đăng ngày: 22.9.2009

ß Trờ về

Bài cuối của mục ‘Nghĩ vắn trong ngày  -Monday, September 14, 2009’

('Communism is the 'secret name' of the terribly enemy' -Lâm Ngữ Đường? -Ghi lại để gởi lời chào Nguyễn minh Triết tới Mỹ lần thứ hai!)

nguyễn văn hóa 

Chào tạm biệt cậu Thân Trọng Mẫn, 

Kể từ ngày 24/7/2009 –ngày tôi ký final closing để bán căn mobilehome ở Santa Ana đến hôm nay (Thursday, September 17, 2009), tính được 56 ngày chẵn. Về lại San Jose, mỗi ngày tôi viết trung bình 2 trang nghĩ vắn trong ngày về ‘Kỷ niệm với một người mang giòng họ Thân Trọng’ là cậu; chỉ trừ hai ngày chủ nhật và thứ bảy, hoặc một vài ngày ngồi thư viện, tổng kết tôi viết được 40 trang đánh máy khổ 8x11. Viết về kỷ niệm với một người mình không có chi thân tình cho lắm, mình không biết gì nhiều về họ, thật là nản. Tuy vậy, sự giao hảo giữa cậu và tôi trong thời gian ngắn ngũi đó có chứa đựng vài chi tiết đặc sắc. 

-Đặc sắc thứ nhất, là sau khi tôi tra vấn, cậu xác nhận cậu có bà con với bà Trần Lệ Xuân (là con gái của bà cụ Thân thị Nam Trân). Cậu còn cho biết thêm, cậu đã từng qua Pháp thăm bà. Tuy nhiên, cậu không chấp nhận nguồn tin bà TLX từng đến Mỹ (và cậu đã xác nhận kể cả lúc cha mẹ bà bị đứa con bất hiếu Trần Văn Khiêm giết chết năm 1986 tại Washington D.C.  [ 1 ] bà cũng không thèm đến Mỹ nữa là!. Cậu không nói thẳng, song thái độ của cậu làm cho tôi hiểu ngầm rằng bà không thèm đến Mỹ vì bà thù ghét Mỹ?. 

Hồ sơ của vụ án mạng nầy vẫn còn đầy đủ mọi chi tiết đấy chứ...)                                             

Linh cảm ngày còn ở Sài Gòn của tôi, vào tháng 6/2008 trong buổi tối mời cô Lê thị Hồng Nguyên đi ăn tối trên đường Mạc Đĩnh Chi, tình cờ một bà hóa trang làm già nhà quê xuất hiện, đầu đội nón lá; bà ta và cô Hồng Nguyên trao đổi với nhau vài lời và trao với nhau gì đó, làm tôi chợt nhớ lại đó là hình ảnh cực kỳ “liêu trai chí dị” của thế kỷ 21… 

-Cám ơn cậu đã có ý định “se duyên” tôi cho cô Oanh-Bắc-kỳ, nhưng tôi đã thẳng thắn bộc lộ nhiều lần, tôi rất quý mến cô ấy, nhưng tôi không thể và không muốn yêu ai nữa cả, sao cậu vẫn cứ “nài ép” nhỉ?. Đây là lần thứ hai, lần đầu ở Huế vào đầu năm 2008, cậu lại muốn “se duyên” tôi với cô Dạ Ái –một cô gái Huế hiền lương ở Cung An Định. Vì sự cần thiết của lá thư này, tôi xin hai nhân vật nữ vừa nêu tên, hãy rộng lượng tha thứ cho việc làm này.  Sự kiện đặc sắc thứ hai nầy, làm cho tôi nghi hoặc cậu (và cô Oanh ấy) có ý đồ không trong sáng, liên hệ tới việc cậu dàn cảnh “rủ rê” tôi cùng đi thi kiếm việc làm ở US Census Bureau, song sau kết quả với số điểm ‘qualified’ đó tôi nhận được lá thư từ văn phòng miền Phân ban Kinh tế & Thống kê ở Northridge, Nam California thuộc Bộ Thương Mại Mỹ ( United States Depatment of Commerce), trong đó có đoạn văn làm tôi “nóng người” lên, nhưng rất bình tĩnh và giữ im lặng…cho tới lúc tôi từ giã Santa Ana.) 

Tôi xin trích lại phần chính của lá thư ấy:

Apvril 14, 2009 

Hoa V. Nguyen

432 S. Harbor Bl.  Sp11

Santa Ana, CA 92704 

Dear Applicant, 

The Census Bureau proccesses all appplicants for temporary census jobs through a pre-appointment name check against the Federal Bureau of Investigation (FBI) Criminal Justice Information Services Division’s criminal file. This check resulted in a tentative match between you and an arrest record in the FBI criminal history index. Because this indentification is based on descriptors only, there is a chance that this record does not concern you. Therefore, you may do one of the following:

(A)……………………

……………………….

(B)……………………

……………………….(tôi thấy không cần thiết phải chép tiếp mấy dòng chữ của phần ‘A’ và ‘B’ ở đây!) 

Sincerely,

Census Hiring and Employment Check Staff

Administrative & Bureau System Division

U.S. Census Bureau.” 

Tôi nhận xét: Đây là một lá thư mẫu “sample formal letters” được xử dụng trong hệ thống hành chánh của Mỹ. Tuy nhiên, với sự lịch sự tối thiểu của người gởi và chức năng liên hệ, thường phải ký tên ở phần dưới chữ “Sincerely”. Trong khi lá thư đã để trống không có tên người trách nhiệm “viết” lá thư gởi. Do đó, tôi có quyền “hồ nghi” rằng có một nhân viên Việt nào đó làm việc trong Văn phòng Miền của U.S. Census Bureau đã làm việc này nhằm mục đích: gây sự hoang mang, sợ sệt cho tôi, để tôi phải… (“trốn” về lại Việt Nam mắc vào bẩy tình báo-công an Cộng sản, hay vì sợ mà đi “tố cáo” bậy kẻ khác?).

