đăng ngày: 16.04.2011
|
|
|
Vàng rơi, vàng rơi : thu mênh mông Vàng rơi và “vàng chạy” Hai chữ “vàng rơi” ở trên nằm trong hai câu thơ kết trong bài thơ diễm tuyệt “Tỳ Bà” của Bích Khê. “…Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng. Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.” Khi những chiếc lá vàng trên cây ngô đồng rụng lá, vẻ nên một bức tranh mênh mông buồn của mùa Thu. Nhưng, ‘vàng chạy’ mà tôi muốn đề cập trong bài viết này là vàng kim loại. Một quý kim. Một quý kim nặng, nên gió không thể đẩy đưa la đà trên mặt đất, mà phải nhờ sức người làm cho vàng biết “chạy”. Có nhiều cách làm cho vàng chạy: hoặc chôn dấu xuống lòng đất, thu dấu ở một nơi kín đáo nào đó trong nhà, hoặc hoán mãi và tống xuất vàng ra khỏi biên cương chu du khắp thiên hạ, trốn biệt quê nhà, kể cả chủ nhân của nó. Khi vàng vắng bóng ở một quốc gia nào đó trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, lạm phát cao thì, một “mùa thu kinh tế” thê lương bắt đầu ló dạng. Người ta còn nói vàng có ma. Hồi còn nhỏ, tôi được nghe mẹ mình kể, có những đêm trăng ở trên những đồi cát dọc theo bờ biển của các vùng Diên Trường, Xuân Ổ, Diên Đại ở Huế, hàng đêm dân làng thấy vàng như những chiếc xe đồ chơi nhỏ óng ánh nối nhau chạy trên các đồi cát. Số là ngày xưa đây là vùng đất của người Chiêm Thành, thành phần giàu có, gia đình quan quyền người Chiêm sợ những thực dân người Việt đến cướp bóc và giết hại nên họ chôn dấu vàng xuống lòng đất. Đến khi chủ nhân của nó gặp nạn, bị giết chết, vàng mất chủ trở nên linh thiêng thường xuất hiện về đêm để đi tìm chủ. Có một số nông dân người Việt sống tu nhân tích đức, có khi tìm được vàng trong những lần đào kinh, vét mương rồi trở nên giàu có. Ở làng Chuồn quê bà nội tôi, có những người giàu có, tích trữ nhiều vàng (đặc biệt là vàng nén, vàng thoi), mỗi năm họ phải làm một buổi lễ “chào vàng” rất uy nghiêm vào đêm trăng rằm. Họ tin nếu không làm vậy, vàng có thể sẽ bỏ chủ nhân ra đi.. Có lẽ ngày xưa đất Việt Nam có nhiều mõ vàng. Khi khai thác được vàng, họ đúc vàng thành từng thỏi, hoặc làm đồ trang sức cho phụ nữ như vòng, xuyến, nhẫn.. Tích trữ vàng trở thành một thông lệ để làm của. Người Cộng sản nghĩ rằng họ là một giai cấp “vô sản” –một giai cấp tiên tiến, cho nên họ thù ghét những thành phần tư sản trong xã hội, dù là tư sản về tư liệu sản xuất, hay tư sản của cải. Từ sự thù ghét, họ bị ám ảnh về của cải, mà vàng là thứ của cải hiếm quý nhất. Sau khi chiếm được miền Nam, xuyên suốt thời kỳ từ cuối năm 1975 đến 1981, họ áp dụng và thi hành chính sách “đánh tư sản mại bản” trong nhiều lần. Nhiều đợt đổi tiền xảy ra là nhằm thu tóm của cải (trong đó của cải đáng giá nhất là vàng) không riêng thành phần tư sản mà, toàn thể những người dân miền Nam sung túc có quý kim cất dấu. Nhà nước CS đã thu tóm vàng như thế nào? –Xuyên qua từng chiến dịch tuyên truyền đe dọa và trấn áp tinh thần, người dân phải “thành thật” khai báo, đem dâng nộp vàng cho cán bộ cộng sản vì sợ hãi; bị cán bộ công an lục soát ở tư gia, nhưng thông dụng nhất là sau mỗi lần đổi tiền giấy cụ Hồ. Tiền cụ Hồ là một mới giấy