tế-xã hội. NVĐ-THHĐ là cuốn sách hay và quá cần thiết
cho sinh viên mọi ngành. Tôi còn nhớ có hai chương nói về Cơ Cấu
Luận (Structuralism) và Triết học chính trị-xã hội của Max
Weber, trình bày thật hay. NVĐ-THHĐ có trong tủ sách gia đình
của tôi, nhưng ở ngoài chợ trời sách trên các vỉa hè Sài Gòn lúc
còn trong nước (5, 6 năm sau 30.4.75), tôi không thấy. Ở nước
ngoài trong hai thập niên qua, có lẽ không có ai biết để mang
theo, nên không hề thấy sách được in lại ? Tôi mong cuốn sách
này, nhờ qua phương tiện “chôm chĩa” nào đó, một số sách đã được
tiếp thu ra miền Bắc VN… chứ nếu để bị 'lửa cách mạng' hoặc các
gánh bán ‘ve chai’ tiêu hủy hết thì tiếc lắm. Xin được chấp vài
vái đến hương linh hai cụ.
Đặc biệt, trong các dịch tác về “lịch sử
văn minh” của thế giới, học giả Nguyễn Hiến Lê chọn dịch William
J. Durant, thay vì Arnold Toynbee có lẽ vì công trình của Durant
đồ sộ, công phu và có hệ thống hơn. Ở trong nước, kể từ khi cán
bộ Việt Cộng thay đổi cách ăn mặc –từ bỏ đôi dép râu, chiếc áo
tay cụt bỏ ngoài quần bằng đôi giày soulier, thắt cà-vạt với
gi-lê áo vét, là lúc những cuốn sách đã xuất bản ở miền Nam được
“cóp” và in lại, khá nhiều. Tôi không tin hiện tượng này là do
chính sách của Bộ Văn hóa-Thông tin, Bộ Giáo dục đào tạo mà vì
yếu tính của kinh tế thị trường. Những cuốn sách của các tác giả
ở miền
Nam
bán chạy, vì có nhiều độc giả ưa chuộng (kể cả các độc giả xuất
thân từ xã hội cộng sản miền Bắc hay đang trưởng thành sống một
gian đoạn với cộng sản ở miền Nam), nên lời nhiều. Có lời nhiều
thì sách được in ra với số lượng lớn, tái bản nhiều lần. Từ đó,
nảy sinh ra hiện tượng “đạo văn, đạo nhạc, đạo tranh”..đang phổ
biến ở Việt
Nam.
Cũng có thể có cả hiện tượng “đạo sách” nữa, như họ dùng một
cuốn sách (dù không có giá trị gì ) nhưng dễ tạo ra các thị hiếu
nhất thời như các chuyện tình, kích dục… rồi xáo trộn các phần
giữa, phần đầu, viết lại phần kết luận và thay đổi tựa đề sách.
Xong rồi đem bản đánh máy đi chạy chọt, hối lộ, “đi lể” với các
cấp quan quyền kiểm duyệt, cho in sách, phát hành… và ngồi chờ
chia lời. Một cuốn sách mà tác giả được chia vài chục triệu đồng
(vài ngàn đô Mỹ) là có thể sống được nửa năm, một năm, ai lại
không muốn làm trong một xã hội nhố nhăng, bịp bợm như xã hội
Việt Nam hiện nay!?
Trong dịch tác Lịch Sử Văn Minh Trung
Hoa (LSVMTH) của William Durant (sách này đã được Nhà xb Văn
hóa-Thông tin của Việt Cộng in lại), có cả phần ghi chú của học
giả Nguyễn Hiến Lê. Trong chương III, Bắt Đầu Một Trật Tự Mới,
tác giả Durant nhận xét rằng nhờ vào hình thức hôn nhân cổ ở
Trung Hoa đã tàn lụi, nhiều thanh niên đã tự chọn bạn trăm năm.
Chế độ đa thê đã suy, trai gái được tự do và chung đụng trong
các trường Đại học. Nhất là từ giai đoạn chế độ cộng sản Mao
Trạch Đông, quyền phụ nữ đã ngang hàng với nam giới. Phụ nữ đã
biết cai đẻ, ngừa thai. “Họ không còn giết con khi không muốn
nuôi nữa, và họ bắt đầu hạn chế sinh dục. Từ khi có cách mạng
đến nay, dân số không tăng lên mấy; có thể nó đã bắt đầu giảm
nữa.” (trang 345…đến 346, sách đã dẫn). Ở đoạn này, Nguyễn
Hiến Lê đã ghi chú như sau:
“Châu Âu đỡ lo một phần nào về “hoàng
họa” (họa người da vàng) vì các tiệm thuốc Trung Hoa quảng
cáo mạnh các phương pháp và thuốc ngừa thai. [ Dân số
Trung Hoa chưa bắt đầu giảm đâu; hiện nay người ta tính rằng họ
đã có non 800 triệu dân, và trước cuối thế kỷ này sẽ có trên một
tỉ. ]” (trang 346, sđd).
