(một bài học về công an-mật vụ-ăng ten của cộng sản 'gài' vào
Tôn Giáo)
Trần Văn Tích
Mục vụ = mật vụ
Những ai từng là nạn nhân của chế độ cộng sản đều không lấy gì
làm ngạc nhiên khi đọc tin Tổng Giám mục Stanislaw Wielgus của
thủ đô Warszawa từ chức vì quá khứ cộng tác với cơ quan mật vụ
Ba Lan. Trước lễ Giáng sinh không lâu, ông bị tờ báo quốc gia
Gazeta Polska tố cáo từng do thám và theo dõi những người
đồng đạo. Vì ông chối tội nên tờ báo đưa lên internet sáu mươi
tám trang văn kiện mật liên quan đến Wielgus, kể cả hai bản cam
kết cộng tác với công an mật vụ của Wielgus. Ông mang bí danh
Grey và Adam. Sau một thời gian dài giữ im lặng và/hoặc phủ
nhận, ngày thứ Sáu 05.01. vừa qua, dưới áp lực của công luận và
trước những bằng chứng rõ ràng, ông đành thú nhận là đã tiếp xúc
liên lạc với cơ quan mật vụ cộng sản trong nhiều năm và ngỏ lời
xin lỗi quốc dân Ba Lan.
Wielgus học thần học ở
Lublin
và thụ phong linh mục năm 1962. Từ 1969, ông chuyển qua lĩnh vực
khảo cứu ở Viện đại học Công giáo
Lublin.
Từ năm 1973, trong hai năm, ông được học bổng nghiên cứu của Tổ
chức Humboldt thuộc Viện đại học München. Ông đã được cấp chiếu
khán xuất cảnh và giấy phép xuất ngoại do sự yểm trợ của cơ quan
mật vụ cộng sản. Trước khi lên đường sang Tây Ðức, ông đã ký
giấy cam kết phục vụ ngành mật vụ và được yêu cầu theo dõi các
hội đoàn lưu vong Ba Lan cũng như giới tu sĩ công giáo Ba Lan ở
Ðức, nhất là ở München. Từ 1989 đến 1998 ông là viện trưởng Viện
đại học Công giáo Lublin. Tháng 05.1999, Giáo hoàng Johannes
Paul II cử ông làm Giám mục Plock. Ngày 06.12.2006, Giáo hoàng
Benedikt XVI. đề cử ông kế vị Hồng y Jozef Glemp làm Tổng Giám
mục Warszawa. Trong khi Giám mục Stefan Wyszynski dưới triều đại
Stalin bị quản thúc hằng bao nhiêu năm, trong khi Linh mục Jerzy
Popieluszko bị mật vụ thủ tiêu thì Giám mục Stanislaw Wielgus
thung dung xuất ngoại sang phe tư bản. Ðương nhiên ông đã phải
trả giá và từ nhiệm vụ thiêng liêng chăn dắt tông đồ, ông nhận
công tác bỉ ổi theo dõi tín hữu, từ chức năng mục vụ cao quý,
ông bước sang vai trò mật vụ rình mò. Ông đã là kẻ báo cáo lén
lút cho cơ quan an ninh cộng sản SB của Ba Lan vào những thập
niên 60 và 70. Ðã có hai tiểu ban qui tụ các sử gia khách quan
nghiên cứu hồ sơ Stanislaw Wielgus. Cả hai tiểu ban đồng đi đến
kết luận là chắc chắn Wielgus đã hợp tác với mật vụ cộng sản Ba
Lan. Khai thác văn kiện lưu trữ, thấy rằng ít nhất năm mươi lần
nhà tu hành đã gặp gỡ các sĩ quan an ninh mật vụ và gặp gỡ những
thành phần an ninh tình báo này ngay từ thời còn là sinh viên
theo học Viện đại học Công giáo Lublin. Nội dung phúc trình mật
nhắm vào các nhà truyền giáo, các khoa học gia thuộc trường đại
học cũng như tinh thần của ban giảng huấn và sinh viên.
Giáo đoàn Ba Lan tất nhiên không phải chỉ có một mật báo viên
Stanislaw Wielgus. Hãng tin TVN 24 loan báo Giáo chủ nhà thờ
Wawel ở Kraków, Janusz Bielanski, đã xin Hồng y Stanislaw
Dziwisz cho từ nhiệm và đã được chấp nhận tức khắc. Trước đây
một năm, tạp chí Wprost đã tố cáo Bielanski từng là nội
gián phục vụ cơ quan công an cộng sản. Nhiều linh mục thuộc nhóm
thân hữu của Hồng y Dziwisz đã bị tổ chức mật vụ làm áp lực bắt
ép phải cộng tác hàng loạt, theo Newsweek Polska. Sở dĩ
như vậy vì Dziwisz nguyên là linh mục gia đình của Karol Wojtyla
và sau khi vị giáo sĩ cao cấp này được bầu vào chức Giáo hoàng
thì Dziwisz trở thành phụ tá riêng của Ngài.
Nhằm bảo vệ thể chế, chính quyền cộng sản phải nắm chắc công
quyền các cấp và kiểm soát gắt gao quần chúng. Nó cần một bộ máy
cai trị trung thành và đắc lực. Nó cố tạo cho kỳ được một cơ sở
xã hội thích hợp với chế độ của nó, gắn bó với quyền lợi của nó.
Chính quyền cộng sản chỉ dành cho người dân một con đường: đầu
hàng khuất phục, chỉ chấp nhận ở đồng hương một thái độ: quì gối
cam chịu. Vì vậy nó tổ chức một màng lưới an ninh mật vụ vừa
rộng lớn vừa dày đặc. Thật ra chính quyền nào cũng có những cơ
quan tình báo phản gián, trinh sát thông tin. Thật ra thời đại
nào cũng có hạng người ton hót xúi bẩy làm hại người khác, có
khi cũng làm cả việc dò la mật báo vu cáo nhưng nhìn chung, so
sánh các bộ máy tổ chức cai trị với nhau, kể cả guồng máy bị xem
là đàn áp của phát xít Quốc xã, không có cơ cấu quyền lực nào
lại biết sử dụng mật thám, do thám, mật báo, mật vụ, điểm chỉ,
chỉ điểm, nội gián, gián điệp, an ninh, tình báo, lính kín, đặc
công, đặc vụ, điệp viên, ăng-ten một cách chuyên nghiệp
và tàn bạo như chế độ cộng sản. Ðối với nó, mật thám mật vụ là
hạng khuyển mã trung thành, là loại tay sai tin cậy, là lớp gia
nô được ưu đãi, có nhiều đặc quyền đặc lợi, dĩ chí còn được dung
túng cho làm bậy, được che chở khi phạm pháp. Ðó là tầng lớp
người cặn bã của xã hội, không còn nhân cách, đánh mất phẩm
chất, chỉ biết quanh năm ngày tháng rình rập để tố cáo những
người khác chính kiến; chúng không những đáng khinh, đáng ghét
mà còn đáng sợ. Chúng chẳng những chỉ phá hoại các mầm mống
chống đối mà còn vu oan giá hoạ, ức hiếp sách thủ để đe doạ, bắt
ép người khác, cưỡng thủ, hãm hại đồng loại. Ðặc điểm của một
nhân viên mật vụ cộng sản không phải là nịnh hót luồn cúi mà là
thâm hiểm độc ác, kín đáo, khó biết tung tích, khó ngờ hành
động. Cái bề ngoài mập mờ như vậy làm cho y có thể lộn sòng
thành người tốt, người hiền, người tử tế, người lương thiện;
nhất là khi y vốn xuất thân có học thức, có địa vị, chẳng hạn tu
sĩ, bác sĩ.
Sau khi nước Ðức thống nhất, hồ sơ của Bộ An ninh, của cơ quan
mật vụ lần lượt được nghiên cứu có hệ thống và trên nhiều mặt.
Dựa vào những công trình này, tạp chí Deutsches Ärzteblatt
của Y sĩ đoàn Ðức cho đăng một số bài viết về các bác sĩ
trong chế độ cộng sản Ðông Ðức cũ từng là cộng tác viên bán
chính thức hay cộng tác viên bí mật, inoffizielle Mitarbeiter
(IM) của bộ máy an ninh.
IM được chính Erich Mielke, Bộ trưởng Bộ An ninh gọi là vũ khí
chính bảo vệ an ninh quốc gia (Hauptwaffe der
Staatssicherheit). IM được định nghĩa là những người bí mật
thỏa thuận cộng tác với công an. Họ lãnh công tác thu góp tin
tức nhằm hỗ trợ sách lược chống lại kẻ thù dân tộc; họ thuộc cơ
cấu ẩn mặt duy trì mối quan hệ giữa dân chúng và Bộ Công an. Bộ
An ninh Quốc gia (Ministerium fuer Staatssicherheit, MfS)
tuyển IM trong các bác sĩ tốt nghiệp đại học theo hệ đào tạo
chính qui, có sở thích (hobby) riêng thích hợp, nói năng khéo
léo, sống theo phong thái tiểu tư sản và nếu có thể thì có thái
độ chính trị bàng quan, nghĩa là làm ra vẻ chỉ đồng hành chứ
không đồng chí với chế độ. Về vật chất, IM phải có tiền bạc rủng
rỉnh, có xe hơi cá nhân và có nhà ở trang trí đàng hoàng. Về lý
lịch, IM nên là con cái gia đình cách mạng tiến bộ, thuộc giai
cấp công nhân, có nhiều cảm tình với chủ nghĩa xã hội. Về tuổi
tác, đa số IM ở tuổi trung niên; về gia cảnh, IM nếu có người
hôn phối là đồng nghiệp thì càng tốt. Về nghiệp vụ, IM được chọn
trong tập thể bác sĩ chuyên khoa có trình độ, có nhiều giao
thiệp với những đồng nghiệp thuộc các lĩnh vực khác. Tuy không
phải là đảng viên cộng sản, nhưng IM có thể là thành viên các ủy
ban cán sự Ðảng. Tất nhiên IM phải có quan điểm cơ bản xây dựng
trên lòng trung thành với chế độ và có lập trường chính trị-ý
thức hệ vững vàng. Trong hai thập niên 50 và 60, số bác sĩ IM
được kết nạp ít hơn hẳn nếu so với các thập niên 70 trở đi. Ngày
15 tháng 7 năm 1959, Erich Mielke ký nội lệnh, theo đó ngành
công an phải đạt tiêu chuẩn cài đặt cho kỳ được một hay hai bác
sĩ IM trong mỗi cơ quan y tế tùy theo lớn nhỏ. Vào thời điểm
này, một số IM còn chưa tốt nghiệp bác sĩ và vì vậy, họ được bố
trí báo cáo về tình trạng các trường đại học y khoa. Từ thập
niên 50 trở đi, do tình hình khó khăn trong ngành y tế và do sự
kiện các bác sĩ tìm cách trốn sang Tây Ðức nên IM được tuyển mộ
thêm. Trong thập niên 60, IM có nhiệm vụ chính là phá hoại sự
trao đổi khoa học và sự liên lạc cá nhân giữa Ðông và Tây Ðức.
Thập niên 70, bác sĩ IM lại được lệnh hướng trọng tâm công tác
dò xét vào những thành phần muốn trốn chạy khỏi thiên đường xã
hội chủ nghĩa. Từ thập niên 80 trở đi, không có bệnh viện hay cơ
quan y tế nào lớn mà lại không có IM. Bộ An ninh nhận thức rằng
đa số bác sĩ có thể được thuyết phục qua giáo dục để tham gia
công tác bí mật, chỉ có chừng một phần năm là phải sử dụng áp
lực dưới nhiều hình thức khác nhau để buộc họ phải cộng tác.
Trong những trường hợp này, đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa
cho phép vận dụng mọi biện pháp ma giáo, mọi thủ đoạn doạ dẫm.
MfS có thể ngụy tạo hồ sơ để vu cáo sách nhiễu và bắt ép người
bác sĩ nạn nhân phải đầu quân dưới trướng. MfS có thể chiêu dụ
những bác sĩ bị tù đày vì chính trị với lời hứa hẹn sẽ giảm án
nếu họ chịu cộng tác. MfS có thể lợi dụng những lỗi lầm nghiệp
vụ để làm săng-ta qua đe doạ phát giác nếu bất hợp tác.