lộn vô giá trị kinh tế, nên sau khi đổi tiền mới, mỗi gia đình đều bị đánh mất một số tài sản ít hoặc nhiều, nhưng vẫn còn cất dấu được một ít vàng. Và để nuôi sống các miệng ăn trong gia đình, dân đem vàng đi bán. Mới đầu bán ra một vài chỉ đến vài lượng, rồi vài chục lượng. Nhưng dân bán vàng cho ai? Một chế độ kiểm soát dân bằng hệ thống công an, chỉ điểm xuống tận phường khóm, tổ dân phố thì tất nhiên những kẻ mối lái để thu mua vàng cũng được kiểm soát bởi công an, hay nói cách khác, vàng cuối cùng rồi sẽ đi vào túi cán bộ. Thời gian trôi mau, một gia sản chừng vài chục lượng vàng lá Kim Thành, vàng Ba Trái Núi bay mất khỏi nóc nhà của những người dân miền Nam lương thiện. Tất nhiên, ngoài số vàng bị thất thoát vào túi của cán bộ, công an địa phương, phần còn lại sẽ nằm dưới sự thủ đắc của Bộ Chính Trị và Trung ương đảng CSVN. Một sáng kiến thu tóm vàng “tài tình” khác là chủ trương trục xuất những thành phần người Hoa ra khỏi nước bằng đường biển. Dựa vào tình huống này, dĩ nhiên cũng có một số người Việt đi hùa, nếu có khả năng đóng tiền vàng. Đây là cơ hội mà trung ương đảng cộng sản cho phép các đàn em và tay chân hối lộ, ăn chận. Ăn chận, hối lộ cỡ nào thì cũng là chuyện lẻ tẻ thôi so với khối lượng vàng khổng lồ mà đảng sẽ thu tóm được sau đó. Trung bình mỗi đầu người đóng từ 5 đến 10 lượng vàng nếu là người Việt; vài chục lượng vàng trở lên nếu là Hoa kiều. Số lượng vàng khổng lồ này tùy sự thỏa thuận ngầm mà có tỷ lệ chia chác khác nhau: một số vàng trực tiếp vào túi thành phần công an nhân dân tổ chức bán bãi vượt biển, phần còn lại sung vào túi của các quan lớn chế độ mà về sau này sẽ trở thành những nhân vật mà người dân gọi là tham quan. Hẳn nhiên một số lượng vàng nào đó phải được sung vào công quỹ của nhà nước mới đúng nghĩa là nhà nước xã hội chủ nghĩa chứ, nhưng chỉ là con số nhỏ thôi. Điều này thật là dễ hiểu đối với một chế độ có thứ luật pháp bất thành văn của kẻ có quyền lực là cùng hưởng lợi ăn chia và cùng bao che cho nhau. Ta thử phác họa số lượng vàng này là bao nhiêu: lấy con số người vượt biển được tổ chức bán-chính-thức cộng với các tổ chức cá nhân nhưng phải đóng thuế vàng hối lộ cho cộng sản là 2 triệu người. Một đầu người đóng trung bình là 10 lượng vàng, 1 lượng vàng = 37.5 grams / 28.35 grams=1 ounce / 16 Oz = 1 Lbs / 1 ton = 2000Lbs; ta sẽ có: (2 triệu đầu người * 10 * 37.5gr.) / 28.35 / 16 / 2000 = 413 (tấn) vàng. Con số trên chỉ mới ước lượng mức trung bình thôi!. Nhưng số lượng vàng này vào túi tham của cán bộ cộng sản là bao nhiêu, thật khó để biết con số chính xác, cũng như khó để chúng ta có thể biết có bao nhiêu vạn người Việt và Hoa đã chết trên biển khơi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng là nhân vật tổ chức người vượt biến để thu vàng ngày trước, khi làm trưởng công an của tỉnh Minh Hải, vốn là nơi tổ chức vượt biển bán-chính-thức quy mô, bởi nơi đó đường biển gần nhất để đến vịnh Thái Lan hoặc Mã lai về phía Tây Nam. Dư luận cho rằng ‘ba Dũng’ là một nhân vật buôn vàng không cần vốn tích cực nhất cho đảng CSVN. Một cuộc thu tóm vàng khác cũng cần nhắc lại là 