Dù vậy, tôi cũng đã phone “tra hỏi” tên Mỹ Joe Curtin làm việc cho ‘Regional U.S. Census Bureau’ ở vùng Northridge hai lần rồi!. Cậu nói cậu lo cho hoàn cảnh kinh tế cá nhân khó khăn của tôi, nhưng cậu không biết: tôi từng dự hàng chục cái thi được tổ chức của các công sở ở Mỹ, gần chục lần thi các licenses, văn bằng do các tổ chức công quyền cấp như: EIT (Engineer-in-training –trước khi lấy PE), EA (Enrolled-Agent to-practice-before IRS), Insurance Brokerage Agent, CLEP v.v.. Cuộc thi cuối cùng tôi dự là ở Sở Thủy Lực của Hạt Santa Clara, tôi co số điểm đứng hàng thứ 5 trong 500 thí sinh dự tuyển, nhưng chờ mòn mõi không bao giờ được gọi đi làm cả, vì tôi biết tôi không có “tay trong”. Từ đấy, tôi thề ‘đếch’ cần thi tuyển việc làm công qyền nào nữa cả. Chuyện ấy cách đây gần hai thập niên. Sự kiện nhận được lá thư (không có tên và chữ ký của người gởi) ngày 14/4/2008 từ US Census Bureau (ở Northridge) làm tôi dễ liên kết tới bài viết   SOME THOUGHTS ON US-VIỆT NAM DIPLOMATIC NORMALIZATION AND CHANGES IN THE POLITICS OF THE VIETNAMESE-AMERICAN COMMUNITY ( 2 -mời đọc bài trích ở dưới) của Ngô Thanh Nhàn (Nhàn sinh năm 1948 là bạn thân của tay học giả-học ziết Vũ thế Ngọc).  Các việc làm của họ có những đóng góp cho chế độ CS Bắc Việt tương tự như đám Nguyễn Bá Chung trong nhóm William Joiner Center, thế thôi. Cậu không biết rằng ông Chung là một trong những người bảo trợ cho tên “sát thủ dân Huế Tết Mậu Thân” qua Mỹ. Ngay tại nhà tôi, Xuân đã mượn phôn liên lạc với ông Ngô Trọng Anh, nhưng ông Anh đã từ chối tiếp hắn. Riêng ông Lê Xuân Nhuận lại tuyên bố với tôi một thời gian sau khi mời Xuân và tôi ăn một bữa điểm sấm ở Menlo Park, “Đối với bọn Cọng sản thì không có chuyện hòa hợp hòa giãi đâu!”.  Tiếc là ông Nhuận nói câu đó quá trể, nếu không tôi không bao giờ chấp nhận việc tiếp một tên Việt Cộng giết dân Huế trong nhà mình hai lần (lần đến Mỹ và lần từ giã cách nhau một tháng.)  Giờ đây thì Xuân đã lòi ra bộ mặt chính danh của một tên đảng viên Công sản qua Mỹ nhằm một công hai ba việc –trong đó, có một việc quan trọng và khi về nước báo cáo với Nông Đức Mạnh về chuyến đi của hắn –ghi nhận, và báo cáo đã gặp gỡ những ai –thái độ và lập trường của từng cá nhân; hắn không là Phật-tử-Phật-tiếc gì, cũng chẳng thương yêu gì Phật Giáo và sư Nhất Hạnh cả!. Tôi còn nhớ cách nay 7, 8 năm gặp Xuân và Nguyễn Hữu Đống ở Huế, Đống (với sự im lặng đồng tinh của Xuân) đã từng “xúi” tôi dùng mạng lưới giaodiem.com ngày trước để “đồng đánh” một số phần tử Phật Giáo không đồng tình với chế độ - như “đánh” Công Giáo” sao?. Bọn Cộng Sản và tay sai thật tệ hại và bất lương!.

- Tôi nhớ tôi gặp cậu lần này là lần thứ tư (4 lần): hai lần đầu tại căn apartment của cậu Trần Việt Long (là bạn học ‘đốc sự’ trường quốc gia hành chánh của cậu. Long là tên Quảng Nam, tôi hoàn toàn không biết gì về gốc tích của anh ta ở VN. Nhưng, nếu cần đi hỏi vài người bạn tôi thời đó như Nguyễn Đức Vinh [cao học hành chánh ban kinh tế] hiện là luật sư ở San Jose thì có thể biết rõ. Một buổi tối vào gần cuối tháng 5/2006, nhân lúc Xuân qua Mỹ đến San Jose, Long mời Xuân đến nhà thết đãi; tôi lái xe đưa Xuân đi. Long chưa về nhà. Tôi và Xuân còn đứng chờ trước cửa nhà, chờ.  Tới khi Long chở vợ vừa quẹo xe trước thềm, Long tung cửa ra chạy đến ôm chầm lấy Xuân. Xuân hất đầu lui phía sau, bở ngỡ kêu lên “xin lỗi anh là ai mà tôi không nhớ…”.  Trước ảnh tượng nầy, tôi cũng hết sức bở ngỡ và khinh thường Long từ đó…)  Có thể giải thích vắn tắt rằng: Sau khi tôi giới thiệu cho Lương-đầu-bạc người “bạn thân” ở San Jose theo lời đề nghị của hắn –tôi đánh trúng tâm lý Lương-đầu-bạc (dân Quảng với nhau), Lương-đầu-bạc coi Long như ‘gà nhà’ của y. [mở ngoặc: xin hãy đọc lại một bài viết của Nguyễn Hữu Liêm Tưởng niệm cái chết của Lý Khôi Việt –để biết thêm danh sách bạn thân của hắn.]

Ngày tôi đi Úc thăm Lệ Hằng-Hoàng Văn Giàu (vào tháng 7/2007), Giàu có xác nhận với tôi một cách mơ hồ rằng: Lương-đầu-bạc đã từng gặp ông ta và mang theo message của “Mụ Phù thủy nào đó” –song, họ có ‘gian díu chi với nhau’ thì ông không biết. Từ đấy, tôi suy ra: Có thể Xuân và Lương-đầu-bạc là hai kẻ được ‘ủy nhiệm’ làm vai trò “political messengers” nhưng theo tôi -cả hai đều không đủ khả năng và tư cách chính trị và con người để làm công việc nầy!

Cậu nhận xét: ‘HVG là tên tiểu nhân’!  Điều đó có thể đúng, nhưng theo tôi không quan trọng. Nếu xét về ‘tiểu nhân’ theo tinh thần Khổng giáo thông thường của Tàu, thì ba triệu đảng viên CSVN có thể hầu hết đều là những kẻ ‘tiểu nhân’; vấn đề là hành vi ‘tiểu nhân’ ấy có làm hại đến quyền lợi quốc gia, đất nước, và hạnh phúc của hàng chục triệu người dân Việt Nam (ngoại trừ Đảng CS) hay không?!.  