Tiếc là William Durant bắt đầu viết tập
LSVMTH hơi sớm (bắt đầu Đệ Nhị Thế Chiến) và hoàn tất vào giai
đoạn mở đầu cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao, nên có nhận xét về
nạn nhân mãn Trung Hoa lục địa không được đầy đủ. Thiếu sót đầu
tiên là bởi, Trung Cộng trong giai đoạn ‘cách mạng văn hóa’ đang
là một xã hội đóng kín, đâu có phổ biến con số thống kê chính
xác ra bên ngoài. Khi viết “Từ khi có cách mạng văn hóa đến nay,
dân số không tăng lên mấy; có thể nó bắt đầu giảm nữa” là cách
nói ức đoán thôi. Thứ đến, có lẽ xuất phát từ những thông tin
tình báo của phương Tây, người ta ước lượng cộng sản Tàu đã giết
hại hàng triệu người dưới thời Mao, và với chính sách hạn chế
sinh đẻ khắc nghiệt của Đảng Cộng sản, dù cho có tiêu hủy bớt
vài chục triệu sinh mạng trong vòng hai thập niên thì cũng chưa
phải là “giảm”.
Ngày nay, Internet là nguồn phương tiện
mênh mông và cập nhật thường xuyên, nên vấn đề dân số của Trung
Quốc đã được công bố rõ ràng. Theo vài nhà nghiên cứu độc lập,
thí dụ : nhà địa dư học Matt Rosenberg trong: The Handy
Geography Answer Book and The Geography Bee Complete Preparation
Handbook giữa năm 2008, dân số Trung Quốc trên 1.3 tỉ người
(1,330,044,605 as of mid-2008), chiếm 1/5 dân số toàn cầu (6.7
tỉ); con số với thời gian gần nhất theo tài liệu thư viện online
của
CIA, dân số Trung Quốc vào tháng 7/2009 gần 1.4 tỉ (
1,338,612,968 ). Một nhà địa dư học khác, A. A. Bennet nêu ra
một thắc mắc là kể từ khi Mao Trạch Đông thắng Quốc Dân Đảng và
cộng sản cầm quyền trong vòng 45 năm với chính sách tàn sát đối
lập và dân chúng cộng với chính sách hạn chế sinh đẻ (như chính
sách một-con [one-child policy] ) và các nạn đói ăn xảy ra liên
miên thế mà dân số lại tăng gấp đôi (1950 Dân số = 550 Triệu,
1996 Dân số = 1.2 Tỉ) là nghĩa làm sao? Vậy thì, dưới một chế độ
cộng sản, độc tài chưa hẳn là có hiệu quả trong việc ngăn chận
nạn nhân mãn?. Cho nên, theo bản tin của Tân Hoa Xã vào ngày
21/7/2009 tuyên bố mạnh mẽ rằng đến năm 2030, khi dân số Trung
Quốc tăng lên đỉnh điểm 1.465 tỉ người thì mức phát triển dân số
sẽ là zéro, thật khó mà tin được. (Tian Xueyuan, former
president of the Institute of Population and Labor Economics
under the Chinese Academy of Social Sciences (CASS), said at an
economic and social development forum: "Zero growth could be
realized when the country's population hit the peak of 1.465
billion by 2030," ).
“Yellow Peril” (Pháp ngữ: Le Péril Jaune), học giả
Nguyễn Hiến Lê dịch là “Hoàng họa” nghe hợp lý, thay vì nói “họa
Da Vàng” (dù cả hai nhóm từ đồng nghĩa). “Hoàng họa” làm cho ta
liên tưởng ngay là “họa người Tàu”, chủng tộc Tàu. Nói “họa Da
Vàng” tức là bao trùm hết cả vùng Á Châu mà đứng ở vị trí địa lý
của người Âu, thì Á Châu là vùng Viễn Đông (Far East) bao gồm:
Đông Á (East Asia) và Đông Nam Á (South-East Asia). Đông Á gồm
các quốc gia : Trung Hoa lục địa, Mông Cổ (Mongolia), Hong Kong,
Nhật, Macau, Bắc Hàn, Nam Hàn, Đài Loan với tổng diện tích :
11,839,074 cây số vuông; Đông Nam Á bao gồm : Brunei, Cambodia,
Indonesia, Laos, Malaysia, Miến Điện (Myanmar), Papua New
Guinea, Philippines, Singapore, Thailand, Timor-Leste, và
Vietnam với tổng diện tích : 5,000,000 cây số vuông.