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của đảng CSVN vào năm 1975. Thời giá (năm 1975)16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa trị giá bao nhiêu đôla Mỹ? [1975: giá vàng = $197.50/ 1ounce => (2000lbs * 16 * 16oz * 197.50) = 101,120,000 (101 triệu 120 ngàn USD)] Giả sử đem số lượng vàng này so với số vàng của Gaddafi đang thủ đắc là 144 tấn vàng (1) thì con số 16 tấn còn quá nhỏ, nhưng nếu lấy số vàng thu tóm từ một triệu đầu người vượt biển để so với số vàng của Gaddafi thì số vàng của đảng cộng sản thủ đắc được quá lớn (lớn hơn 3 lần), mặc dù không có mỏ dầu như Lybia. Những nguồn thông tin từ “lề trái” quốc tế trong vài tuần lễ qua đã đồn ầm rằng: cuộc chiến trừng phạt Lybia của khối NATO và Mỹ không phải là vì lý do nhân đạo, cũng chẳng phải vì dầu, mà bởi một lý do khác. Bởi nếu các quốc gia Âu Mỹ có thiếu hụt 2% sản lượng dầu lửa (so với toàn cầu) của Lybia, nó sẽ được thay thế bằng sự tăng năng xuất trội lên một tí từ Saudi Arabia là điều dễ dàng, có gì đâu mà Mỹ và NATO phải gây cuộc chiến cho thêm phần tốn kém. Lý do duy nhất chỉ vì chuyện hối suất tiền tệ. Gaddafi muốn thành lập một hệ thống ngân hàng trung ương độc lập của Lybia, dùng bản vị đồng tiền vàng gọi là “golden dinar” làm đơn vị tiền tệ chung cho khối Liên minh Thống nhất châu Phi với 200 triệu dân; và sẽ đặt điều kiện các quốc gia mua dầu của Lybia phải trả bằng vàng thay vì tiền đôla Mỹ mà thế giới vẫn quen gọi là tiền-đô-dầu (petrodollar). Có tin một số quốc gia phương Tây sẽ nhắm mắt nghe theo, nhất là Đức, nhưng nguy hiểm nhất vẫn là Tàu. Anh Tàu tính chạy theo và sẵn sàng tuyên bố sẽ thay thế bản vị tiền tệ bằng tiền vàng Tàu gọi là “golden yuan”. Đó không những là sỉ nhục cho Mỹ, mà còn là một đòn kinh tế làm lung lay hệ thống ngân hàng trung ương quốc tế. Chúng ta còn nhớ năm 2003, trước khi mở một cuộc tấn công sấm sét vào Iraq, Saddam Hussein đã tuyên bố chỉ nhận tiền mua dầu bằng tiền Euro thay thế đôla Mỹ. Đó là một trong vài lý do, Mỹ đã dùng chiến tranh để trừng phạt. Tham vọng của Gaddafi lần này là muốn thiết lập hệ thống tiền tệ độc lập, để có một nền kinh tế ổn định và không muốn trở thành kẻ “nô lệ” của “petrodollar” và Federal Reserve của Mỹ. Gaddafi là một bạo chúa, ai cũng thấy điều đó. Nhưng Gaddafi còn biết lấy lợi tức từ mỏ dầu quốc gia để phát triển kinh tế, cải tiến giáo dục và nâng cao đời sống cho vài triệu dân của mình; đồng thời Gaddafi có trữ lượng vàng đủ để có thể tạo dựng một hệ thống ngân hàng nhà nước và một nền kinh tế độc lập, nếu không gặp phải sự chống đối của khối NATO và Mỹ. Nhà nước cộng sản Việt Nam thì ngược lại: bóc lột, móc túi dân, trong khi đó nền kinh tế lệ thuộc vào đôla Mỹ. Tiền đồng (gọi tắt là VND) và USD là hai hệ thống tiền tệ song hành –đôla Mỹ là ngoại tệ chính để giao thương quốc tế. Có nghĩa là muốn phát triển kinh tế phải chấp nhận một sự lệ thuộc vào đồng đôla vĩnh viễn, ngoại trừ có đủ trữ lượng vàng để thoát khỏi nạn lạm phát và bảo vệ khối tiền đồng vô giá trị. Tình trạng “xuất máu vàng” ở Việt Nam Sau gần 15 năm đưa cả nước tới sự đói khổ và bần cùng, cuối thập