Trong dịp gặp cậu lần thứ nhất đó, tôi nghe biết cậu đã bị “vợ bỏ”, chính tôi là người tế nhị mời cậu ở một căn phòng trong nhà tôi khỏi phải trả tiền, nhưng cậu từ chối, dù cậu là một “thằng Huế” tôi chưa hề quen biết bao giờ! Lần thứ ba trong dịp Festival-Huế 2008 tôi từ Sài Gòn tôi đáp máy bay ra Huế.  Và, lần nầy là lần thứ tư, lần gặp gỡ dài nhất trong mấy tháng, ví cớ ‘cậu’ ở khu moblilehome Taggin Wagon góc đường số Một/ Fairview quá gần khu nhà của tôi. Tôi biết căn mobile home của ‘cậu’ là nhờ cái ‘lưỡi’ của sư-the-informant Thích Pháp Hiền (tức Phan Tấn Hùng -Đổ Thuận Khiêm -Pháp Thuận -Thiệu Phong) –ngày gặp sư lần đầu vào năm 2001 ở chùa Giác Đức của ngài Pháp Châu, sư mặc áo nâu sòng, đầu trọc, tôi đã chấp hai tay xá dài…tưởng gặp được một vị sư trẻ mới như điều hạnh ngộ. Ai dè theo ‘dòng chảy’ của thời gian, tôi khám phá ra ‘sư’ tu theo phái ‘bà Ngọc Dung’ -cán bộ của Hà Văn Lâu của tòa Đại sứ ViXi ở Pháp. Hãy đọc  bài ‘Đã đến lúc Việt Nam hóa quốc gia VN’ của cậu Đỗ Quyên trong ‘Nhìn Cây Thấy Rừng’ xuất bản vào năm 1997 ở Nam Cali mới thấy ‘kinh’ tầm vóc của sư. Mà không ngờ quả đất tròn, sư lại có mối khắn khít với cậu Trần Văn Thông ở Houston, Texas (đàn em thân tín của Hoàng Văn Giàu ở Úc –trong một email đã lâu, Lê Trọng Văn cho tôi biết: Mỗi lần tên nầy về VN gặp tên Việt Cộng Trần Bạch Đằng, hắn đều tạt ngang qua Úc gặp Giàu và nhận ‘chỉ thị’?). Hơn một thập niên trước, tôi biết cậu Thông nầy qua người chị vợ của cậu là cô Trần Ái Lan (con gái của ông Trần In –giảng viên trường Cao Đẳng Quốc Phòng?) từ lúc cô ta shared phòng ở chung với mẹ và vợ chồng người anh kế (ông Nguyễn Tiến) của tôi từ lúc cô còn là sinh viên trường Nha.) Có phiền không? Khi tôi đã biết ai thật rõ tông tích rồi tôi mới nói, chứ không dùng lý lịch của bọn công an cộng sản để nói về người khác, vì chúng ta đã hiểu đó là thứ chính sách lý lịch man rợ - đe dọa và khủng bố tinh thần của những người dân không cùng ‘giai cấp Việt Cộng’.

Sư-the-informant họ Phan Tấn đã nhận xét với tôi về giòng họ Thân Trọng đại ý “…Giòng họ Thân Trọng gốc Nùng ở vùng Thái Nguyên ngoài Bắc, bên đàn ông thì không ra gì, chỉ có đàn bà mới ghê gớm… Phía nào cũng có mặt: Cộng sản, Quốc gia, Cần Lao, Đảng phái…nhưng bây giờ muốn đi vào quyền lực trong chế độ CS thì thất bại rồi.  Bà NĐN vào gần cuối cuộc đời mà vẫn chưa làm xong việc của mình. Hãy để cho cộng sản nó ‘goeét’ (quét) sạch đám rác rến này một mẻ cho xong!…”  (‘goeét’ là lối phát âm theo giọng Khánh-Thuận của hắn.) 

- Bởi, cậu không phải là bạn thân của tôi, nên cậu không biết cái can trường và “vô úy” của tôi, chứ nếu cậu biết thì chắc cậu sẽ không bao giờ dám có những hành vi không trong sáng. Nếu cậu nghĩ rằng tôi là một “kẻ tội phạm hay đồng lõa với tội phạm” nào đó, tại sao cậu không dám tố cáo tôi?  Tôi thách thức cậu đấy! 

- Kỷ niệm đặc sắc thứ ba là, trong thời gian ở Santa Ana, thỉnh thoảng tôi đi xe đò Hoàng về San Jose thăm mẹ tôi và trong ba lần trở lại cái ‘chuồng’ MobileHome của tôi, tôi có nhờ cậu đi đón dùm. Mỗi lần xe đò ngừng trước khu chợ ABC là mỗi lần có một thằng Mỹ mặc đồng phục security guard ‘gát chợ’ đón đầu tôi như có ý làm cho tôi sợ cảnh sát?  Hahaha, nếu sự minh cảm nhạy bén của tôi đúng thì rõ đó là một trò chơi con nít đối với một kẻ ‘dọc ngang trời đất’ như tôi rồi!.  

Bây giờ, tôi muốn bạch hóa vài chi tiết nhỏ về cá nhân tôi mà tôi biết một vài kẻ thả mồi bắt bóng biết không đúng: 

- Về chuyện “đời tư” của tôi. Không có gì phiền não hơn trong cuộc đời nầy khi phải ‘vạch áo mình cho người xem lưng’, chỉ vì những ‘conspiracy’ của kẻ khác đã xâm phạm đến cuộc đời tôi.  Bây giờ tôi tự vạch áo tôi:  Từ hoàn cảnh biệt nghiệp trong cái cộng nghiệp xã hội do Đảng CSVN tạo ra, tôi có ba đời vợ ba miền và ba đứa con (một mỗi đời vợ) tổng cộng một gái hai trai.  Đứa gái đầu là kết hợp dân gốc Bạc Liêu-Mỹ Tho, hai đứa trai, một là kết hợp dân gốc Hà Tĩnh- Quảng Bình, và đứa chót là dân Bắc kỳ-Công giáo-không-di-cư, vì cô ta có quốc tịch Cambodge. Tựu trung, ba đứa con của tôi tư chất thông minh, thành đạt, và đặc biệt mỗi sự kết hợp đều được hợp pháp hóa bằng giấy tờ hôn thú trước luật pháp sở tại. Trong ba lần kết hợp, chỉ có một lần duy nhất có làm lễ cưới, lễ gia tiên (tôi và mẹ tôi đã cúi lạy trước bàn thờ tổ của giòng họ nhà gái) là lễ cưới ái nữ của ông bà cụ Bùi Liên mà thôi.  Sự tình sau đó xảy ra như thế nào, tôi chỉ cần cho một người có ‘quan hệ thân tình đặc biệt’ và dù mới gặp lần đầu là anh Quán Như Phạm Văn Minh biết mà thôi…ngoài ra cậu không cần biết để làm gì!?  So với tư cách của một đấng trượng phu đối với phái nữ, tôi tự xét tôi hơn hẳn mấy cụ Hồ Chí Minh (y đã ‘dính’ quá nhiều phụ nữ ‘không chịu hợp thức hóa’ mà còn gây ác nghiệp nữa), cụ Bảo Đại (quá nhiều phụ nữ không hợp thức hóa –nhưng dù sao ông ta cũng là tay chơi mã thượng và biết quý trọng phụ nữ), cụ Ngô Đình Diệm (có một đứa con rơi mà không dám nhìn nhận, chỉ vì sợ hư gãy quyền lực) rất nhiều. Có phải vậy không? 

- Về một vài nhân vật không phải là ‘bạn thân’ của tôi: 

 Tôi xin xác nhận một lần với cậu: Nguyễn Hữu Liêm –hắn không phải là “bạn thân” của tôi, tôi quen hắn từ lúc hắn còn học trường Luật Hasting ở San Francisco –cùng thời gian với quen biết Vũ thế Ngọc, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Tâm… ở vùng Bắc California. Hơn một thập niên qua, tôi gần như không (hoặc rất ít khi) gặp gỡ hay đàn đúm nhậu nhẹt với đám bạn bè thuộc giới ‘quý tộc mới’ của hắn. 

- Vì sao tôi có tiền mà về VN mua nhà trong ý định đem mẹ tôi hồi hương? 

Tôi nằm vững những hoạt động/ vai trò của bọn CSVN trong các Tòa Đại sứ & Lãnh sự, cho nên trước khi về VN (tháng 10/2007), tôi đã đích thân lên Tòa Lãnh sự San Francisco để làm giấy tờ. Trong hồ sơ, tôi cố tình công khai hóa giấy tờ tôi làm chủ căn nhà ở San Jose cho tên Lãnh sự Trần Tuấn Anh thấy (Anh là con trai của tên mặt mẹt người Quảng Trần Đức Lương, giờ hắn đang làm chủ tịch Tỉnh Bình Dương –là tỉnh nhà của tên Nguyễn Minh Triết). Tôi chú ý thấy tên Anh đi lên đi xuống thang máy đôi ba lần, hắn có quay mặt lại như có ý quan sát tôi, nhưng tôi không thèm chào. Căn nhà của tôi mua từ tay kỷ sư Trần Sơn (tôi đã trả nợ cá nhân cho Sơn trong vòng 4 năm, trả nợ ngân hàng hơn 10 năm, còn chút xíu thôi). “Fair Market Value”/ cũng như “actual value” của căn nhà tôi giữa năm 2007 dĩ nhiên ngon lành. Tiếc là tôi không bán kịp, nên mượn lại ngân hàng một phần một cách hợp pháp thôi. Liệu bọn Cộng sản và tay sai của chúng dám ‘chơi’ tôi về pháp lý??  Tôi đã chuyển tiền (wired transfer) về VN một cách hợp, minh bạch với ngân hàng Citibank của Mỹ tại trung tâm Sun Wah đường Nguyễn Huệ. Lại nhờ người vợ đã ly hôn hợp pháp của tôi fax về giấy wired transfer tai văn phòng Lậut xímại của tên Võ Văn Quới (như chuẩn bị trước một ‘evidence’ trong tương lai!.)   Liệu bọn tay sai Cộng sản ở Mỹ dám ‘chơi khăm’ tôi?!  Tuy vậy, nhưng hành vi bất chính, việc làm bất hợp pháp của ‘người bán bất động sản –đa số là bọn cán bộ cộng sản Bắc Việt về hưu’, các Phòng Công Chứng, Phòng Thuế Vụ, Kho Bạc, Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp [là trung tâm ‘ngầm’ là nơi ‘rửa tiền’ của bọn cán bộ tham ô, ăn cắp, móc ngoặc… các cấp], Sở Tài Nguyên & Môi Trường, bọn trung gian dịch vụ lưu manh, đầu gấu ‘ăn chia’ như văn phòng luật, môi giới bất động sản, chuyển tiền liên-quốc-gia v.v…lại là chuyện khác!

- Vì sao tôi có tiền mua căn MobileHome (gần 60 chục ngàn đô-la Mỹ ở Santa Ana)?

Trả lời cho câu hỏi nầy thì tôi chỉ cười ha.ha.ha thôi. Chẳng lẽ quý vị muốn tôi ‘trên răng dưới cụ hồ’ sao?

Tôi có ‘nghe’ (có thể là từng gặp mặt) mà cô gái thuộc giòng họ Thân trọng làm việc cho Social Security Administration nữa… Thế nhưng, thưa quý đồng hương –tôi hưởng chương trình SSI là do các bác sĩ Mỹ (dư thừa tư cách nghề nghiệp & pháp lý) chứng nhận từ sau thời gian tôi lên bang Oregon lần thứ hai để ‘mần ăn’ bị ‘tai nạn về sức khỏe’ lận. Rất hợp pháp và minh bạch. Không hề ăn gian chính phủ bất cứ điều gì. Nhưng cũng nhờ vậy, tôi mới có bảo hiểm sức khỏe của chính phủ để an tâm phục vụ cho bọn “Man rợ Văn hóa” tổ chức Từ Thiện Giao Điểm trong vòn gần 7 năm đấy chứ.  (“man rợ văn hóa” là nhóm từ tôi mượn của nhà sử học Vũ Ngự Chiêu).  Song, có một điều không ai biết là trước khi về VN, tôi đã thông báo cho SSA là sẽ đi VN vô thời gian, trả lại hết mọi quyền lợi cho chính phủ, dứt điểm mọi nợ nần về tín dụng (credit cards), trả nợ tiền mượn học cho Bộ Giáo Dục Mỹ (cả lời lẫn vốn là gấp đôi) –lại còn viết thư cảm ơn họ và nhắn nhũ họ hãy giúp đỡ cho những sinh viên VN nghèo trong tương lai, vì cớ họ sẽ trả nợ đàng hoàng và biết ơn như tôi vậy! 

Sau khi cân nhắc, suy nghĩ kỹ, tôi quyết định hủy bỏ 40 trang viết nói trên, thay thế bằng ‘Lá thư chào tạm biệt cậu TTM .’  Và, để kết luận lá thư nầy, nhân chào mừng tuổi Tiên Thọ của Mẹ tôi, tôi –Nguyễn Văn Hóa tuyên bố: 

--Tha thứ cho một vài người ‘ẩn hiện’ trong giòng họ Thân trọng đã xâm phạm, gây phiền nhiễu trong cuộc đời của tôi trong một thời gian quá dài…

--tha thứ cho đứa con gái ‘mất dạy’ của tôi là Nguyễn Hạnh Hoài Vy (con của bà Phan thị Hạnh Nga, cháu ngoại của ông Phan Văn Nhơn –một tay xuất thân du đảng Bạc Liêu), vì những lý cớ nhỏ mọn, hạ cấp họ đã rấp ranh ‘trả thù tình cảm’ tôi, hủy hoại con đường lý tưởng của tôi trong gần 30 năm qua.

--tha thứ cho cô luật sư Lê thị Hồng Nguyên (thuộc văn phòng Luật-xí-mại Võ Văn Quới), tuổi xấp xỉ con gái tôi, bị xúi giục mà đưa tới các hành vi lừa đảo tôi không đứng đắn.

--tha thứ cho ông Hoàng Văn Giàu –một người tôi tin nhầm là một lãnh tụ Phật tử tranh đấu cho chính nghĩa, kẻ từng tự hào đã đối đầu với Negroponte, Kissinger,.. ai dè lại là người Cộng sản “chăm phần chăm”, quyết tâm bảo vệ chế độ Cộng sản thân Tàu ở giờ thứ 25. Tôi cũng có lời bày tỏ lòng cảm phục người vợ nhà văn Công giáo của ông, săn sóc ông từng miếng ăn miếng uống trong lúc ông đang mang tật nguyền. 

-Đối với những 'kẻ thù chính trị' khác, tôi thách thức và chờ đợi!  Mặt khác, những kẻ vì thù ghét Mỹ tìm cách núp sau 'cái khiên' của Trung Cộng để liên minh với Việt Cộng chỉ là những kẻ xuẩn động. Hãy chờ đợi lịch sử phán xét.

Cuối cùng, tôi xin các phụ nữ có lòng cảm mến hoặc “yêu” tôi âm thầm một lời xin lỗi trân trọng, vì tôi đã thề nguyền từ lâu –cho đến chết, tôi không thể và không bao giờ yêu bất cứ một người phụ nữ nào trên cõi đời nầy cả. 

Trân trọng chào cậu,

Nguyễn Văn Hóa 

(P/S: Về cái monitor mới màu trắng HP –tôi có nhã ý tặng cậu đấy. Đó là quà tặng sinh nhật tôi của con trai tôi từ tiền work-study, tôi xin nhường lại cậu dùng; máy móc computer của cậu trông cũ mèm đến tội nghiệp. Nói bán lại cho cậu là nói đùa giỡn thôi nhé!)

 

Vài ghi chú: 

(1)  - Về bà phu nhân họ Trần, tôi cũng đã thẳng thắn kể câu chuyện đưa tới cái chết của Ngô Đình L.T. (do sư Thích Mãn Giác ngày còn sống kể cho tôi nghe) Tôi đã kể cho cậu như tôi đã kể cho HVG vậy. Cậu phủ nhận điều đó, thì tôi tôn trọng. Nhưng, tôi đã collect rất nhiều tài liệu viết về bà ta, trong số đó tôi đã dẹp bỏ vào thùng rác tài liệu rẻ tiền của bọn Cộng sản Trần Bạch Đằng. Tuy nhiên, tôi đề nghị cậu nên lưu ý tài liệu của ông Huỳnh Văn Lang (nguyên thủ lãnh Cần Lao Liên-kỳ-bộ Nam Bắc Việt) viết về bà phu nhân họ Trần và giòng họ Thân Trọng trong ‘Nhân Chứng Một Chế Độ’ cuốn hai –tác giả tự xuất bản tháng 8/2000, từ trang 71-119. So với cuốn Hồi ký.. của một người có thế giá khác của hai chế độ là Nguyễn Hữu Hạnh, thì ‘Nhân Chứng…’ có quá nhiều chi tiết phong phú, nhiều nhận xét đáng quan tâm. Cậu sẽ nghĩ sao? 

Tôi xin trích mở đầu một đoạn ngắn của người thủ lãnh Đảng Cần Lao Liên khu-bộ Bắc Nam Việt (Huỳnh Văn Lang): 

“ c. Bà Ngô Đình Nhu, một khuôn mặt. 

Ở trên tôi đã nói khá nhiều về bà Ngô Đình Nhu, bây giờ tôi cần trở lại nữa, vì nhận thấy rằng từ khủng hoảng Nguyễn Văn Hinh đến biến cố Bình Xuyên chỉ có trên dưới 6 tháng, nhưng không dè chỉ trong khoảng thời gian quá ngắn ngủi đó, bà Nhu đã bước một bước với “đôi giày khổng lồ”, bà đi quá xa trong cái quá trình len lỏii vào chánh trường V.N. Thật ra đến giai đoạn nầy, bà không còn ẩn mặt len lỏi nữa, mà ra mặt lèo lái, làm áp lực theo đầu óc hay bản lĩnh đàn bà của mình.

Nói đến đây, người viết nhớ lại lời người cháu nội của Võ Tắc Thiên Đại Chu Hoàng đế nói về bà nội mình mà đại ý là khi người đàn bà chen vào chánh trường thì sự tham lam quyền hành của họ sẽ đi đến chỗ thới quá, không biết thế nào là trung dung nữa. Người viết không tôn trọng từng chữ một những lời phê phán của xã hội Trung Hoa ở thế kỷ thứ 8 về người đàn bà “làm chánh trị”, nhưng lại không thể nào không giữ lại cái tinh thần của những lời nói đó được. Tức là: Tính cách thới quá, không biết trung dung của người đàn bà, khi họ có quyền lự trong tay, nhứt là quyền lực chánh trị. 

Đó là phương châm người viết sẽ theo đó mà nói về bà Nhu, cũng gọi được là cái nhìn về chế độ hay đúng hơn là về một trong năm người làm ra chế độ, mà người viết cho đó là chế độ cá nhơn trị, vì bà Nhu theo nhỡn quan của tôi là một cá nhơn hơn là một người con dâu của một gia đình, gọi là gia đình họ Ngô. Thật ra trừ ra cái tên, bà Nhu không có một chút gì của gia đình họ Ngô cả. Bà vào gia đình họ Ngô như là một việc ngẫu nhiên, không khác gì một người khach1 thật xa lạ đi xuống con đò ngang sang qua sông làng, không cùng một nếp với những người khách cùng thuyền. Người khách sang ngang nầy thật là xa lạ, nhưng lại không xa lạc, chỉ có những người khách khác lại lúng túng từ giờ phút đầu, nhưng vì sợ làm chao làm lật chiếc thuyền nan chưa vững mấy, để rồi chấp nhận sự có mặt của người khách quá hiếu động, với tất cả những thới quá của nó, để rồi còn xem như là một sự cần thiết “không có không được” để qua sông. Vạn hạnh hay bất hạnh cho chiếc đò ngang chính là ở chỗ đó!  Người viết muốn mượn cái hình ảnh một cô gái lai Tây  (nghĩa bóng), không đẹp nhưng son phấn khá lộng lẫy (nghĩa bóng), đi đứng không õng ẹo nhưng tính tình lại lố lăng, nhảy xuống chiếc đò ngang để qua con sông nhỏ của dân làng, cô gái nầy là em dâu ông chủ hay là người vợ của em ông chủ đò, chỉ có vậy thôi!.......”  (sđd, các trang 71, 72, 73)  

(2) Trích lại một essay ngắn của Ô. Ngô Thanh Nhàn từ Internet:   

(Chúng ta còn nhớ lại vài chục năm trước, nếu không có bà Đặng Mỹ Dung (tức Dung Krall) phá vỡ mạng lưới gián điệp của Trương Đình Hùng – chắc hẳn là Mỹ sẽ thua năng một đòn ngoại giao với CS Hà Nội. Tôi là người từng dịch bài báo ấy lần đầu tiên trong “Inside FBI”, cho đăng từng kỳ trên tờ Thời Báo của Vũ Bình Nghi vào năm 1989.  Sau đó, tôi có theo dõi nhân vật Trương Đình Hùng –mới biết Hùng từng là cây viết trụ cột của tạp chí định kỳ quarterly  Covert Action –tạp chí nầy là một bộ phận tuyên truyền ngầm của Đảng CS Mỹ, chuyên ‘phá thối’ các chính sách chìm hay nổi của chính phủ Hoa Kỳ qua Cơ quan CIA. Từ đấy, tôi vừa lo ngại dùm vừa kính phục nền dân chủ-tự do của đất nước Hoa Kỳ.) 

Kính thưa đồng bào tị nạn Cộng sản ở Mỹ, chúng ta hãy đọc một “essay” ngắn của ‘tay’ Ngô Thanh Nhàn (người từng kín đáo đóng góp nhiều việc cho chế độ CSVN, cũng đã dùng một dự án được tài trợ của Đại học Mỹ để “tố cáo” chính phủ Mỹ đã tài trợ cho các tổ chức chống Cộng, điều mà ông gọi là “ The FBI Spy Hunt” để tìm bắt những “the underground communist spies”, và đã cho rằng các hành động chống Cộng của Cộng đồng VN tại Mỹ đã đưa tới cái mà ông Nhàn gọi là “The Problems in the Vietnamese-American Community”  Tôi “nhấn mạnh” chữ “the problems” để quý vị suy nghĩ về “giải pháp” (a solution) mà ông Nhàn đề xuất trong “dự án”.

Tôi không phải là người chống Cộng “theo đuôi” cộng đồng người Việt tị nạn. “Thậm chí” trong quá khứ đã nhiều việc làm và viết nhiều bài báo “bênh vực” cho chế độ Cộng sản Bắc trị; nhưng như tôi đã xác nhận với cậu TTM, kể từ sau 5 lần về Việt Nam và, lần về sau cùng với ý định hồi hương tôi ở lâu nhất (từ tháng 10/20077 đến tháng 7/2008), tôi đã nhìn rõ cụ thể bản chất con người đảng viên và chế độ của Đảng độc trị CSVN là một chế độ khốn nạn nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ đây, tôi quyết chống lại “chúng”. 

SOME THOUGHTS ON
US-VIỆT NAM DIPLOMATIC NORMALIZATION
AND CHANGES IN THE POLITICS
OF THE VIETNAMESE-AMERICAN COMMUNITY

by
Ngô Thanh Nhàn
New York University Linguistic String Project
NYU
Asians in America Conference 1996
March 22 & 23, 1996

Although signals from the Vietnamese-American community seem to reflect mixed feelings towards the decision of President Clinton to normalize relations with Việt Nam, the decision ushers in a new era in the politics and social concerns of the Vietnamese American community. For at least 20 years, the dominant political manifestation of the politically active Vietnamese Americans has been anti-communism. This political expression reflects their positioning as an "unsettled refugee community", rather than that of an integrated community focused on their lives as Vietnamese Americans in the U.S. This anti-communist stand, initiated and financed by the U.S. government, is the cause of the bitter divisions within the community. This paper looks at the role of anti-communism in this community and the changes that occurred after the announcement of normalization.

The FBI spy hunt

The current political changes in the Vietnamese American community were evident in early February 1996, seven months after the United States normalized relations with Việt Nam, when the FBI decided to buy advertisements in many Vietnamese language dailies and magazines to call on the community to aid its Cold War "spy hunt." In a vague language full of innuendo, the FBI Notice says:

"With the increased number of Vietnamese refugees in the United States, we think that the activities of Communist espionage has kept up the pace and multiplied vigorously. To prevent this growth, the FBI is once more requesting the help of Vietnamese refugees, those who had relations with, or who had communicated with the Vietnamese Communist regime in the past. Although we always pay close attention to all public documents detailing the activities of planted Communist agents, in this assignment, we hope to meet those had worked for, communicated, or had been asked by the Vietnamese Communist regime to carry out whatever activity, but who no longer believe in, or who are dissatisfied with, the ideals of the Vietnamese Communist regime. If you want to assist the United States Government and fellow overseas Vietnamese in eliminating the activities, threats, and abuses, etc. by the underground Communist spies, please contact us immediately.

"The identity of those who contact the FBI and provide information will be kept confidential."