Tổng cộng
: [ Diện tích (Đông Á + Đông Nam Á) = 12%
so với Diện tích đất của các quốc gia trên thế giới cộng lại
(không kể biển) -> 16,839,074 cây số vuông/ 148,940,500 cây số
vuông]; [ Dân số (Đông Á + Đông Nam Á) = 32.1% so với Dân số
toàn cầu -> 2,148,784,500/ 6,692,030,277 (năm 2008).
Vậy, với diện tích = 12%, nhưng dân số
chiếm 1/3 (32.1%) so với toàn cầu là con số thiếu cân đối trong
vấn đề phát triển. Chúng ta cũng nên lưu ý, vùng Trung Đông
(Middle East) không được kể là Á Châu, vì họ được xếp là Dân Da
Nâu (Brown Race); trong khi đó, về dân số và diện tích của Trung
Quốc so với Đông Á + Đông Nam Á là ¾ ( 75% ) . Cho nên, khi
người ta nói “Hoàng họa” là ám chỉ trực tiếp đến chủng tộc Tàu
là điều hợp lý thôi.
Ở cộng đồng người Việt nước ngoài, giáo
sư Cao Huy Thuần là người đầu tiên xướng xuất về viễn tượng
“Hoàng họa” qua bài tham luận “Trung Quốc: Một Dấu Hỏi” được đọc
tại Hội thảo về Phát triển khu vực chấu Á Thái Bình Dương và
tranh chấp Biển Đông vào ngày 15-16.8.1998 tại New York City.
Khi “dấu hỏi” về một cường quốc đang lên (a rising power) là
Trung Quốc, thì đó phải là một dấu hỏi lớn. Qua bài tham luận
của Cao Huy Thuần không ai có thể phủ nhận “cường quốc đang lên
ấy” là một hiểm họa, dù ông không hề đề cập trực tiếp về nạn
“Hoàng họa” –một vấn đề còn tế nhị, phức tạp rối rắm nhiều hơn là sức
mạnh kinh tế và vũ khí nữa. Công bố cái “dấu hỏi về Trung Quốc”,
Gs Cao Huy Thuần không chỉ nêu bật vai trò một nhà chiến lược
(strategist), ông còn muốn đề cập về nó trên “cương vị Việt Nam”
–đó là thái độ của một kẻ sĩ thời đại, của ‘một người yêu nước
mình’ trước tình huống “vị thế răng môi” Trung Quốc-Việt Nam.
(Có người nói Gs Cao Huy Thuần là một người “thân cộng” là một
kiểu tư duy dại dột, chỉ làm cho cộng sản vênh váo hơn lên
thôi…) Từ đó, ông đối chiếu tới hai khả thể khách quan có thể
cứu lấy Việt Nam : một, là thế ‘balancer’ cán cân lực lượng của
Mỹ trước “sự bắt tay của Trung Quốc-Nhật (hoặc “ưu thắng của
nước này trên nước kia”); hai là, Việt Nam cần có tầm chiến
lược để bảo vệ mình như Đài Loan đã tự bảo vệ họ trong tư thế
một ‘quốc gia độc lập’, khác với Trung Quốc -bằng một hệ thống
chính trị dân chủ.
Tự ví mình “như là một trí thức trói gà
không chặt”, ông Cao Huy Thuần không dám mơ ước gì hơn là dùng
“văn hóa như là chiến lược”, tức là phải tách bạch sự khác biệt
giữa văn hóa “da vàng Tàu” và “da vàng Việt”. Qua thực tế lịch
sử, thì sự dị biệt ấy rất sâu xa, dù khi các cụ của ta ngày
trước nói “Tam
giáo đồng quy” đi nữa, nội dung và sự kết nạp “tam giáo” giữa
hai nước cũng không hề tương đồng. Đó là lý do tại sao nước ta
trong một ngàn năm bị Tàu đô hộ, vẫn không hề bị đồng hóa.
Ở Mỹ, sau Đệ Nhất Thế Chiến bốn năm
(1922), Lothrop Stoddard qua Cơn Triều Đang Lên Của Dân Da
Mầu Đối Kháng Với Quyền-Chủ-tể Của Dân Da Trắng (The Rising
Tide of Color Against White World-Supremacy) đã không hề thấy
“xấu hổ” về dư luận (có thể có) chỉ trích ông kỳ thị chủng tộc,
đã dùng nguyên một chương để nói về nạn “Hoàng họa”. Ông nói
thẳng “Hoàng họa” chính là anh Tàu Trung Quốc.
Trong Chương II, Vùng Đất Của Người Da Vàng (Yellow Man’s
Land), Stoddard viết:
“Chủng tộc tập trung của thế giới da
vàng luôn luôn là Trung Hoa. Từ buổi bình minh của lịch sử,
chủng loại to lớn này là trung tâm văn minh phát tỏa khắp vùng
Viễn Đông. Qua “Vương Quốc Đứng Giữa”, những thân tộc chung
quanh học đòi một kiểu là dân Nhật và Hàn Quốc ở phía đông;
Thái, Anam-mít (Việt Nam) và Căm-bốt ở phía nam; phía bắc thì có
dân Mông-cổ và Mãn-chu. Đối với những giống người này, Trung Hoa
là một ông thầy giáo oai vệ, đôi khi còn trừng phạt (chúng) về
sự tự phụ, nếu chưa được luôn thấm nhuần các nguyên tắc văn minh
trật tự của họ. Tuy vậy, vẫn có một vài phát triển riêng lẻ
những giống dân Viễn Đông khác nhau, họ đều xuất phát từ cái nền
của Trung Hoa. Dù cho một Nhật Bản hiện đại thức dậy trong
thoáng chốc làm chủ tể chính trị của Viễn Đông, không được quên
rằng Trung Quốc vẫn duy trì không những về văn hóa mà còn là đất
đai và chủng tộc trung tâm của thế giới da vàng. 4 phần 5 chủng
tộc da vàng tập trung ở Trung Hoa, gần 400 triệu người Tàu so
với 60 triệu người Nhật, 16 triệu người Hàn, 26 triệu người Đông
Dương, và có thể là 10 triệu dân không phải gốc Tàu quanh vùng
biên giới của Trung Hoa.” (The Rising Tide of Color Against
White World-Supremacy, by Lothtrop Stoddard). [ lưu ý: con số
thống kê trên vào năm 1922! ] (*)
Quả đúng như Gs Thuần đã viết, khi người Âu (dù ở level trí thức
nào) đề cập tới người Tàu và Việt họ đều đánh đồng hai giống dân
này chỉ là một. Tàu là Việt mà Việt cũng là Tàu. Họ không hiểu
được sự dị biệt về chủng tộc, văn hóa, cá tính, tâm lý, tập
quán, tín ngưỡng giữa người Tàu và người Việt. Nhân vật mà tôi
đề cập ở trên –Lothrop Stoddard là một sử gia, đậu tiến sĩ Sử
học ở Harvard vào đầu thế kỷ 20, cũng không nhìn khác. Có điều
vì là một người có kiến thức rộng nên, Stoddard thấy rõ là dân
Nhật đã học hỏi kỹ thuật, khoa học của người da trắng để trở
thành một quốc gia da vàng hiện đại, đánh ngã Nga da trắng
(1904) , chiếm ngự Tàu da vàng (1894) , nhưng ông biết rằng
những chiến thắng thoáng chốc đó không thể làm cho Nhật trở
thành trung tâm “họa da vàng”, mà cái họa sớm hay muộn sẽ đến từ
Trung Quốc. Mặt khác, một số dân tộc tính của người Nhật (giống
như người da trắng) không có khả năng chịu đựng nóng nhiệt đới,
lại không có khả năng thích ứng với cái lạnh vùng Nam-Bắc cực.
Khi chiếm đóng
Formosa (Đài Loan) –dù không phải là vùng nhiệt đới, Nhật vẫn
không thành tựu được vai trò thực dân nữa là. Trong khi da vàng
Tàu, dù cho có di cư đến vùng Siberia họ vẫn có khả năng thích
ứng và chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt như thường. Vì sao
vậy? Stoddard trích lại nhận xét của Doctor Wu-Ting-Fang (học
giả người Tàu) : “Kinh
nghiệm đã xác nhận rằng người Tàu là những người lao động ở khắp
mọi nơi dễ dàng vượt xa mọi đối tác. Họ là những người siêng
năng, thông minh và kỷ luật. Họ có thể làm việc dưới những điều
kiện có thể chết người với một chủng tộc kém sức chịu đựng hơn;
trong một cái nóng như rồng phun lửa, trong cái lạnh chỉ dành
cho loài gấu bắc cực, cố sức chịu đựng suốt hàng giờ dài làm
việc cực nhọc chỉ để đổi lấy vài bát cơm ăn.” (**)
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, người Nhật đã thấy được rằng họ không có
quyền lợi sống còn ở các vùng nhiệt đới châu Á cũng như Trung
Quốc nữa; trái lại, Trung Quốc âm thầm bành trướng thực dân bằng con
đường mậu dịch và di dân. Đối với Trung Quốc, những nguồn lợi
thiên nhiên ngoài Á châu là Mỹ, Úc, một phần Châu Mỹ Latinh ở bờ
biển phía Tây. Nhưng những vùng đất này đã được xác lập bởi
người da trắng; do đó Tàu chỉ có thể phá vỡ các rào cản này bằng
sức mạnh thôi. Đó là điều không tưởng, nên trước sau, Trung Quốc
vẫn chỉ nhắm vào các nước da vàng của Á châu, từng bước làm
chủ-tể thống lĩnh về mọi lãnh vực, mà các nước lân bang “môi hỡ
răng lạnh” là điểm nhắm đầu tiên.
Điều tưởng chỉ là viễn tượng nói trên,
nay đã thành thực trạng. Từng bước hiển lộ, Trung Quốc đang tìm
cách khuất phục ý chí của Đảng Cộng Sản VN, bắt đầu từ các nhân
vật trong Bộ Chính Trị. Trung Quốc có nhiều khả năng thành công
(và đã thành công một phần), ngoại trừ một nước Việt Nam được
dân chủ hóa chính trị cấp thời để nhận sự hậu thuẫn của Tây
Phương (như Đài Loan hiện nay) mà giáo sư Cao Huy Thuần mơ ước.
Trong khi đó, giả thiết về một hiện tượng mặc cảm tâm lý tự ti
(lẫn tự tôn) yếu kém với người da trắng, có thể có một số người
Việt (bao nhiêu phần trăm dân số ?) sẽ hùa theo sức mạnh quân sự
và vũ khí đang lên của Trung Quốc –thỏa hiệp bằng tinh thần muốn
thấy một châu Á da vàng hùng cường đương cự lại với sức mạnh da
trắng (Mỹ) trong tương lai. Một hình thức “Đại Đông Á” của thế kỷ 21.
Sự kiện này nếu có thể xảy ra, đích thực là một đại họa không
riêng cho nước Việt Nam, các quốc gia “da vàng” dị biệt với
Trung Quốc về văn hóa và ngôn ngữ, mà còn cho cả thế giới vào
giữa thế kỷ này.
(còn tiếp)
nguyễn văn hóa
Giao thừa Canh Dần (13.02.2010)
Vài chú thích:
(*) “The ethnic focus of the yellow world has always been
China. Since the dawn of history this immense human ganglion has
been the centre from which civilization has radiated throughout
the Far East. About this "Middle Kingdom," as it sapiently
styled itself, the other yellow folk were disposed-Japanese and
Koreans to the east; Siamese, Annamites, and Cambodians to the
south; and to the north the nomad Mongols and Manchus. To all
these peoples
China was the august preceptor , sometimes chastising their
presumption, yet always instilling the principles of its ordered
civilization. However diverse may have been the individual
developments of the various Far Eastern peoples, they spring
from a common Chinese foundation. Despite modern Japan's
meteoric rise to political mastery of the Far East, it must not be forgotten that
China remains not only the cultural but also the territorial and
racial centre of the yellow world. Four-fifths of the yellow
race is concentrated in China, there being nearly 400,000,000
Chinese as against 60,000,000 Japanese, 16,000,000 Koreans,
26,000,000 Indo-Chinese, and perhaps 10,000,000 people of
non-Chinese stocks included within China's political frontiers.”
(by Lothrop Stoddard, A.M., Ph.D PART I - The Rising Tide of
Color CHAPTER II YELLOW
MAN'S
LAND New York 1922)
(**) "Experience proves that the Chinese as all-round laborers
can easily outdistance all competitors. They are industrious,
intelligent, and orderly. They can work under conditions that
would kill a man of less hardy race; in heat that would kill a
salamander, or in cold that would please a polar bear,
sustaining their energies, through long hours of unremitting
toil with only a few bowls of rice." (Sách dẫn như trên, Quoted
by Alleyne Ireland, "Commercial Aspects of the Yellow Peril,"
North American Review, September, 1900.)