niên 80, các chế độ cộng sản Nga và Đông Âu sụp đổ, Hà Nội cúi đầu trước Trung quốc và chấp nhận đổi mới, từng bước ngã theo kinh tế thị trường. Trong hai thập niên đổi mới nửa vời, chế độ Hà Nội đã tạo ra một tầng lớp tư sản mới thay thế hoàn toàn tư sản “mại bản”. Tôi tạm mượn hình ảnh ba vòng tròn đồng tâm để mô tả ba giai tầng tư sản mới này: vòng trong chừng hơn một tá thành viên Bộ Chính Trị, vòng tròn thứ hai chừng hơn vài trăm ủy viên trung ương đảng, vòng tròn ngoài cùng chừng vài ngàn gia đình có liên hệ nội ngoại, bà con họ hàng với cán bộ của vòng thứ hai. Ta tạm gọi các thành phần xã hội của ba vòng tròn này là những đại tham quan xuống tham quan, sau khi loại trừ thành phần cán bộ cộng sản lương thiện, tử tế hoặc không gặp may… đều phải sống một đời sống khốn khó như hàng triệu công dân khác. Có những vị tướng cộng sản từng lập công từ thời Việt Minh nay về hưu phải làm nghề vá xe đạp bên lề đường để kiếm sống ( xin đọc lại: Tướng Về Hưu của Nguyễn Huy Thiệp ). Thành phần của vòng tròn thứ ba, ngoài những gia đình có liên hệ với cán bộ đảng, cần cộng thêm một thành phần không có liên hệ với đảng CS nhưng nhờ sự móc ngoặc, hối lộ, lợi dụng thời cơ, thủ đoạn lưu manh cũng có thể giàu lên nhờ vào các mánh lới mua bán đất đai, nhà cửa, buôn lậu, kinh tài dưới hình thức xã hội đen, ma cô đĩ điếm… Như đã nói, cộng sản là những kẻ đầy mặc cảm tự ti với của cải, vàng bạc, tạo nên hiện tượng chuyến hóan của cải, tài sản. Hiện tượng xuất hiện những đại gia, con cháu các đại gia sống như đế vương trong sự phung phí tiền bạc, trác táng.. là hậu quả tất nhiên của sự “chuyến hoán” tài sản dưới các hình thức đầu tư, thành lập công ty, doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân. Từ các khu vực hợp thức hóa này, một khối lượng lớn vàng đã được trao đổi thành đôla nhằm dễ dàng chuyển tài sản ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư, cho con cháu ra nước ngoài du học, mua bất động sản hoặc chuyển ngân vào các trương mục nặc danh ở Thụy Sĩ, Âu châu, Mỹ châu. Tính sổ, chúng ta nhận ra có hai hiện tượng “xuất máu vàng” từ quê hương Việt Nam. Lần thứ nhất xảy ra vào biến cố chính trị năm 1975. Trong số vài trăm ngàn người Việt từ miền Nam di tản ra nước ngoài đã đem theo một số vàng lớn. Chuyên gia cố vấn đầu tư Nguyễn Ngọc Nam cho biết vào đầu tháng 6 đến cuối năm 1975, tại trại Indianatown, tiểu bang Pennsylvania, người tị nạn Đông Dương tấp nập bán vàng mang theo cho các công ty Deak & Perera va US. Silver Corp. v.v.. Một số vàng rất lớn của người tị nạn đã chuyển qua tay các công ty trên. Ông không nêu ra con số là bao nhiêu, chỉ cho biết nó lớn đến nỗi đã tạo biến động giá vàng vụt tăng cao trong một thời gian ngắn so với giá vàng trước đó (2) Nhưng lần “xuất máu vàng” thứ hai, thủ phạm chính là đảng cộng sản Việt Nam. Như đã đề cập, sau khi thu tóm của cải, vàng của dân chúng miền Nam, các thành phần cộng sản đã thủ đắc một số lượng vàng rất lớn. Từ đó, với nhiều mục đích khác nhau, số lượng vàng này được bí mật hoặc trá hình xuất khẩu ra nước ngoài, hoặc được hoán chuyển thành ngoại tệ gửi vào các trương mục dưới các bí số ở nước ngoài. Vì vậy, số vàng thoi, nén, vàng lá đã trở nên khan hiếm. Tình trạng này đưa tới việc cán bộ hoặc gia đình cán bộ cộng sản làm việc ở ngân hàng trung ương, ngân hàng doanh nghiệp móc ngoặc với/ hoặc cùng nằm trong mạng lưới kinh tài có cơ sở, văn phòng trao đổi thu mua ngoại tệ, vàng ở các thành phố lớn và địa phương huy động thu mua tất cả các loại vàng đã biến thành nữ trang. Sau khi đã tập trung được số lượng vàng đủ lớn để xuất khẩu, vàng sẽ được chuyển qua công ty chế biến vàng nổi tiếng ở Thụy Sỹ; vàng nữ trang sẽ trở thành vàng khối (gold bullion) và được đóng dấu, vàng càng thêm có giá. Theo ký giả Ben Bland của tờ Thời báo Tài Chính (The Financial Times) Billions dollar worth of jewelries exported to Switzerland (3), con số chính thức của nhà nước VN cho biết số vàng thất thoát ra ngoài là 2 đến 3 tỷ đôla trong hai năm 2009 và 2010; có nghĩa là con số thất thoát không chính thức dưới hình thức xuất khẩu lậu, trao đổi qua các tín hiệu của phương tiện thông tin vệ tinh, kèm theo sự thất thoát số dự trữ ngoại tệ khác mà Cơ quan Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết con số tài chính thất thoát ấy trong khoảng từ 12 đến 13% (chiếm đến 12 phần trăm GDP). Tính từ 2008-2010, trong ba năm thôi, Việt Nam chuyển vàng qua Thụy Sỹ, tổng cọng là : 118.2 tấn (* xem ở dưới), gần theo kịp con số dự trữ vàng của Gaddafi. Chúng ta tự hiểu, một chế độ được kiểm soát chặt chẽ bằng công an, mật vụ ai có thể chuyển lậu số vàng, ngoại tệ ra nước ngoài, nếu không phải là một bộ phận kinh tài có thế lực của đảng?[* thời giá (2011) 118.2 tấn vàng là ‘chừng’ bao nhiêu đôla Mỹ? (Lấy giá vàng trung bình (cumulative average từ kitco.com) trong 3 năm (2008-2010) và quý đầu 2011): 871.96+972.35+1224.53+1396.36/4=1116.30 (118.2 tấn * 2000 Lbs * 16 Oz * 1116.3 = 4.22 tỷ USD (đã rounded off)]. Đây là thí dụ thứ hai vàng Việt Nam bị xuất máu.Do đó, sau 35 năm cầm quyền, chế độ cộng sản Hà Nội đã làm cho vàng trở nên khan hiếm; trong khi tiền USD trở về quê quán cũ (các ngân hàng trung ương nước ngoài) bởi nhập khẩu nguyên vật liệu, kinh tài đen, tẩu tán bí mật ra nước ngoài. Mặt khác vì tiền Đồng bị coi là không có giá trị, kiều hối do thân nhân gởi về nuôi gia đình trong nước thì hoặc người dân sẽ đi mua lại vàng để dự trữ, hoặc găm giữ ngoại tệ để phòng hờ khi gặp khó khăn, bán ra sinh sống. Ngoài Thụy Sỹ, một cửa nhập vàng khác là khối quốc gia sản xuất dầu lửa OPEC. Khi OPEC thu nhập tiền Mỹ kim quá nhiều, nhất là lúc dầu thô tăng giá, họ có khuynh hướng đổ xô đi mua vàng dự trữ cho an toàn -Việt Nam là một trong những nơi xuất vàng mà họ thường nhắm đến. Từ thực trạng này, kinh tế Việt Nam bị khủng hoảng không hẳn vì sự thiếu hụt Mỹ kim mà điều chính yếu là nạn “chảy máu vàng”. Vàng và “kịch bản bi quan” Vàng có những đặc tính như sau: -dễ dàng mang đi. -vàng là một thứ tiền tệ quốc tế. -vàng là phương tiện bảo tồn giá trị. Trong các thời kỳ lạm phát, tư nhân cũng như chính phủ các nước thường tránh Mỹ kim và mua vàng dự trữ. -vàng như hình thức bảo hiểm chống lại các sự phá hoại về tài chính, chính trị và xã hội. Thí dụ như chế độ cộng sản thắng trận miền Nam, tiền tệ bị thay thế, tiền cũ coi như vất bỏ đi, nhưng giá trị của vàng vẫn không thay đổi. Trong tình trạng hiện nay, tiền đồng không những mất giá mà tâm lý dân chúng không ai còn tin tưởng vào giá trị của nó, nên dân càng kiên cố kềm giữ vàng và đôla. Chỉ còn một biện pháp duy nhất là nhà nước cộng sản phải cương quyết đánh “tư sản mại bản đỏ” mới có thể thu tóm đôla và vàng trở lại. Theo các nhà đầu tư quốc tế, vàng có bốn nhiệm vụ chính như sau: -dùng để kiểm soát nạn lạm phát (từ 3 đến 10% một năm). -trong trường hợp lạm phát đã thoát được, giữ vàng vẫn an toàn hơn khi tiền tệ của một nước bị suy sụp như ở Việt Nam hiện nay. -trong trường hợp hệ thống tiền tệ thế giới bị sụp đổ, vàng là phương tiện bảo tồn giá trị (store of value), người ta có thể yên tâm giữ vàng chờ đợi cho tới khi sự trao đổi giá trị đã được bình thường trở lại. -trong suốt thời kỳ kinh tế biến loạn, không ai còn tin tưởng vào chỉ tệ, thị trường tự do mau chóng thành hình thì, vàng và bạc trở thành tiền tệ chính. Chuyên gia đầu tư Mỹ Howard Ruff kể lại rằng: Sau Chiến tranh Thế giới II, ở Trung Hoa –một đất nước sơ khai (primitive country), nơi mà truyền thông vắng bóng thế mà chỉ trong một và hai tháng, xuyên qua “Bàn Tay Vô Hình” (Invisible Hand) của thị trường như Adam Smith từng mô tả, đồng tiền vàng và bạc đã trở thành thứ tiền tệ phổ biến. Ngày nay thì Trung Hoa chỉ cần từ vài phút đến vài giờ thôi! (4) Thử nêu lại các biện pháp chống lạm phát và ổn định kinh tế của tiến sĩ Phạm Đỗ Chí: (5) +ổn định thị trường vàng và giảm chênh lệch giá vàng trong nước & quốc tế. Làm thế nào để ổn định? Thí dụ giá vàng ở Mỹ lên xuống tùy thuộc vào giá dầu thô, thị trường chứng khoán và đôla. Vàng xuống giá thì đôla lên giá; trong khi ở Việt Nam, tiền đồng càng xuống giá thì đôla và vàng tăng giá càng nhanh, bởi giá cả tùy thuộc vào tình hình đầu cơ và thị trường con buôn tạo ra. Mà con buôn là ai? Là cán bộ và gia đình cán bộ. +giảm kỳ vọng lạm phát qua tuyên bố thắt chặt cung tiền và tín dụng. Tăng lão suất lên 13%. Thật sự có giảm lãi suất xuất xuống cũng không còn ai dám mượn tiền từ ngân hàng nhà nước, ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước mượn tiền để bỏ túi trước khi sử dụng vào mục tiêu kinh tài. +tăng sự hấp dẫn & giá trị của VND (đồng tệ), ổn định tỷ giá. Đây đúng là lời phán lạc quan của một kinh tế gia “nhà nước”. Tiền đồng vĩnh viễn sẽ không bao giờ còn hấp dẫn dân chúng nữa, ngoại trừ mỗi ngày người dân bỏ túi vài chục ngàn đồng để đi chợ mua cá, mua rau cho qua một bữa ăn đạm bạc có đủ chất đạm tối thiểu. +giảm hay tăng lãi suất tiết kiệm để kích thích kiều hối gởi tiền ngân hàng trong nước trở thành vô ích vì sẽ không còn người Việt nào ở nước ngoài tin tưởng vào luật lệ đầu tư và làm ăn ở Việt Nam nữa. Theo tôi, thị trường chứng khoán, bất động sản không chỉ “đóng băng” mà sẽ giống như những lâu đài xây trên cát. Cơ quan “Đơn Vị Tình báo Kinh tế” (The Economist Intelligence Unit, viết tắt: EIU) đặt ở Luân Đôn cho rằng, chính sách thắt chặt tiền tệ và ngân sách của nhà nước Việt Nam quá ít và quá trễ; trong khi lý ra cần phải kiểm soát trực tiếp giá cả, họ lại dùng chính sách gián tiếp như tăng lãi suất, để rồi phải chịu áp lực tăng giá điện và giá xăng dầu.. là nguồn mạch máu nuôi dưỡng kinh tế và sản xuất. EIU tiên báo: trong năm 2011, lạm phát sẽ lên mức 14.3%; tiền Đồng giảm xuống mức 1 USD = 23.873 VND; giá dầu thô tăng 13%; thực phẩm tăng 27%. Từ đó, EIU khuyến cáo VN cần sự giúp đỡ bằng “một gói tài chính” của IMF may ra thoát khỏi “kịch bản bi quan”. Nhưng kịch bản bi quan này là ngắn hạn, còn kịch bản dài hạn là chuyện khác nữa. Và tại sao, chỉ có IMF mà không phải là Trung Quốc? Lý do đơn giản là Trung Quốc không có khả năng ‘cứu nạn’ VN, dù Trung Quốc là một thành viên của 19 thành viên trong Ban Giám Đốc của Ngân Hàng Thanh Toán Quốc tế (BIS –Bank of International Settlement) của 57 quốc gia hội viên, không có Việt Nam. Muốn nhận sự giúp đỡ của IMF, VN phải chứng tỏ là “con nợ tốt”. Con nợ tốt là con nợ có chính sách kinh tế tự do trong thể chế dân chủ, được bảo vệ bởi cơ chế pháp luật rõ ràng, minh bạch, tôn trọng các quyền tự do căn bản của người dân, tôn trọng luật pháp quốc tế. Tóm lại, mọi giải pháp, khuyến cáo của các kinh tế gia dù có hay ho gì chăng nữa, đều vẽ ra một “kịch bản bi quan” kèm theo như tiến sĩ Phạm Đỗ Chí, vì lẽ Việt Nam không thủ đắc được điều kiện tiên quyết để giải quyết nạn lạm phát và vực dậy nền kinh tế là thiếu dự trữ vàng và đôla. Trong khi đó, “bi kịch lạc quan” có nghĩa là sự cương quyết của chính phủ chỉ đạo cho kẻ thi hành chính sách là cán bộ đảng viên, mà gian thương là người trong gia tộc của cán bộ đảng viên; đầu cơ tích trữ, nạn chợ đen, làm ăn phi pháp cũng là gia đình họ hàng cán bộ đảng viên. Cho nên, một chính sách kinh tế càng ích quốc lợi dân càng đi ngược lại với quyền lợi của một số cán bộ, đảng viên có thế lực. Cuối cùng, Nghị Quyết 11 của đảng thật tế chỉ là một miếng giấy lộn. VN cần một “gói tài chính” của IMF để tự cứu là chuyện đã đành, nhưng nếu muốn cứu nước và thực hiện được chính sách kinh tế tự cứu thì VN cần thay đổi hoàn toàn chế độc thối nát của mình. Một chế độ (mới) ít nhất phải thỏa mãn một số điều kiện căn bản như những nhà đấu tranh cho dân chủ -điển hình như Cù Huy Hà Vũ đòi hỏi là: phải có dân chủ, đa đảng, bảo đảm các quyền tự do căn bản của người dân. Nguyễn Văn Hóa Sunday, April 17, 2011 Chú thích: (1) (2) Người Việt Đầu Tư (The Vietnamese Investor, tác giả tự xb., ấn bản không đề năm, chương xx: Vàng, bạc: tiền thật, tiền quốc tế) (3) http://www.ft.com/cms/s/0/4aa15524-5964-11e0-bc39-00144feab49a.html#axzz1Jnll6sE1 (4) From A To Z, Howard Ruff, nhà xb. Target 1980, tr. 292-97. “In China, after World War II, in that great primitive country, where communication were almost non-existent, it was only a month o teo before every merchant in China knew, through the “Invisible Hand” of the marketplace described by Adam Smith, what the value of gold or silver coin was, and it was universally acceptable money.” (5) http://vef.vn/2011-04-12-ba-bai-toan-kinh-te-2011-bien-phap-va-dieu-kien
|
© copyright giaodiem.us | 2009