The name of an FBI special agent, "Ông Bồ Câu" [tr. English "pigeon; dove"], was given with an Oakland address and a toll-free number." [1]

The community was bitterly split. The Los Angeles Times reported, "[I]n earlier years, the emigres branded as Communist anyone who supported diplomacy between the two countries... The FBI advertisement magnifies the rifts between the community's major factions" [2]. The San José Mercury News reported that Ðỗ "Barry" Hùng, President of the Vietnamese American Community Council of Northern California supported the action and said, "it stirs up the spirit of anti-communism" [3]. Vũ Ðúc Vuong, Executive Director of the Center for Southeast Asian Refugee Resettlement in San Francisco called the FBI's actions "offensive, insulting and divisive", and the ads "a collective libel of all Americans of Vietnamese descent" [4]. Prof. Hiên Ðô of San José State University was worried about the consequences of people labeling each other communist sympathizers and said "[I]n the Vietnamese community, that kind of libel is very serious because people get killed."

Within a few days, FBI spokesman George Grotz in San Francisco reported that the FBI had received more than 200 calls. The FBI did not arrest anybody as a result of these calls.

Community activists and media reporters were targeted. Activists were accused of "espionage" [4], one accuser said of someone she has "no proof, of course", but was "sure his activism is just a cover-up for his supporting the Communist regime." One of the phone calls concerned Vũ Ðình Nghi, editor of Thòi Báo (a Vietnamese language newspaper in San José) claiming "he must be a communist sympathizer. The proof: In his newspaper, he referred to Saigon by its communist-given name, Ho Chi Minh City." [4]

This is not the first time the FBI has chosen to inflict this Vietnam war type of Chiêu Hồi Open Arms program upon the Vietnamese American community (see below). However, this is the first time people in the community saw the implications of such an action and publicly protested. This is also the first time the US media reported in a relatively timely and balanced manner.

A brief history of the Vietnamese American community

Since 1954, many Vietnamese coming to the U.S. have been concerned with one political goal: fighting communism in Việt Nam, as defined by successive U.S. presidents. There has also been a movement since 1942 in support of the independence of Việt Nam and in opposition to the U.S. involvement (e.g. The Viet Nam - American Friendship Association, Inc. based in New York City) but it was strongly suppressed by the U.S. government. The main actor that has been supporting, financing and supplying the rationale for the anti-communist viewpoint has always been the U.S. government.

The first setback for the Vietnamese anti-communist movement in the U.S. came on April 30, 1975 when the first exodus of the anti-communist forces from Việt Nam to the U.S. began. Later, the FBI established the San José Chiêu Hồi II office (Chiêu Hồi "Open Arms" -- a U.S. campaign in Việt Nam during the 1960's to lure the so-called Viêt Công to leave the liberation struggle and join the U.S. side; Chiêu Hồi II was the same campaign, only this time, it was in the U.S.). This marked a continued active imposition of anti-communist ideology in the Vietnamese American community. Many anti-communist groups were formed and supported in the U.S. with one stated goal: to take over Việt Nam by force of arms. However, the FBI Chiêu Hồi II office and these groups combined in reality served to keep the community constantly under their control. A wave of right-wing terrorism in the community resulted in the assassination of many Vietnamese Americans who held opinions at variance with the anti-communist position [5, 6].

The second setback for the Vietnamese anti-communist movement in the U.S. came in April 1985 when the American TV media was allowed to go to Việt Nam and broadcast directly from there. The strongest anti-communist group, the National United Front for the Liberation of Việt Nam, suffered an internal split [7]. The Front was charged with having never been able to raise an army or to fight inside Việt Nam as claimed. The money collected from the community was stolen by the leadership. The Chiêu Hồi II office of the FBI closed, without having found a single Vietnamese "communist infiltrator." The Vietnamese Americans publicly increased contacts with their relatives in Việt Nam. The U.S. Department of Treasury estimated that more than $200 million U.S. dollars a year were transferred from Vietnamese Americans to their relatives in Việt Nam as cash gifts.

The U.S. government ended its trade embargo against Việt Nam on February 3, 1994 and established diplomatic relations with Việt Nam on July 11, 1995. The U.S. is indeed the last country in the world that officially dropped its policy of war against Việt Nam. 1995 saw an unprecedented number of Vietnamese Americans travelling to Việt Nam -- something that could have gotten them killed in the last decade. The backbone and raison d'être of the anti-communist forces have thus strategically been broken.

From the point of view of Vietnamese, inside or outside of Việt Nam, this is the first time in 148 years that Việt Nam has a real prospect for peace. The Vietnamese people themselves are now totally responsible for the peaceful development of their country and communities.

Inside Việt Nam today...

Việt Nam is still struggling with the severe consequences of a thirty year war with the United States. It is one of the poorest countries in the world with an average per capita income of less than $200 US dollars. It was not until 1989, six years before the U.S. dropped its embargo, and having been deprived of external assistance from Eastern European countries, Russia (formerly, the Soviet Union) and China, that Việt Nam achieved something unprecedented in its history: self-sufficiency and growth. It became third in exports of rice, third in exports of coffee, fourth in cashews in the world. Việt Nam has become one of the fastest growing economies in the world in terms of Gross Domestic Product, over 8% annually. These achievements, by a totally independent Vietnamese government, remove any rationale for the anti-communist movement in the U.S. to seek to overthrow it.

The Vietnamese Constitution [8] protects the right to employment (Article 58), to free education (Article 60), to free heathcare (Article 61), housing (Article 62), and equal rights between men and women in all respects (political, economic, cultural, social and family life) (Article 63). The Constitution also protects freedom of speech, freedom of the press, of assembly, association, etc. (Article 67), freedom of worship and religion (Article 68), and the right to legal protection from physical violence (Article 69), and so on. Being an underdeveloped country, the Vietnamese economy is still unable to fulfill all these ideals. However, it is clear that, under the most pro-people constitution ever in Vietnamese history, the Vietnamese people have a strong basis to press their government to implement these laws, especially under the market economy and its potential for exploitation. These facts suggest that if there was a necessity for a movement outside of Việt Nam to defend the rights of the Vietnamese people against abuses by authorities, it would logically be based on this Constitution.