Nhưng cá biệt cũng có trường hợp tự động tình nguyện tiếp tay
MfS để tố cáo bệnh nhân, chẳng hạn đối với người bệnh có ý định
vượt tuyến thì từng có bác sĩ âm thầm chủ động thông báo cho
công an về âm mưu liên hệ, có thể vì sợ rằng nếu mình không báo
cáo thì khi sự việc vỡ lở mình sẽ bị liên lụy nguy hiểm.
MfS có nhiều cơ sở đào tạo cán bộ cao cấp. Năm 1951, tại Golm
gần Potsdam, chủ tịch Ðảng Cộng sản Ðông Ðức Walter Ulbricht
khai trương Học viện của Bộ An ninh Quốc gia (Schule des
Ministeriums fuer Staatssicherheit), tại trường này học viên
có thể lấy bằng tốt nghiệp kể từ năm 1963. Từ tháng sáu năm
1965, trường mang tên chính thức là trường Cao đẳng Luật khoa
Potsdam (Juristische Hochschule Potsdam) nhưng đối với
nội bộ Ðảng thì địa điểm nâng cao trình độ nghiệp vụ tình báo
này lại mang danh trường Cao đẳng An ninh Quốc gia (Hochschule
des Ministeriums fuer Staatssicherheit). Ngày 18 tháng sáu
1968 trường được công nhận có quyền phong học vị sau khi học
viên đệ trình luận án nhưng tất cả các luận án đều thuộc loại
văn khố cần bảo mật. Thoạt tiên trường có các bộ môn đào tạo
luật học, hình pháp học bên cạnh các học viện Mác-Lê và luật. Về
sau trường càng phát triển và có thêm một số bộ môn mới như hoạt
động gián điệp, công tác phá hoại chính trị và ý thức hệ, công
tác bí mật trong lòng địch. Cho đến ngày ngôi trường ma giáo này
bị giải thể đã có chừng một vạn cán bộ tốt nghiệp, theo ước đoán
tổng quát.
Guồng máy bạo tàn của chế độ cộng sản vốn có những tổ chức giống
nhau tại những quốc gia khác nhau. Như vậy, khi tỷ lệ bác sĩ bị
cưỡng ép làm mật vụ cho ngành công an ở Ðông Ðức cũ là từ ba đến
năm phần trăm tập thể giới áo trắng thì nếu trong hàng ngũ giáo
phẩm Thiên chúa giáo Ba Lan, có một số linh mục, giám mục, giáo
sĩ làm chỉ điểm cho cơ quan an ninh, điều đó có gì là lạ?
Chính quyền Ba Lan đương nhiệm chủ trương triệt để khai thác tội
ác quá khứ của Ðảng Cộng sản. Khi Tổng Giám mục Stanislaw
Wielgus tuyên bố từ chức tại buổi lễ long trọng nơi thánh đường
Warszawa thì Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski và phu nhân ngồi ở
hàng ghế danh dự đồng vỗ tay tán thưởng. Một vài tín hữu hô to
“Bravo“. Nhưng một số công dân Ba Lan và ngay cả một số tu sĩ
Công giáo lại ngỏ lời thông cảm với Tổng Giám mục Stanislaw
Wielgus. Nhiều người chứng kiến lúc ông tuyên bố từ nhiệm đã kêu
lên “Không, không“ và “Hãy ở lại với chúng tôi“. Họ cho rằng tội
ác tày trời phải qui vào Ðảng Cộng sản với guồng máy ma quỉ của
nó chứ không thể gán cho những cá nhân đơn độc. Ngay chính Hồng
y Jozef Glemp cũng bảo rằng không ai đo lường được mức độ áp bức
của công an mật vụ cộng sản đối với người sinh viên thần học trẻ
tuổi lúc mới bước vào đời.
Dầu sao bài học nóng hổi về di họa cộng sản cũng chỉ mới mở ra
một vài trang.
Westpreussenstr., 09.01.2007
© 2007 talawas
Source (11.1.2007):
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8975&rb=0402