Cuối năm, nhìn lại chú Ba
Tuệ Chương Hoàng Long Hải
Nguồn gốc ở đâu?
Nguồn gốc của dân tộc Hán là ở phía Bắc
Trung Hoa, thường gọi là vùng Hoa Bắc, phía trên sông Dương Tử.
Dân tộc nầy có thể có liên hệ nòi giống đến các giống dân Mãn
Châu hay Triều Tiên, không liên hệ gì đến Bách Việt, tức một
trăm giống Việt ở Hoa Nam, vùng Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây
bây giờ.
Vùng Bách Việt, trước khi Tần Thủy Hoàng
tóm thâu lục quốc (220 tr. Tây Lịch), lập nên đế quốc Trung Hoa
đầu tiên, không liên hệ gì đến Hán tộc cả.
Năm 214 trước Tây lịch, Tần Thủy Hoàng
sai quân đánh chiếm Bách Việt nhưng thất bại, phải rút về.
Năm 208 trước Tây lịch, Triệu Đà đánh
bại Thục Phán, chiếm đất Âu Lạc mà lập ra nước Nam Việt, gồm các
tỉnh vùng Hoa Nam nói trên và vùng châu thổ sông Nhị Hà ngày
nay.
Đến đời vua Cao Tổ nhà Hán, sau khi đánh
bại nhà Tần bèn muốn tóm thâu đất Nam Việt của Triệu Đà. Nhà
Triệu kháng cự. Mãi đến đời vua cuối cùng nhà Triệu là Triệu
Dương Vương mới bị Phục Ba Tướng Quân là Lộ Bác Đức của nhà Hán
đánh thua chạy. Cuối cùng vua Triệu Dương Vương cùng với quan
thái phó là Lữ Gia bị bắt và bị giết hại cả. Người Lạc Việt bị
Bắc thuộc lần thứ nhứt từ đó, năm 111 trước Tây Lịch.
Sau khi nước Tầu thống nhứt cả hai vùng
Hoa Bắc và Hoa Nam, họ không chịu ở yên trong cương giới của họ.
Các triều đại tiếp nối về sau thường đem quân “chinh tây, nam
phạt” tức là xâm lăng các nước phía tây và nước ta ở phía nam.
Chỉ cần đọc văn chương nước ta, chúng ta
cũng có thể thấy điều đó.
Mạnh được yếu thua!
Lịch sử nhân loại cho ta thấy những nước
lớn, những nước mạnh thường ăn hiếp, xâm lăng, chiếm đoạt đất
đai tài sản những nước yếu, nước nhỏ. Việc hiếp đáp đó không chỉ
xảy ra một lần mà nhiều lần, hết đời nầy tới đời khác, tạo nên
những mối thù truyền kiếp. Các dân tộc nhỏ yếu bị hiếp đáp không
bao giờ quên.
Đó là trường hợp nước Nga với các nước
chung quanh như Ba Lan, Ukraine, các nước trung Á như
Uzbekistan, Kazakstan, v.v... Nước Tầu với các dân tộc chung
quanh như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu, Triều Tiên, Việt Nam,
v.v...
Sau khi Liên Xô sụp đổ, người Ba Lan lật
đổ chế độ Công Sản bù nhìn của Liên Xô, người Ba Lan đập phá khu
nghĩa địa dành cho Hồng Quân Liên Xô làm “nghĩa vụ quốc tế” đã
“hy sinh” ở Ba Lan. Ấy là cách người ta muốn nói lên mối thù
truyền kiếp của người dân Ba Lan với nước Nga.
Liệu người Việt Nam có mối thù đó với
nước Tầu hay không, mối thù “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu,...”
như trong bài hát “Gia Tài của Mẹ” của Trịnh Công Sơn!
Cũng như các nước lớn khác, người Tầu
không bao giờ chịu “ở yên” trong cương giới của họ, có nghĩa là
họ đem quân xâm lăng các nước chung quanh. Phía tây thì họ đánh
phá các dân tộc Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng... phía bắc thì
đánh phá Mãn Châu, Triều Tiên, phía nam thì đánh phá nước ta.
Đọc Chinh Phụ Ngâm Khúc, độc giả thấy rõ
việc đó.
Chinh Phụ Ngâm, (Đặng Trần Côn –
1715-1745 viết bằng chữ Nho, bà Đoàn Thị Điểm – 1705- 1748 -
dịch ra chữ Nôm) là một “khúc ngâm” mô tả tâm trạng của một
người đàn bà có chồng đi đánh giặc xa, lâu ngày chưa về.
Một nét chung là nhiều tác phẩm văn học
nước ta lấy bối cảnh bên Tầu. Điều đó chứng tỏ văn học Việt Nam
ngày trước chịu ảnh hưởng văn học Tầu. Chịu ảnh hưởng chớ không
nô lệ, không cúi đầu vâng theo, làm theo mà không có ý thức gì
cả. Đó là trường hợp truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung Oán Ngâm
Khúc của Nguyễn Gia Thiều, và... Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng
Trần Côn. Có dịp, tôi sẽ nói rõ hơn về các tính cách văn học
nầy.
Vì lý do như đã nói trên, đọc Chinh Phụ
Ngâm Khúc (trước 1975, tác phẩm nầy được đưa vào chương trình
Việt Văn của các lớp trung học) người đọc sẽ thấy tác giả nói
tới nhiều địa danh bên Tầu và cũng nói tới không ít các ông
tướng Tầu.
Xin dẫn chứng.
Trống Trường Thành lung lay bóng
nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Trước khi Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục
quốc”, dựng nên đế quốc đầu tiên trong lịch sử Tầu, thì nước Tầu
gồm nhiều nước nhỏ, từng bị các giống “rợ” từ phương bắc xuống
đánh phá, nên nhiều nước ở phía bắc đã dựng nên các trường thành
để ngăn giặc. Đó là Triệu trường thành, Yên trường thành, Tề
trường thành, v.v...
Sau khi lên ngôi, Tần Thủy Hoàng cho nối
liền các trường thành nầy lại, sử gọi là “Vạn lý trường thành”
(thành dài vạn dặm), từ Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Hà Bắc tới bán
đảo Sơn Đông, biển Bột Hải.
Xin nói một chút về công lao của Tần
Thủy Hoàng trong việc xây “Vạn lý trường thành” nầy. Việc xây
thành làm cho dân chúng phải sưu dịch rất gian khổ. Bệnh dịch và
chết chóc đếm không hết. Thay vì đào hố đem chôn người chết,
người ta chôn vào trường thành luôn. Ngày sau, có nhiều tác phẩm
và truyền thuyết về những nỗi gian khổ nầy.
Tuy nhiên, việc xây trường thành ích lợi
không ít. Có trường thành, các giống “rợ” phương bắc quấy phá
nước Tầu ít đi. Nhờ đó nên kinh tế, thương mại, xã hội nước Tầu
mới phát triển mạnh lên.
Trường thành hiện nay du khách thường
đến xem chỉ là trường thành được xây từ đời nhà Minh, khoảng một
ngàn năm sau trường thành cũ.
Ví dụ câu:
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa ngoài cõi thiên san.
Thiên san là do câu: “Thiên san vạn
thủy” nghĩa là cách xa “ngàn núi vạn sông”, nghĩa là xa lắm.
Thiên Sơn cũng có nghĩa là tên một dãy
núi ở về phía tây-bắc nước Tầu, thuộc khu vực các nước
Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tân Cương. Theo người Duy Ngô Nhĩ,
núi nầy có nghĩa là núi trời, núi của thần linh.
Theo nghĩa trong Chinh Phụ Ngâm, đây là
nơi người chồng đi đánh giặc.
Ví dụ câu:
“Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử”
Lâu Lan là “rợ” Lâu Lan mà cũng có nghĩa
là thành Lâu Lan, phía nam Tân Cương, vị trí quan trọng trên
“Con Đường lụa” (Còn có tên là con đường hồ tiêu) thời Hán Quang
Vũ. Thành nầy nay đã hoang tàn.
Giới Tử là Phó Giới Tử, danh
tướng đời nhà Đường, có công đánh dẹp các “rợ” vùng phía tây
nước Tầu.
Ví dụ:
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba
Man khê là tên người Tầu gọi nước
ta ngày trước.
Theo sách Việt Nam Sử Lược của Trần
Trọng Kim thì Phục ba tướng quân là Lộ Bác Đức, người đem quân
đanh nhà Triệu mà cũng là Mã Viện, tức Phục Ba tướng quân, người
đánh bại hai bà Trưng và đặt nền đô hộ nước ta năm 43 sau Tây
lịch.
Ví dụ:
Quân trước đã gần ngoài Doanh Liễu
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
Doanh Liễu là Doanh Tế Liễu, chỗ đóng
quân ở Tế Liễu. (Doanh: nghĩa tương tự như doanh trại). Tràng
Dương: Kinh đô của nhà Tần.
Câu: Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Hàm Dương thuộc tỉnh Thiểm Tây, kinh đô
nuớc Tần thời Tần Thủy Hoàng, nơi xây cung A-Phòng, lăng Ly Sơn.
Hạng Vũ đã đốt cháy toàn bộ kinh đô nầy.
Sông Tiêu đổ nước vào sông Tương. Sông
Tương lại đổ nước vào Động Đình hồ. Thường gọi chung là Tiêu
Tương
Ông Thuấn được vua Nghiêu truyền ngôi và
gả cho con gái cho là Nga Hoàng và Nữ Anh làm vợ.
Vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở
miền sông Tương không may bị bệnh chết. Hai người vợ là Nga
Hoàng và Nữ Anh (con vua Nghiêu) đi tìm vua đến bến sông Tương,
ngồi bên bờ sông khóc lóc rồi trầm mình tự tử. Do đó, “giọt
Tương” hay “mạch Tương” có nghĩa là nước mắt.
Ví dụ câu:
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua
Bạch Thành tức là Bạch Đế Thành, thuộc
tỉnh Cát Lâm bên Tầu, giáp với Nội Mông (Cổ) và Hắc Long Giang.
Hắc Long Giang là biên giới giữa Tầu và Liên Xô cũ. Tên được đặt
theo nghĩa của tiếng Mông Cổ.
Thanh Hải tức là hồ Thanh Hải ở phía tây
nước Tầu, giáp với Cam Túc, Tứ Xuyên, Tân Cương và Tây Tạng.
Theo ý nghĩa của Chinh Phụ Ngâm thì đây là nơi chiến trường giữa
người Hán và người Hồ (dân tộc ở phía tây nước Tầu)
Ví dụ:
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên
Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan
Hãn Hải là một nhóm các hố, hồ muối nhỏ
nằm giữa sa mạc Taklamakan và sa mạc Kuruktag thuộc phía đông
Tân Cương.
Tiêu Quan tức là Cổ Tiêu Quan là một cửa
ải được xây vào đời nhà Đường để chống lại người Thổ Phồn thường
xâm lăng nước Tầu.
Ví dụ:
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Non Kỳ tức Kỳ Liên Sơn, nhà Chu khởi
nghiệp ở đây. Kỳ Liên Sơn cũng là nơi Hoắc Khứ Bệnh, danh tướng
thời Hán Vũ Đế, đánh bại quân Hung Nô ở đây.
Bến Phì là bến trên sông Phì Thủy, còn
gọi là sông Bồ Kiên. Đây là nơi Tần giết gần nửa triệu quân Tấn,
thây chết chôn thành gò, đống.
Ví dụ câu:
Phận trai già ruổi chiến trường
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về
Ban Siêu, danh tướng đời Hán, đem quân
đánh phá các nước ở Tây vực (phía tây nước Tầu) 31 năm, đến khi
về thì đã hơn 70 tuổi, tóc đã bạc.
Độc giả, ai đã đọc “Dấu binh lửa” của
Phan Nhật Nam, có lẽ sẽ nhớ tới mấy câu thơ sau đây trong Chinh
Phụ Ngâm:
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
Phận trai già ruổi chiến trường
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Chàng Siêu tức là Ban Siêu tôi nói ở
trên đấy!
Hán Dương không thuộc phía tây nước Tầu
mà thuộc thành phố Vũ Hán, bên sông Trường Giang (Dương Tử),
trên con đường chính đi về phía Tây,
Khi bà Đoàn Thị Điểm dịch “Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ”, bà
biết ở Hán Dương có cây cầu, đúng như nguyên bản “Hán Dương
kiều.” Cầu nầy bắt ngang sông nào? Có lẽ ở sông Hán Thủy, nhỏ
hơn sông Dương Tử. Mãi đến năm 1957, người Tầu mới dựng được cây
cầu đầu tiên bắt ngang sông Trường Giang, để nối liền hai miền
Hoa Bắc - Hoa Nam.
Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa
Sở Tương Vương nằm mộng thấy thần Vu Sơn
ở Dương Đài. Tương Phố: Bến trên sông Tương (Xem lại Tiêu Tương
ở trên)
Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan!
Ngọc Môn Quan là tên cửa ải trên đường
đi về phía tây nước Tầu. Trần Huyền Trang khi qua Tây phương
thỉnh kinh, phải đi qua cửa ải nầy.
Máu Thuyền Vu, Quắc nhục chi
Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn.
Thiền Vu hay còn gọi là Thuyền Vu tức Hồ
Hàn Tà là vua xứ Hung Nô. Vua Hán phải đem mỹ nữ Vương Tường mà
gả cho chúa Thuyền Vu để tránh chiến tranh với Hung Nô. Đây là
một đề tài trong văn chương Tầu cũng như Việt. Đời Trần thi nhân
mượn đề tài nầy để phê phán việc vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân
Công Chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để lấy đất hai châu Ô
và Rí.
Những người đi chinh chiến sống bằng
nhiều hận thù. Câu hát trong bài “quốc ca” của Dziệt Cộng cũng
có ý tưởng giống vậy: “Thề phanh thây uống máu quân thù”. Dã man
quá!!!
Bách Việt, ngoại trừ Lạc Việt, đều bị
Hán hóa.
“Tây chinh, Nam Phạt”... Đông tiến?
Việc “tây chinh, nam phạt” của người Tầu
thông thường vì hai lý do chính:
- Một là sau khi thống nhứt, giàu mạnh,
nước Tầu cần mở rộng ảnh hưởng của họ sang các nước chung quanh.
- Thứ hai là để giải quyết những mâu
thuẫn trong nội bộ của họ.
a)- Xin đơn cử trường hợp vua Quang Vũ
và Hán Vũ Đế để nói về trường hợp thứ nhứt.
Sau khi Quang Vũ lên ngôi, nhà vua cần
chỉnh đốn việc nội trị chưa muốn xâm lăng các vùng phía tây. Vì
vậy, chính sách của nhà vua với Hung Nô hòa bình là chính. Bấy
giờ, nội bộ Hung Nô cũng phân ly làm hai vùng nam, bắc. Cả hai
vùng đều xin thần phục nhà Hán.
Sau khi nội chính đã vững, vua Quang Vũ
âm mưu gây bất hòa giũa hai vùng nam, bắc, xây đồn lũy dọc theo
vùng biên giới giữa Hung Nô và Tầu.
Mặc dù các “rợ” Hung Nô thần phục, nhưng
Quang Vũ ra lệnh đóng các cửa ải, không cho dân chúng hai xứ qua
lại, vì nhà vua lúc đó chưa muốn dòm ngó ra phía tây.
Đời Hán Vũ Đế, Trương Khiên là danh
tướng, được lệnh đem quân đánh chiếm các vùng phía tây, ổn định
Tây vực, tới đến vùng Trung Á, mở ra “Con đường lụa” bắt đầu từ
Bắc Kinh, Phúc Châu, Hàng Châu vượt qua Tân Cương, Mông Cổ, phía
Bắc Ấn Độ qua Afghanistan, Iran, Ai cập, Thổ Nhĩ Kỳ, qua tới Hy
Lạp, Châu Âu. Hàng hóa giao thương giữa hai bên là tơ lụa, hồ
tiêu và vàng bạc.
Nhà Hán rất mạnh về quân sự. Ngoài việc
xâm lăng hướng tây, nhà Hán còn sai Mã Viện đánh phá quân hai bà
Trưng. Sau khi hai bà tự vẫn năm 43 sau Tây lịch, Nam Việt lại
bị Bắc thuộc lần thứ hai.
b)- Một lý do khác để người Tầu đem quân
xâm lăng các nước khác là vì họ muốn giải quyết những mâu thuẫn
trong nội bộ của họ.
Đó cũng là lý do chính xảy ra chiến
tranh giữa nhà Tống bên Tầu và nhà Lý nước ta hồi thế kỷ thứ 11.
Theo sử Tầu thì năm 1075, lần thứ hai
Vương An Thạch được vua nhà Tống gọi về triều làm tể tướng.
Vương An Thạch là người có nhiều sáng
kiến, đưa ra nhiều chính sách cai trị mới, nhưng những chính
sách của ông bị các quan trong triều và dân chúng chống đối dữ
dội.
Để ổn định tình thế nhà Tống lúc đó,
Vương An Thạch chủ trương xâm lăng Đại Việt.
Nếu thắng lợi, nhờ đó, nội bộ nước Tầu
sẽ yên, việc chống đối của các quan trong triều cũng như dân
chúng đối với “Tân pháp” của Vương An Thạch sẽ bớt đi.
Biết được ý đồ xâm lăng của Tầu, Lý
Thường Kiệt đem quân đánh nước Tầu trước (Tiên hạ thủ vi cường)
Năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng Tôn Đản
đem quân đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu. Quan quân nhà Tống
không chống lại được phải xin viện binh.
Sau đó, quân nhà Lý tiến lên chiếm Ung
Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800
quân cương quyết cố thủ.
Cuối cùng thành đổ, Tô Giám tự tử, 58
ngàn người trong thành Ung Châu bị giết.
Năm sau, 1076, vua Tống sai Quách Quỳ
đem một trăm ngàn quân cùng voi ngựa sang xâm lăng Đại Việt để
trả thù.
Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến sông Như
Nguyệt, chận được đường tiến của quân Tống.
Quân Tống tiến không được, thoái không
xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp
viện. Quân Nam lại tập kích, Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7.
Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống
đã lâm vào thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng
nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin “nghị hoà” để quân Tống rút
về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Triều thần
nhà Tống cho rằng “Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà,
không thì chưa biết làm thế nào”.
Đời Minh, Trịnh Hòa được lệnh tuần thám
phương Đông, Đông Nam, đến tận Ấn Độ và Úc châu. Theo sử, Trịnh
Hòa vượt biển tới Malacca vào thế kỷ 15. Đời Minh Tuyên Tông
Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa, nhưng sau đó
những chuyến đi tìm của cải của người Tầu chấm dứt.
Những khu vực ở châu Á và châu Phi mà
Trịnh Hòa đã thám hiểm, bao gồm: Đông Nam Á, Sumatra, Java, Tích
Lan, Ấn Độ, Ba Tư và bán đảo Ả-Rập, Hồng Hải và Ai Cập,
Mozambique ở châu Phi, Đài Loan và bắc nước Úc.
Quyền lợi
Dĩ nhiên, khi đem quân xâm lăng các nước
chung quanh, người Tầu vì quyền lợi của họ.
Có 3 điều đáng nói:
1) Thứ nhứt, họ muốn cai trị và bóc lột
dân tộc các nước chung quanh, đem lợi về cho đất nước của họ như
thu thuế: Thuế người (thuế thân), thuế đất ruộng, thuế dâu tằm,
lụa là vải vóc, thuế muối, thuế ao hồ sông biển, v.v... Việc sưu
dịch, theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì “Phàm những
chỗ nào có mỏ vàng, mỏ bạc, thì đặt quan ra để đốc dân phu đi
khai mỏ. Những chỗ rừng núi thì bắt dân phu đi tìm ngà voi, sừng
tê; ở chỗ gần bể thì bắt dân phu đi mò ngọc trai. Còn những thổ
sản như hồ tiêu, hương liệu cũng bắt cống nộp,. Đến những hươu,
voi, rùa, chim, vượn rắn, cái gì cũng vơ vét đem về Tầu.”
Trên là nói cách bóc lột của nhà Minh,
trước khi Lê Lợi khởi nghĩa. Ngày nay, tình hình sẽ khác đi
chăng?
Những sự kiện như ngư phủ Việt Nam bị
đánh phá, giết chóc ngoài biển Đông, việc bán đất bán rừng cho
Tầu, hay vụ Bô-xít ở Cao nguyên làm cho chúng ta thấy người Tầu
ngày nay cũng tham lam và độc ác như người Tầu ngày xưa.
Người Tầu ngày xưa phong kiến tham lam
và độc ác. Người Tầu ngày nay Cộng Sản không những cũng tham lam
độc ác mà còn triệt để hơn. Tham lam cũng triệt để, độc ác cũng
triệt để nên người Việt nào còn sống sót được thì cũng chỉ còn
cái khố che thân mà thôi.
Nước Tầu bây giờ đang phát triển nên họ
cần nhiều thứ: Dầu lửa là trước nhứt. Không những họ khai thác
dầu lửa và than đá ở lục địa mà còn dòm ngó sang các mỏ dầu hỏa
ở Trung Á. Ở Kazakstan chẳng hạn, người Tầu đang lấy dầu rất
mạnh ở đây. Người Tầu, xe cộ của Tầu xuất hiện nhiều nơi, thậm
chí ở đó, các bảng chỉ đường phải viết bằng hai thứ tiếng: Tiếng
địa phương và tiếng Tầu.
Vùng Trung Á là đất của Tầu thời Vũ Đế
nhà Hán. Đó là theo cách nghĩ của họ, vì thời đó, chính Trương
Khiên đã đem quân đánh phá vùng nầy, mở rộng và giữ an toàn cho
con đường lụa. Trong những năm Liên Xô vững mạnh, người Tầu đành
chịu mất vùng nầy. Nay họ cố giành lại quyền lợi đã mất, nhứt là
các mỏ dầu lửa ở đây. Người Tầu còn cần nhiều tài nguyên của các
nước khác, kể cả đất đai để trồng trọt như hợp tác sản xuất nông
phẩm ở Argentia và một số nước ở châu Phi. Ở châu lục nầy, người
Tầu đang khai thác cả nông nghiệp lẫn dầu lửa.
2)- Thứ hai, nói cho đúng thì việc mở
rộng của người Tầu, nếu không xét bình diện cai trị và bóc lột
thì cũng có lợi cho việc giao thương của thế giới, như sự ích
lợi của “Con đường lụa” ngày trước vậy.
Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay,
chính sách ngoại giao của nước Tầu không có gì tốt đẹp cả. Người
ta từng gọi chính sách của Tầu bây giờ là “hung hăng trong ngoại
giao”, chậm chạp và vụng về vì không phản ứng kịp với những biến
chuyển của thế giới vì người Tầu quá thực dụng, chỉ nhắm vào lợi
ích trước mắt!
3)- Thứ ba, tương đối tốt là muốn mở
rộng việc giao thương, “hai bên cùng có lợi” như họ thường “hô
khẩu hiệu”. Đã hô khẩu hiện thì không mấy khi thực lòng. Trong
chiều hướng thứ ba nầy, người Tầu cũng dùng nhiều thủ đoạn về
tiền tệ, về hàng hóa giá rẻ, thiếu phẩm chất để kiếm lợi. Cung
cách giao thiệp như vậy khó có thể tồn tại lâu dài. Đó là cái
khó khăn trong tương lai của họ.
Con cóc muốn to bằng con bò
Sau mấy chục năm dưới thời Mao, người
Tầu ứng dụng chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước họ nhưng thất
bại (Ngược lại, Dziệt Cộng dùng đất nước để xây dựng xã hội chủ
nghĩa - lời tổng thống Nixon). Nước Tầu, do Đặng Tiểu Bình lãnh
đạo, đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhờ đó mới giàu có lên. Nay
người Tầu đã vượt qua khỏi Nhựt, giành ngôi vị thứ hai, sau Mỹ.
Dĩ nhiên, hiện giờ người Tầu đâu có bỏ giấc mộng làm bá chủ thế
giới, về kinh tế cũng như quân sự, v.v... để trở thành “Trung
Quốc” của toàn thể địa cầu.
Liệu người Tầu có thành công?
1)- Nói chung, về tổng sản lượng quốc
gia, tính tới năm 2008, người ta thấy, tính theo ngàn tỷ đô la
Mỹ thì Mỹ là 14, Tầu chỉ có phân nửa Mỹ là 7, Nhựt 4 ngàn, Đức
gần 4 ngàn tỷ, v.v... Nếu tính theo sự giàu có, thì nước Tầu chỉ
mới bằng ¼ cái giàu của Mỹ, trong khi Tầu có 1 tỷ 400 triệu dân
mà Mỹ chỉ có 300 triệu dân.
Lịch sử các đế quốc cho thấy, càng bành
trướng, càng dễ sụp đổ, chính yếu là vì không cai trị, kiểm soát
được hết, không nắm giữ được hết. Rõ ràng nhứt là trường hợp các
đế quốc như La Mã, đế quốc Ottoman, đế quốc Tây Ban Nha. Nước
Tây Ban Nha thì nhỏ, lãnh địa của họ kéo dài từ châu Á tới Nam
Mỹ. Nam Mỹ xa quá, quyền lực của hoàng đế Tây Ban Nha không với
tới được.
2)- Thứ hai nữa, nhân loại càng văn
minh, tiến bộ. Tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, v.v... càng
bành trướng, phát triển, lan tràn, nên dân tộc các nước bị cai
trị thức tỉnh, giành lại độc lập cho chính dân tộc họ. Đó là
phong trào giải thực sau Thế giới Chiến tranh thứ Hai, đưa tới
sự sụp đổ của các đế quốc Anh, đế quốc Pháp...
Chính sách bành trướng của Tầu đi ngược
lại chiều hướng tiến bộ đó. Chính phủ Tầu yễm trợ tối đa cho các
chính phủ độc tài ở Châu Phi, để cả hai bên cùng nhau khai thác,
cướp đoạt tài nguyên của các nước Châu Phi.
Một mặt thì dùng sức mạnh đàn áp, một
mặt dùng tiền bạc mua chuộc các nước mà Tầu muốn bành trướng thế
lực tới. Muốn thực hiện những điều đó, người Tầu càng phải bắt
dân chúng trong nước thắt lưng buộc bụng, bóc lột dân chúng, làm
cho mâu thuẫn nội bộ càng ngày càng thêm sâu sắc. Đó cũng là mối
họa của người Tầu.
3)- Người Tầu còn mang tâm lý phục hận.
Hai trăm năm nay, khi các nước Âu Mỹ đã phát triển, khai thác
không ít tài nguyên của các nước thuộc địa, các nước thứ ba. Dầu
hỏa là một trường hợp điển hình. Anh Mỹ đã hưởng không biết bao
nhiêu quyền lợi về dầu hỏa của các nước Á-Rập.
Ngày nay, người Tầu cũng muốn làm như
thế, làm nhiều hơn thế để bù lại những “thua thiệt” mà họ đã
gánh chịu trong gần 200 năm qua. Trong giáo dục và tuyên truyền,
nhà nước Tầu cố gây tâm lý thù hận và giành giựt với Tây phương
trong tầng lớp trẻ ở nước họ, cố làm cho số người trẻ nầy cứ
nghĩ rằng họ phải lấy những gì mà Âu-Mỹ đã lấy trước đây, ở
trong nội địa nước Tầu hay trên khắp thế giới.
Trong cách nhìn đó, trong cách làm đó,
và trong mối hận thua thiệt đó, người Tầu cố gắng bành trướng,
giống con cóc muốn to bằng con bò như trong truyện ngụ ngôn của
LaFontaine. Bao giờ thì bụng con cóc sẽ nổ bùng, như mọi người
đều suy nghĩ như thế!
Người Tầu, nói và làm?
Người Tây khác với người Tầu ở chỗ Nói
và Làm. Người Tây có nói và có làm. Người Tầu thì nói nhưng làm
thì ngược lại. Điều rõ nhứt là những quan điểm Tự Do, Dân Chủ,
Bình Đẵng, Nhân Quyền, Bác Ái, v.v...
Tôi xin dẫn chứng:
Người Âu Mỹ có những tư tưởng tiến bộ về
Tự Do, Bình Đẵng như vừa nói ở trên, rồi họ biến những tư tưởng
ấy thành hiện thực trong đời sống chính trị, xã hội ở nước họ.
Cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1776 là cuộc cách mạng thực hiện những tư
tưởng đó nên nước Mỹ mới được như ngày nay. Điều buồn cười là
những tư tưởng nói trên đơm hoa kết trái ở Pháp nhưng diễn ra ở
Mỹ trước, và phải 13 năm sau (1789) cuộc Cách mạng Tư sản Dân
quyền mới bùng nổ ở Pháp. Người Pháp thì nghĩ ra mà người Mỹ thì
làm trước. Dù sao thì ngày nay, hầu hết các nước Âu Mỹ, dù là
những nước Đông Âu từng bị Cộng Sản Nga cai trị lâu dài thì
những nước đó cũng đã có Tự Do, Dân Chủ... rồi.
Người Tầu thì “văn minh” trước người Tây
Phương rất lâu. Thời Xuân Thu (722-481 trước Tây lịch), Khổng Tử
(Tr. Tây Lịch 551-479) đã có những tư tưởng mà ngày nay Tây
Phương rất khâm phục: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái gì
mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Giả dụ như khi
mình không muốn bị ai bóc lột thì mình đừng bóc lột người khác.
Mình không muốn bị ai khinh khi thì đừng khinh khi người khác.
Mình không muốn bị tước đoạt tự do thì đừng tước đoạt tự do
người khác... Cứ như thế mà suy thì rõ ràng trong câu nói của
Khổng Tử có đủ những tư tưởng về Tự do, Bình đẳng, Bác ái mà
người Tây phương thường tượng trưng bằng ba mầu Xanh, Trắng, Đỏ!
Vậy thì từ trước Công Nguyên, tư tưởng của Khổng Tử (hay của văn
minh Trung Hoa?) đã hay lắm. Bên cạnh Khổng Tử, còn có Mạnh Tử,
Mặc Địch, v.v... đều có những thuyết “tính thiện” hay “kiêm ái”
đều hay cả. Nhưng cho tới tận bây giờ, trong những bữa ăn nhậu
của người Tầu giàu sang còn có cả thai nhi, thịt trẻ con, v.v...
Sao mà kinh khiếp thế? Ấy là chưa kể ngay trong nước Tầu bây giờ
có Tự do, Dân Chủ, Bác Ái hay không? Khó tìm thấy chữ Nhân của
Khổng Tử trong xã hội Tầu. Năm 1935, khi Thụy Điển trao giải
Nobel cho Carl von Ossietzky, Hitler phẫn nộ và cấm công dân Đức
nhận bất kỳ giải Nobel nào. Gần một trăm năm sau, Lưu Hiểu Ba
của Tầu cũng không được cho đi nhận giải Nobel. Việc ngăn cấm ấy
chấm dứt ở Đức đã lâu. Bao giờ thì nước Tầu sẽ không còn sự cấm
cản ấy, hay sẽ không bao giờ xảy ra cả.
Con cóc bể bụng!
Con cóc nếu cứ rán sức cho to bằng con
bò, có ngày bể bụng. Bao giờ thì cái bụng nước lèo của chú Ba sẽ
bể ra?
Ấy là khi những mâu thuẫn trong, ngoài
không có cách nào giải quyết được nữa.
1)- Dĩ nhiên mâu thuẫn nội bộ là mâu
thuẫn quan trọng nhứt, lý do chính là quyền lợi giàu nghèo, no
đói.
Giàu nghèo, no đói thường do địa lý kinh
tế mà ra. Về mặt nầy, người ta thấy nước Tầu có 3 khu vực khác
nhau: Khu đồng bằng phía đông là lưu vực các sông, nhất là sông
Dương Tử, người Tầu thường gọi là phúc thần. So với thế giới,
nhất là khi so với lưu vực đồng bằng sông Mississippi thì còn
thua xa nhưng cũng tạm đủ cho người Tầu sản xuất được hơn 60
phần trăm sản lượng toàn nước Tầu. Dân chúng, phần đông được gọi
là người Tầu mà Hán tộc là chính, tương đối có cơm ăn áo mặc, có
thiếu thốn nhưng chưa quá tệ nhu khu vực thứ hai.
Khu vực thứ hai bao gồm phần phía trong,
thường gọi là nội địa, có nhiều sa mạc, thảo nguyên, đất khô
cằn, khó trồng trọt, dân chúng nghèo đói... Vì nghèo đói nên
trong lịch sử nước Tầu, các cuộc nổi loạn đều do từ vùng nầy mà
ra. Khi thất thế, để tránh khỏi bị hoàn toàn tiêu diệt, các phe
yếu kém cũng rút về cố thủ nơi đây. Đó là trường hợp Lưu Bị khi
về đất Ba Thục, cũng như Mao chạy trốn về Diên An, thuộc Thiểm
Tây.
Các giống “rợ” (tiếng của người Tầu) là
những dân tộc định cư ở phía Bắc, Tây Bắc của nước Tầu. Đó là
các giống dân Triều Tiên, Mãn Châu, Hung Nô (nói chung là “rợ”
Hồ, “rợ” Quắc...), ngày nay là các giống Mông Cổ (Ngoại Mông và
Nội Mông), người Uyghur (Tầu gọi là Duy Ngô Nhĩ), người Tạng
(Tây Tạng) các giống thiểu số ở Vân Nam, Nam Man (nói chung là
Việt, Lào, Kampuchia, v.v...)
Dĩ nhiên, người Duy Ngô Nhĩ, người Tạng,
người Nội Mông, người Mãn đời sống nghèo nàn, gian khổ, thiếu
ăn, thiếu học, v.v...
Người Tầu gọi họ là “rợ” hay “man”. Gọi
như thế rõ ràng người Tầu không cho các dân giống dân nầy bình
đẵng với họ bao giờ. Không những thế, người Tầu còn muốn tiêu
diệt các giống dân nầy bằng cách “Hán hóa”.
2)- Chính sách “Hán hóa” không phải bây
giờ mới có, mà cả mấy ngàn năm trước, người Tầu đã có chính sách
ấy rồi. Họ đã thành công trong việc “Hán hóa” các giống Bách
Việt, nhưng với người Tân Cương (Có nghĩa là vùng biên giới mới
của người Tầu) với người Uyghur, người Tạng, với người Việt (Lạc
Việt), người Mãn thì họ đã thất bại. Người Mãn (Thanh) chỉ bị
“Hán hóa” khi họ vào cai trị người Tầu ở Bắc Kinh, chớ ngay tại
nước Mãn Châu thì người Tầu không “Hán hóa” người Mãn châu được.
Người Việt, nếu muốn chống lại người
Tầu, không thể không liên minh với các giống dân bị người Tầu ức
hiếp, đàn áp. bóc lột như người Tạng, người Mãn, người Uyghur.
Một mình đức Đạtlai Lạtma lãnh đạo dân Tây Tạng chống lại ách
cai trị của người Tầu thì khó thắng, nhưng nếu các dân tộc chung
quanh nước Tầu hợp sức và có sự lãnh đạo chung thì người Tầu sẽ
sợ lắm, không dám ức hiếp mạnh tay. Trong viễn tượng đó, người
Tân Cương, người Tạng sẽ cứu người Việt hay ngược lại.
Ngay trong nội bộ người Hán với nhau,
mâu thuẫn về quyền lợi cũng không kém gay gắt. Đó là những mâu
thuẫn giữa Nông thôn và Thành thị. Nông thôn thì nghèo đói,
thành thị thì no ấm, nếu không muốn nói là giàu có hơn. Nông
thôn thiếu tiện nghi về nhiều mặt, y tế, giáo thông, về cả giáo
dục. “Ngành giáo dục, nông thôn chỉ nhận được 23% trong khi nông
dân còn chiếm 61% dân số.”
Nước Tầu có hơn 100 triệu héc-ta dành
cho nông nghiệp với hơn 700 triệu nông dân, tức là nông dân
chiếm gần 60% trên dân số 1 tỷ 3 trăm triệu người.
Việc cải cách nông nghiệp ở bên Tầu
thiếu hợp lý. Muốn tăng năng xuất, nông dân dùng nhiều phân bón,
vẫn không đạt tới mức sản xuất 5 tấn một héc-ta, chỉ bằng 1/10
năng xuất nông nghiệp Âu-Mỹ.
Tính chung, mỗi nông dân Tầu chỉ nuôi
sống được 4 miệng ăn, trong khi con số ấy là 90 ở Mỹ và 160 ở
Đan Mạch. Mặc dù nông dân Tầu xử dụng tối đa phân bón nhưng lối
canh tác thô sơ, ruộng đất chia nhỏ sau khi hợp tác xã giải tán,
không áp dụng được phương phái “đại nông canh tác” như ở Mỹ nên
năng xuất không thể nào cao được, mặc dù số người tham gia nông
nghiệp còn cao.
Bên cạnh đó, ngay giữa các nông dân với
nhau, khoảng cách lợi tức của họ cũng khá xa. Ở vùng phía đông,
họ có lợi tức cao hơn gần 4 lần so với nông dân vùng nội địa và
phía tây, tính ra không tới 1 đôla một ngày.
Tình trạng nông nghiệp còn tệ hại hơn
khi đất dành cho nông nghiệp càng ngày càng thu hẹp lại vì tình
hình đô thị hóa các đặc khu kinh tế và sự bành trướng của đô
thị.
Đối với các nước độc tài, tình trạng
tham nhũng đều giống nhau và “hết thuốc chửa.” Chính thức thì
chính quyền địa phương tự ý đặt ra nhiều thứ thuế nặng nề. Mặt
khác thì tham nhũng, hối lộ không thể nào tính hết được, áp bức
và bóc lột còn thậm tệ hơn cả thời phong kiến và dưới chế độ cai
trị của quân Nhựt.
Trong chính sách đổi mới và phát triển
kinh tế, nước Tầu dựng nên nhiều “Đặc khu kinh tế” như ở Hạ Môn,
Chu Hải, Sán Đầu, Hải Nam, Thẩm Quyến và các thành phố lớn như
Quảng Châu, Thượng Hải... Việc mở mang các đặc khu kinh tế và
thành phố lớn, nhỏ làm cho số lượng nông dân giảm dần đi 12% mỗi
năm.
So với thôn quê thì thành thị có đời
sống khá hơn, đầy đủ hơn. Ở bên Tầu bây giờ, người nông thôn đổ
xô ra thành thị kiếm sống, kiếm công ăn việc làm. Điều ấy cho
chúng ta thấy những mâu thuẫn trong nội bộ của Tầu.
Nguy hiểm hơn, những mâu thuẫn đó càng
ngày càng sâu sắc. Những người cầm quyền ở Bắc Kinh biết rất rõ
điều đó. Sau thời kỳ Giang Trạch Dân với chủ trương tập trung
phát triển vùng phía đông thì những người cầm quyền bên Tầu bây
giờ chú tâm vào việc phát triển vùng nội địa và phía tây. Công
việc nầy dĩ nhiên tạo ra phản ứng của lãnh đạo các đặc khu kinh
tế và thành phố lớn, nhứt là Thượng Hải.
Mâu thuẫn quyền lợi của các đặc khu kinh
tế nảy sinh ra mâu thuẫn quyền lực.
Tầu vốn là một nước phong kiến (Phong
tước và kiến địa) nên từ căn bản, mâu thuẫn quyền lợi, quyền lực
giữa trung ương và địa phương, giữa hoàng đế và chư hầu như thời
Đông Châu là điều không thể tránh được. Gốc rễ của những mâu
thuẫn đó là từ cơ chế, từ tâm lý (mỗi người Tầu là một ông vua,
như người ta thường nói, “Được làm vua thua làm giặc”...) thì
tránh được sự phân quyền, cát cứ, sứ quân... đã là điều may, nói
chi tới thống nhứt, trên dưới một lòng.
Tranh giành quyền lực, thậm chí ganh
ghét, kình chống nhau, ngấm ngầm hay ra mặt, ngay dưới thời Mao
trị vì cũng đã có huống gì ngày nay. Khi Đặng Tiểu Bình làm đảo
chánh ở Bắc Kinh thất bại thì Đặng chạy trốn về Quảng Châu với
Dương Thượng Côn vì ông tướng Dương nầy cũng không kính trọng
Mao và sợ Mao cho lắm. Thời Mao còn sống, mỗi khi từ Quảng Châu
về Bắc Kinh họp, Dương thường mang theo một tiểu đoan để “bảo
vệ” ông ta.
Ngày nay cũng vậy thôi, các đặc khu kinh
tế giàu có không muốn có sưu cao thuế nặng, không muốn gánh gồng
những vùng nông thôn hay nội địa có kinh tế thấp, chưa kể việc
các lãnh chúa của những địa phương nầy muốn “đè nặng” lên quyền
lực trung ương.
Phản ứng của các tay lãnh đạo các đặc
khu kinh tế và thành phố lớn là vì nông nghiệp đóng góp ít (15%
cho tổng sản lượng quốc gia) trong khi lãnh vực công nghiệp thì
đóng góp cao hơn.
Vì lợi tức thấp nên mức tiêu dùng đồ
tiêu dùng của nông dân không cao, giúp ích rất ít cho lãnh vực
sản xuất công nghiệp.
Các đặc khu kinh tế và các thành phố lớn
có nền ngoại thương lớn với các nước Âu Mỹ, muốn xuất cảng được
nhiều, muốn có lợi nhiều nên càng muốn ít lệ thuộc vào trung
ương.
Đó cũng là nguyên nhân mâu thuẫn trong
chính sách đối ngoại.
Yếu tố phân hóa trong nội bộ nước
Tầu:
1)- giàu nghèo
2)- quyền lợi không quân bình giữa các
vùng địa lý kinh tế, giữa các nông dân
3)- mâu thuẫn nông thôn thành thị, giữa
nông nghiệp và đặc khu kinh tế.
4)- mâu thuẫn quyền lực giữa địa phương
và trung ương
5)- mâu thuẫn giữa các phe nhóm trong
đảng.
6)- mâu thuẫn giữa đảng và trí thức.
7)- tình trạng tham nhũng
8)- mau thuẫn giữa Tầu và các nước chung
quanh, sự bành trướng quá lớn.
9)- mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên ngoài
Có thể nói người Tầu gây mâu thuẫn với
toàn thế giới, với Mỹ, với cộng đồng Châu Âu, với Châu Á, với
Đông Nam Á, với Châu Phi. Ngay cả với những chính quyền “đệ tử”
của Tầu như ở Bình Nhưỡng, ở Naypyidaw (thủ đô mới của Miến
Điện) hay Hà Nội, vẫn có nhiều mâu thuẫn khi sâu sắc, khi bình
thường.
Mâu thuẫn quan trọng nhứt là tiền tệ.
Chính phủ Tầu cố giữ đồng nhân dân tệ giá thấp để giá hàng xuất
cảng được hạ, tràn ngập khắp nơi. Mỹ và Cộng Đồng Châu Âu can
thiệp, họp bàn với Bắc Kinh nhiều lần nhưng chưa có kết quả, và
cũng khó có kết quả.
Trung Quốc khăng khăng giữ tỷ giá 6,83
NDT đổi 1 USD để hỗ trợ xuất khẩu đã bị các nhà lập pháp Mỹ chỉ
trích mạnh mẽ.
Ông Yoshihiko Noda Thứ trưởng Tài chính
Nhật cảnh báo Bắc Kinh: “Hiện có nhiều sự mong đợi, chứ không
riêng từ phía Mỹ, về việc Trung Quốc sẽ nới lỏng chính sách kìm
giữ giá nhân dân tệ”.
Bên cạnh đó , nếu so sánh với các nước
khác ở Đông Nam Á, việc nước Tầu giữ nguyên giá đồng tiền của họ
giúp họ xuất khẩu được nhiều hàng hóa hơn. Tuy nhiên, lại có mâu
thuẫn khác là khi các nước giàu như Nhựt Bản, Đại Hàn đầu tư sản
xuất vào Tầu thì các công ty nầy cũng được hưởng lợi như chính
nước Tầu vậy.
Tầu vẫn chưa nhượng bộ, Mỹ tiếp tục gây
sức ép, mặc dù phía Tầu đã tuyên bố việc gây sức ép sẽ không có
hiệu quả gì cả.
Thứ hai là mâu thuẫn về tài nguyên, nhứt
là dầu lửa, thứ đến là mỏ kim loại. Như đã nói, dầu hỏa là máu
của kinh tế thế giới, nhứt là với những nước đang phát triển như
Tầu. Tầu đang cố giành cho được vùng lưỡi bò, chính yếu cũng vì
đó là vùng có mỏ dầu lửa. Thiếu dầu, các nhà máy phải đóng cửa.
Đòi nhiều! Có giữ được không?
Tức tối và thù hận bấy lâu nay nước Tầu
còn mê ngủ để cho các nước Âu Mỹ giành hết tài nguyên trên thế
giới, ngày nay Tầu hung hăng đòi quyền lợi nầy, quyền lợi khác,
đòi thật nhiều, cho thỏa mãn. Nhưng liệu có đòi được không, hoặc
có đòi được thì có giữ được không? Việc đòi vùng lưỡi bò là một
thí dụ. Tầu có đòi được vùng nầy không? Liệu các nước Đông Nam
Á, Tây Âu và Mỹ có để cho Tầu tự tung tự tác như vậy được không?
Đòi mà không được thì uy tín có bị sứt mẻ không? Lên thang thì
dễ, xuống thang có khó không? Không lý họ cứ hung hăng mà không
tính đến hậu quả, hay họ cứ làm như thế để tạm thời trấn an dân
chúng trong nước, để cho những mâu thuẫn nội bộ tạm yên?
Để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình,
người Tầu phải tăng cường sức mạnh quân sự, phát triển những
loại vũ khí tối tân, đóng hàng không mẫu hạm, v.v... Việc tăng
cường quân đội, bộ binh, thủy binh, hạm đội... đến bao giờ thì
có thể cân bằng với lực lượng quân sự các nước Đông Nam Á, Châu
Á, với Hạm Đội 7, với hải quân Mỹ. Đó là con đường dài, không ít
tốn kém, là tạo ra chiến tranh lạnh. Càng tốn kém, dân Tầu càng
thắt lưng buộc bụng, các mâu thuẫn, sự chống đối trong nước càng
thêm mạnh.
Dĩ nhiên, việc tăng cường sức mạnh quân
sự làm cho các nước chung quanh, kể cả Nhựt Bản lo sợ. Càng lo
sợ, các nước nầy càng phụ thuộc vào Mỹ. Vài ví dụ sau đây cho
chúng ta thấy điều ấy. Thủ tướng Nhựt Yukio Hatoyama trước khi
nhậm chức có hứa sẽ yêu cầu Mỹ bỏ căn cứ quân sự Futenma ra khỏi
Okinawa nhưng ông không làm được nên phải từ chức. Trước tình
hình bành trướng quân sự của Tầu, làm sao thủ tướng Nhựt có thể
dời được căn cứ quân sự Mỹ ở Nhựt. Làm như thế, khác nào Nhựt tự
cô lập mình về quân sự.
Có phải Tầu bật đèn xanh cho Bắc Triều
Tiên pháo kích vào hòn đảo Yeonpyeong của Nam Triều Tiên. Việc
ấy chỉ có lợi cho Mỹ bởi vì khi tổng thống Obama đến Hán Thành,
ông đã không đạt được thỏa ước thương mại với Nam Triều Tiên.
Tuy nhiên, sau vụ tấn công đó, Mỹ và Nam Triều Tiên tập trận
chung, thì Hán Thành vội vàng ký hiệp ước nói trên, thuận để Mỹ
nhập cảng thịt bò và xe hơi vào quốc gia nầy.
Nước Tầu bây giờ bên trong thì mâu thuẫn
nội bộ. Hàng ngũ trí thức bị đàn áp trong vụ Thiên An Môn.
http://www.createforum.com/exodusforvietna/viewtopic.php?p=2556&mforum=exodusforvietna#2556