Problems in the Vietnamese American community

Vietnamese Americans still suffer from the serious legacy of many years of war: distrust and division within the community, and severe economic, social and psychological problems. Under the control of anti-communist ideology, the Vietnamese American community gives the appearance of supporting the most conservative political positions, which, in the final analysis, are detrimental to the welfare of the community. Vietnamese Americans voted overwhelmingly for conservative Republican candidates and positions. The candidates only had to "promise" to continue fighting "communism" in Việt Nam. This can be incorrectly understood to mean that the Vietnamese American community is unconcerned with the political, economic and social agendas of other peoples of color. Cindy Quynh-Trang P. Nguyên reported, "The entire community is concerned with issues such as civil rights, education, health, employment and immigration. However, these issues are more actively pursued by younger members of the first generation, and the second generation that is currently coming of age." [9]

Vietnamese-Americans have begun to shed the myth that the community is inherently divided, and cannot be united to do anything. This myth is repeated in the media and academic works, e.g. Banerian attibuted the sources of fragmentation to "poor leadership, traditional behavior, historical factors, and lack of democratic spirit" [10]. This myth was systematically promoted in Việt Nam during the French war (1857-1954) and the U.S. war (1954-1975). Since 1975, U.S. government officials and certain community leaders continued to perpetuate the so-called "deep-rooted" division "inherently" among Vietnamese Americans. Of course, there is nothing "deep-rooted" or "inherent" about it. Why has "the enemy", by whom they mean Vietnamese on "the other side", been able to unite, while the so-called anti-communist side has not ? From voting patterns and the desire to settle together in a few selected locations in the U.S. [11, 12], it is evident that the Vietnamese Americans do "vote" as a community on almost all issues. Thus, none dares to point out that the anti-communist ideology, which reigned supreme over the community for years, is the cause of such division, i.e. it is forced, it is repressive and it is unpopular.

Contrary to the concerted campaign by President Reagan and other Republican leaders, who tried to show that "the Vietnamese made it in the U.S." and are a "model minority" in order to attack immigrant rights, affirmative action and social welfare, the 1990 census shows that Vietnamese-Americans are not doing well in the U.S. Statistics shows that they are at the bottom rung of the ladder [13]. They suffer from very high drop-out rates, gang violence, poverty, racist attacks, under-employment, under-representation, poor education and neglect by the system. Average Vietnamese family income is about $7,700, or about $3,800 below the poverty line. Only 2% of Vietnamese are college graduates.

There is yet to be a Vietnamese movement to deal with these problems. There has been no Vietnamese voice to protest against Proposition 187 in California. There has been no community voice against welfare cuts by the Congress. There has been no voice against the bankrupcy of Orange County, where there is a majority of Vietnamese who will suffer from public service cuts. The protests of the community in San José after the havoc caused by the first city casino have been ignorable. There has been no community voice against the joint attack of the police, the customs and company agents against Vietnamese vendors in New York Chinatown under Mayor Giuliani's "Quality of Life" program,... There has been no voice against the racist attacks against Vietnamese around the country.

Activists of the younger generation are faced first and foremost with the challenge to elevate themselves from the present anti-communist political course. Community and union activists have always been labeled communist agents, cf. reactions to the FBI "spy hunt" cited above.

Prospects for a solution

Vietnamese Americans are one of the fastest growing communities in the U.S. This is consistent with the patterns of ethnic shifts, esp. of Asian Americans, in the U.S. projected by the Bureau of Census [14]. Thus, it appears that the fight of Vietnamese Americans against poverty, racist attacks [15, 16], underemployment and limited accessibility to the political process, which is being experienced by all ethnic groups in the U.S. [17], will only be successful if the community begins to realize that it is a part of the Asian American community, a part of the community of people of color (including Latino, Chicano, Native and African American), and a part of the working people. For it is clear that they have been in the same predicament with these communities and have been benefiting from all their achievements. There are indications that young Vietnamese American community activists are moving towards this direction, now that there is no reason for the community to accept the anti-communist position.

REFERENCES

1.       Thông cáo [Notice] by U.S. Department of Justice, Federal Bureau of Investigation. Advertisement on Nguòi Viêt daily, Saturday, February 17, 1996.

2.       Dizon, Lily. Orange County Vietnamese split on FBI calls to aid spy hunt. Los Angeles Times (Orange County edition), Saturday, March 2, 1996.

3.       Phuong Le. FBI recruits Viet imigres to report on spies for Hanoi. San José Mercury News, Thursday, February 22, 1996. Front page.

4.       Goldberg, Carey. US: FBI advertises for informers about Vietnam. The New York Times, Tuesday, March 12, 1996. Front page.

5.       Dossier on the acts of terrorism by Vietnamese right-wing groups in the United States. The Association of Vietnamese in the United States. July 27, 1984.

6.       Dossier on the assassination of Professor Edward Lee Cooperman. Committee for Justice for Professor Edward Lee Cooperman. December 1, 1984.

7.       San José Mercury News, December 29, 1984.

8.       Constitution of the Socialist Republic of Việt Nam. Hà Nôi, Việt Nam: Thê Gioi ći Publishers. 1993.

9.       Nguyên, Cindy Quynh-Trang P. 1994. The Vietnamese American community: A statistical and political perspective. Southeast Asian Resource Action Center. Washington, DC.

10.   Banerian, James. 1988. Fragmentation in the Vietnamese community: Some observations and recommendations for change. Paper presented at the Ninth Annual Conference of the National Association for Vietnamese American Education.

11.   Chin, John. 1995. Dispersal of Southeast Asian refugees in the U.S. resettlement: Wisdom or folly ? A review of evidence. Research paper for Urban Planning, Columbia University. April 26, 1995. 24 pp.

12.   Chin, John. 1994. Vietnamese, Chinese-Vietnamese, and Cambodian refugees in New York City: Economic incorporation and the impact of the Chinese ethnic economy. First draft, Research paper for Urban Planning, Columbia University. December 19, 1994. 41 pp.

13.   How sub-groups in California voted on Prop. 187, by the Organization of Chinese Americans, Inc. from the Los Angeles Times exit poll. Email communication, December 8, 1994.

14.   Holmes, Steven A. Census sees a profound ethnic shift in U.S. The New York Times  Thursday, March 14, 1996.

15.   Police violence in New York City's Asian American communities. A report by the Committee Against Anti-Asian Violence submitted to U.S. Attorney Zachary Carter, Eastern District of New York. March 12, 1996. 22 pp.

16.   1994 Audit of violence against Asian Pacific Americans, by the National Asian Pacific American Legal Consortium. Second annual report. 1995.

17.   The state of Asian Pacific America: Policy issues to the year 2020. A public policy report by LEAP Asian Pacific American Public Policy Institute and UCLA Asian American Studies Center. 1993.

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: hoa95121@yahoo.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA