đăng ngày: 24.9.2009

ß Trờ về

     (một bài học về công an-mật vụ-ăng ten của cộng sản 'gài' vào Tôn Giáo)

Trần Văn Tích 

Mục vụ = mật vụ 

Những ai từng là nạn nhân của chế độ cộng sản đều không lấy gì làm ngạc nhiên khi đọc tin Tổng Giám mục Stanislaw Wielgus của thủ đô Warszawa từ chức vì quá khứ cộng tác với cơ quan mật vụ Ba Lan. Trước lễ Giáng sinh không lâu, ông bị tờ báo quốc gia Gazeta Polska tố cáo từng do thám và theo dõi những người đồng đạo. Vì ông chối tội nên tờ báo đưa lên internet sáu mươi tám trang văn kiện mật liên quan đến Wielgus, kể cả hai bản cam kết cộng tác với công an mật vụ của Wielgus. Ông mang bí danh Grey và Adam. Sau một thời gian dài giữ im lặng và/hoặc phủ nhận, ngày thứ Sáu 05.01. vừa qua, dưới áp lực của công luận và trước những bằng chứng rõ ràng, ông đành thú nhận là đã tiếp xúc liên lạc với cơ quan mật vụ cộng sản trong nhiều năm và ngỏ lời xin lỗi quốc dân Ba Lan.

Wielgus học thần học ở
Lublin và thụ phong linh mục năm 1962. Từ 1969, ông chuyển qua lĩnh vực khảo cứu ở Viện đại học Công giáo Lublin. Từ năm 1973, trong hai năm, ông được học bổng nghiên cứu của Tổ chức Humboldt thuộc Viện đại học München. Ông đã được cấp chiếu khán xuất cảnh và giấy phép xuất ngoại do sự yểm trợ của cơ quan mật vụ cộng sản. Trước khi lên đường sang Tây Ðức, ông đã ký giấy cam kết phục vụ ngành mật vụ và được yêu cầu theo dõi các hội đoàn lưu vong Ba Lan cũng như giới tu sĩ công giáo Ba Lan ở Ðức, nhất là ở München. Từ 1989 đến 1998 ông là viện trưởng Viện đại học Công giáo Lublin. Tháng 05.1999, Giáo hoàng Johannes Paul II cử ông làm Giám mục Plock. Ngày 06.12.2006, Giáo hoàng Benedikt XVI. đề cử ông kế vị Hồng y Jozef Glemp làm Tổng Giám mục Warszawa. Trong khi Giám mục Stefan Wyszynski dưới triều đại Stalin bị quản thúc hằng bao nhiêu năm, trong khi Linh mục Jerzy Popieluszko bị mật vụ thủ tiêu thì Giám mục Stanislaw Wielgus thung dung xuất ngoại sang phe tư bản. Ðương nhiên ông đã phải trả giá và từ nhiệm vụ thiêng liêng chăn dắt tông đồ, ông nhận công tác bỉ ổi theo dõi tín hữu, từ chức năng mục vụ cao quý, ông bước sang vai trò mật vụ rình mò. Ông đã là kẻ báo cáo lén lút cho cơ quan an ninh cộng sản SB của Ba Lan vào những thập niên 60 và 70. Ðã có hai tiểu ban qui tụ các sử gia khách quan nghiên cứu hồ sơ Stanislaw Wielgus. Cả hai tiểu ban đồng đi đến kết luận là chắc chắn Wielgus đã hợp tác với mật vụ cộng sản Ba Lan. Khai thác văn kiện lưu trữ, thấy rằng ít nhất năm mươi lần nhà tu hành đã gặp gỡ các sĩ quan an ninh mật vụ và gặp gỡ những thành phần an ninh tình báo này ngay từ thời còn là sinh viên theo học Viện đại học Công giáo Lublin. Nội dung phúc trình mật nhắm vào các nhà truyền giáo, các khoa học gia thuộc trường đại học cũng như tinh thần của ban giảng huấn và sinh viên.

Giáo đoàn Ba Lan tất nhiên không phải chỉ có một mật báo viên Stanislaw Wielgus. Hãng tin TVN 24 loan báo Giáo chủ nhà thờ Wawel ở Kraków, Janusz Bielanski, đã xin Hồng y Stanislaw Dziwisz cho từ nhiệm và đã được chấp nhận tức khắc. Trước đây một năm, tạp chí Wprost đã tố cáo Bielanski từng là nội gián phục vụ cơ quan công an cộng sản. Nhiều linh mục thuộc nhóm thân hữu của Hồng y Dziwisz đã bị tổ chức mật vụ làm áp lực bắt ép phải cộng tác hàng loạt, theo Newsweek Polska. Sở dĩ như vậy vì Dziwisz nguyên là linh mục gia đình của Karol Wojtyla và sau khi vị giáo sĩ cao cấp này được bầu vào chức Giáo hoàng thì Dziwisz trở thành phụ tá riêng của Ngài.

Nhằm bảo vệ thể chế, chính quyền cộng sản phải nắm chắc công quyền các cấp và kiểm soát gắt gao quần chúng. Nó cần một bộ máy cai trị trung thành và đắc lực. Nó cố tạo cho kỳ được một cơ sở xã hội thích hợp với chế độ của nó, gắn bó với quyền lợi của nó. Chính quyền cộng sản chỉ dành cho người dân một con đường: đầu hàng khuất phục, chỉ chấp nhận ở đồng hương một thái độ: quì gối cam chịu. Vì vậy nó tổ chức một màng lưới an ninh mật vụ vừa rộng lớn vừa dày đặc. Thật ra chính quyền nào cũng có những cơ quan tình báo phản gián, trinh sát thông tin. Thật ra thời đại nào cũng có hạng người ton hót xúi bẩy làm hại người khác, có khi cũng làm cả việc dò la mật báo vu cáo nhưng nhìn chung, so sánh các bộ máy tổ chức cai trị với nhau, kể cả guồng máy bị xem là đàn áp của phát xít Quốc xã, không có cơ cấu quyền lực nào lại biết sử dụng mật thám, do thám, mật báo, mật vụ, điểm chỉ, chỉ điểm, nội gián, gián điệp, an ninh, tình báo, lính kín, đặc công, đặc vụ, điệp viên, ăng-ten một cách chuyên nghiệp và tàn bạo như chế độ cộng sản. Ðối với nó, mật thám mật vụ là hạng khuyển mã trung thành, là loại tay sai tin cậy, là lớp gia nô được ưu đãi, có nhiều đặc quyền đặc lợi, dĩ chí còn được dung túng cho làm bậy, được che chở khi phạm pháp. Ðó là tầng lớp người cặn bã của xã hội, không còn nhân cách, đánh mất phẩm chất, chỉ biết quanh năm ngày tháng rình rập để tố cáo những người khác chính kiến; chúng không những đáng khinh, đáng ghét mà còn đáng sợ. Chúng chẳng những chỉ phá hoại các mầm mống chống đối mà còn vu oan giá hoạ, ức hiếp sách thủ để đe doạ, bắt ép người khác, cưỡng thủ, hãm hại đồng loại. Ðặc điểm của một nhân viên mật vụ cộng sản không phải là nịnh hót luồn cúi mà là thâm hiểm độc ác, kín đáo, khó biết tung tích, khó ngờ hành động. Cái bề ngoài mập mờ như vậy làm cho y có thể lộn sòng thành người tốt, người hiền, người tử tế, người lương thiện; nhất là khi y vốn xuất thân có học thức, có địa vị, chẳng hạn tu sĩ, bác sĩ.

Sau khi nước Ðức thống nhất, hồ sơ của Bộ An ninh, của cơ quan mật vụ lần lượt được nghiên cứu có hệ thống và trên nhiều mặt. Dựa vào những công trình này, tạp chí Deutsches Ärzteblatt của Y sĩ đoàn Ðức cho đăng một số bài viết về các bác sĩ trong chế độ cộng sản Ðông Ðức cũ từng là cộng tác viên bán chính thức hay cộng tác viên bí mật, inoffizielle Mitarbeiter (IM) của bộ máy an ninh.

IM được chính Erich Mielke, Bộ trưởng Bộ An ninh gọi là vũ khí chính bảo vệ an ninh quốc gia (Hauptwaffe der Staatssicherheit). IM được định nghĩa là những người bí mật thỏa thuận cộng tác với công an. Họ lãnh công tác thu góp tin tức nhằm hỗ trợ sách lược chống lại kẻ thù dân tộc; họ thuộc cơ cấu ẩn mặt duy trì mối quan hệ giữa dân chúng và Bộ Công an. Bộ An ninh Quốc gia (Ministerium fuer Staatssicherheit, MfS) tuyển IM trong các bác sĩ tốt nghiệp đại học theo hệ đào tạo chính qui, có sở thích (hobby) riêng thích hợp, nói năng khéo léo, sống theo phong thái tiểu tư sản và nếu có thể thì có thái độ chính trị bàng quan, nghĩa là làm ra vẻ chỉ đồng hành chứ không đồng chí với chế độ. Về vật chất, IM phải có tiền bạc rủng rỉnh, có xe hơi cá nhân và có nhà ở trang trí đàng hoàng. Về lý lịch, IM nên là con cái gia đình cách mạng tiến bộ, thuộc giai cấp công nhân, có nhiều cảm tình với chủ nghĩa xã hội. Về tuổi tác, đa số IM ở tuổi trung niên; về gia cảnh, IM nếu có người hôn phối là đồng nghiệp thì càng tốt. Về nghiệp vụ, IM được chọn trong tập thể bác sĩ chuyên khoa có trình độ, có nhiều giao thiệp với những đồng nghiệp thuộc các lĩnh vực khác. Tuy không phải là đảng viên cộng sản, nhưng IM có thể là thành viên các ủy ban cán sự Ðảng. Tất nhiên IM phải có quan điểm cơ bản xây dựng trên lòng trung thành với chế độ và có lập trường chính trị-ý thức hệ vững vàng. Trong hai thập niên 50 và 60, số bác sĩ IM được kết nạp ít hơn hẳn nếu so với các thập niên 70 trở đi. Ngày 15 tháng 7 năm 1959, Erich Mielke ký nội lệnh, theo đó ngành công an phải đạt tiêu chuẩn cài đặt cho kỳ được một hay hai bác sĩ IM trong mỗi cơ quan y tế tùy theo lớn nhỏ. Vào thời điểm này, một số IM còn chưa tốt nghiệp bác sĩ và vì vậy, họ được bố trí báo cáo về tình trạng các trường đại học y khoa. Từ thập niên 50 trở đi, do tình hình khó khăn trong ngành y tế và do sự kiện các bác sĩ tìm cách trốn sang Tây Ðức nên IM được tuyển mộ thêm. Trong thập niên 60, IM có nhiệm vụ chính là phá hoại sự trao đổi khoa học và sự liên lạc cá nhân giữa Ðông và Tây Ðức. Thập niên 70, bác sĩ IM lại được lệnh hướng trọng tâm công tác dò xét vào những thành phần muốn trốn chạy khỏi thiên đường xã hội chủ nghĩa. Từ thập niên 80 trở đi, không có bệnh viện hay cơ quan y tế nào lớn mà lại không có IM. Bộ An ninh nhận thức rằng đa số bác sĩ có thể được thuyết phục qua giáo dục để tham gia công tác bí mật, chỉ có chừng một phần năm là phải sử dụng áp lực dưới nhiều hình thức khác nhau để buộc họ phải cộng tác. Trong những trường hợp này, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa cho phép vận dụng mọi biện pháp ma giáo, mọi thủ đoạn doạ dẫm. MfS có thể ngụy tạo hồ sơ để vu cáo sách nhiễu và bắt ép người bác sĩ nạn nhân phải đầu quân dưới trướng. MfS có thể chiêu dụ những bác sĩ bị tù đày vì chính trị với lời hứa hẹn sẽ giảm án nếu họ chịu cộng tác. MfS có thể lợi dụng những lỗi lầm nghiệp vụ để làm săng-ta qua đe doạ phát giác nếu bất hợp tác. Nhưng cá biệt cũng có trường hợp tự động tình nguyện tiếp tay MfS để tố cáo bệnh nhân, chẳng hạn đối với người bệnh có ý định vượt tuyến thì từng có bác sĩ âm thầm chủ động thông báo cho công an về âm mưu liên hệ, có thể vì sợ rằng nếu mình không báo cáo thì khi sự việc vỡ lở mình sẽ bị liên lụy nguy hiểm.

MfS có nhiều cơ sở đào tạo cán bộ cao cấp. Năm 1951, tại Golm gần Potsdam, chủ tịch Ðảng Cộng sản Ðông Ðức Walter Ulbricht khai trương Học viện của Bộ An ninh Quốc gia (Schule des Ministeriums fuer Staatssicherheit), tại trường này học viên có thể lấy bằng tốt nghiệp kể từ năm 1963. Từ tháng sáu năm 1965, trường mang tên chính thức là trường Cao đẳng Luật khoa Potsdam (Juristische Hochschule Potsdam) nhưng đối với nội bộ Ðảng thì địa điểm nâng cao trình độ nghiệp vụ tình báo này lại mang danh trường Cao đẳng An ninh Quốc gia (Hochschule des Ministeriums fuer Staatssicherheit). Ngày 18 tháng sáu 1968 trường được công nhận có quyền phong học vị sau khi học viên đệ trình luận án nhưng tất cả các luận án đều thuộc loại văn khố cần bảo mật. Thoạt tiên trường có các bộ môn đào tạo luật học, hình pháp học bên cạnh các học viện Mác-Lê và luật. Về sau trường càng phát triển và có thêm một số bộ môn mới như hoạt động gián điệp, công tác phá hoại chính trị và ý thức hệ, công tác bí mật trong lòng địch. Cho đến ngày ngôi trường ma giáo này bị giải thể đã có chừng một vạn cán bộ tốt nghiệp, theo ước đoán tổng quát.

Guồng máy bạo tàn của chế độ cộng sản vốn có những tổ chức giống nhau tại những quốc gia khác nhau. Như vậy, khi tỷ lệ bác sĩ bị cưỡng ép làm mật vụ cho ngành công an ở Ðông Ðức cũ là từ ba đến năm phần trăm tập thể giới áo trắng thì nếu trong hàng ngũ giáo phẩm Thiên chúa giáo Ba Lan, có một số linh mục, giám mục, giáo sĩ làm chỉ điểm cho cơ quan an ninh, điều đó có gì là lạ?

Chính quyền Ba Lan đương nhiệm chủ trương triệt để khai thác tội ác quá khứ của Ðảng Cộng sản. Khi Tổng Giám mục Stanislaw Wielgus tuyên bố từ chức tại buổi lễ long trọng nơi thánh đường Warszawa thì Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski và phu nhân ngồi ở hàng ghế danh dự đồng vỗ tay tán thưởng. Một vài tín hữu hô to “Bravo“. Nhưng một số công dân Ba Lan và ngay cả một số tu sĩ Công giáo lại ngỏ lời thông cảm với Tổng Giám mục Stanislaw Wielgus. Nhiều người chứng kiến lúc ông tuyên bố từ nhiệm đã kêu lên “Không, không“ và “Hãy ở lại với chúng tôi“. Họ cho rằng tội ác tày trời phải qui vào Ðảng Cộng sản với guồng máy ma quỉ của nó chứ không thể gán cho những cá nhân đơn độc. Ngay chính Hồng y Jozef Glemp cũng bảo rằng không ai đo lường được mức độ áp bức của công an mật vụ cộng sản đối với người sinh viên thần học trẻ tuổi lúc mới bước vào đời.

Dầu sao bài học nóng hổi về di họa cộng sản cũng chỉ mới mở ra một vài trang.

Westpreussenstr., 09.01.2007

© 2007 talawas
 

Source (11.1.2007): 

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8975&rb=0402

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: hoa95121@yahoo.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA