đăng ngày:  23.11.2009 | email: gd_us@hotmail.com

ß Trờ về

   

Biến Động Miền Trung  

Trích trong "Việt Nam : Một Trời Tâm Sự " của cựu Trung Tướng VNCH Nguyễn Chánh Thi

( Từ trang 339... ) Phần đầu.

nguồn: 

http://www.vungguomtritue.com/Tailieu/Mucluctailieu.htm 

….Những ngày kế tiếp, tin tức đồn đến tôi, cho biết bọn tôi tớ Mỹ ở SàiGòn quyết định triệt hạ tôi. Bằng cách nào? Tôi không mấy quan tâm. Điều làm tôi suy nghĩ là chánh sách của người Mỹ. Nếu Mỹ cứ tiếp tục chính sách dùng bọn tôi tớ, thì cuộc chiến này tất thua, biết trước là thua, thì binh quyền hay chính quyền phỏng còn có nghĩa lý gì nữa mà phải luyến tiếc? Đáng buồn là buồn cho đất nước buồn cho máu xương binh sĩ, đồng đội đổ ra, để rồi sẽ không đi đến đâu, mà còn chuốc lấy kết quả thảm thương. Càng biết trước, càng thấy rõ nguy cơ, càng buồn ! Buồn hơn nữa là không biết tâm sự với ai. Chung quanh, bằng hữu đếm trên đầu ngón tay và bằng hữu mình lại còn bất lực hơn mình nữa !

Ngày 9.3.1966, tôi nhận được giấy mời về SàiGòn hội họp. Những anh em thân tín ở Vùng I Chiến thuật tỏ ý lo ngại, biết đây là một cạm bẫy, một kế " điệu hổ ly sơn " đưa tôi rời khỏi đơn vị, tách rời khỏi quốc dân mà tôi xây dựng bấy lâu, rồi triệt hạ tôi cho dể dàng hơn. Biết thế, nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận tình huống, để xem bọn Mỹ có sáng mắt ra chút nào không trong cuộc thử thách giữa " Tinh thần Dân tộc Việt Nam " và " Áp lực Đế quốc " với bọn tôi tớ cũa chúng nó. Anh Phạm Văn Liễu từ SàiGòn điện thoại ra, cho biết nên suy nghĩ thận trọng khi về SàiGòn chuyến này. Đó là ám hiệu cho biết tình hình căng thẵng.

Tôi thầm suy nghĩ : " Nếu có triệt hạ mình, thì quyết định phải đến từ " quan thầy " Mỹ, xuất phát từ chính sách thiển cận của họ. Chính sách đã thế, thì cuộc chiến này xem như... hỏng, và trách nhiệm không phải ở mình.

Mình đã hết sức cố gắng soi sáng cho người Mỹ. Họ không nghe, còn coi mình là kẻ thù. Mình rời khỏi binh quyền là hết trách nhiệm. Nếu mình chống lại thì trách nhiệm rơi trên vai mình : tham quyền cố vị, đặt cá nhân lên trên đất nước v.v...

Cân nhắc thận trọng, tôi quyết định về SàiGòn, dù có phải một mình đương đầu với những bất trắc đang chờ đợi ở đó.

  Lúc 9 giờ 30 ngày 10.3.1966, tôi đến SàiGòn, về ở nhà số 9 đường Gia Long. Anh Phạm Văn Liễu đã có mặt sẵn đó. Tay bắt mặt mừng, tôi hỏi :

- Hội họp khỉ gì ! Chúng nó muốn " làm thịt " tôi phải không ?

Anh Liễu trấn an tôi :

- Chắc không đến nỗi nào.Tôi có gặp thằng Kỳ, hắn nói : "Anh em cả mà!" Còn Lê Nguyên Khang thì nói sau khi hội họp xong sẽ mời chúng mình đi

ăn cơm.

- Tại sao Kỳ phải nói thế ? Những trò trẻ con ấy không qua mắt nổi tôi đâu. Nhưng dù chúng có âm mưu gì đi nữa cũng chả sao. Tôi đã sẳn sàng mọi lẽ.

Tôi lên xe đến Bộ Tổng Tham Mưu, nơi " hội họp ". Tại cổng vào Bộ TTM tôi thấy có nhiều xe thiết giáp đậu ở đó. Trên không máy bay lượn qua lượn lại. Âm mưu của bọn tôi tớ ngoại bang đã quá rõ rệt. tôi phản ứng lại còn kịp, nhưng tôi không muốn làm thế. Tôi đi thẳng vào phòng hội Bộ TTM với một nụ cười, trong lòng thầm nghĩ :

- Ta một mình..." đơn đao phó hội ", mà bọn bạc nhược kia cũng phải ... bài binh bố trận đến thế sao. Ờ, chúng lo việc nước cũng kỹ như thế, có phải đỡ cho đồng bào biết bao !

Trong phòng hội, khi mọi người đã vào chỗ thì anh cò mồi Nguyễn Hữu Có lên tiếng trước, đại ý :

- Từ ngày anh Thiệu anh Kỳ lên cầm quyền, ông Thi đã gây quá nhiều rắc rối. Mệnh lệnh của trung ương ông không thi hành.

- Tỷ dụ những gì ? - Tôi hỏi .

- Ông Thi tự ý bắt người, xua qua bên kia vỹ tuyến mà chả cần hỏi ý kiến hay mệnh lệnh trung ương gì cả.

- Có phải là chuyện mấy tên trí thức theo Cộng sản Tôn Thất Dương Kỵ, Phạm Văn Huyến chi đó phải không ?

- Phải.

Tôi cười khinh bỉ.

Nguyễn Hữu Có tiếp :

- Tình trạng này cần phải chấm dứt...

Y còn nói nhiều nữa, nhưng tôi không để ý nghe. Chỉ nhớ mang máng rằng sau Y nào là Lê Nguyên Khang nào là Nguyễn Bảo Trị lần lượt nói hùa theo. Cuối cùng Nguyễn Cao Kỳ đứng lên nói :

- Tôi hết chịu nổi rồi! Nếu quý vị còn tín nhiệm tôi thì ông Thi phải đi. Một là ông Thi đi, hai là tôi đi.

Để cho bọn họ hết lời, tôi thủng thẳng nói :

- Còn gì nữa không? Quý vị khỏi cần dài dòng. Nếu quý vị cảm thấy sự có mặt của tôi ở vùng I Chiến thuật là một trở ngại, hay nói cho đúng tim đen quý vị, là một đe dọa, khiến quý vị mất ăn mất ngủ, không yên tâm lo tròn nhiệm vụ, làm giảm sức "chiến đấu " của quý vị, khiến quý vị không hy vọng " chiến thắng " Cộng sản, thì tôi sẳn sàng rời bỏ mọi chức vụ. Nếu như vậy vẫn chưa đủ, tôi sẳn sàng rời khỏi Quân đội mặc dầu Quân đội là gia đình ruột thịt của tôi, gồm những chiến hữu mà tôi yêu quý hơn cả tính mạng mình. Như thế đã thỏa mãn quý vị chưa ?

Nguyễn Cao Kỳ đưa ý kiến " bỏ phiếu " , một trò hề ngu xuẩn mà có lẽ Y học được của Nguyễn Khánh.

Không cần đợi, tôi đứng dậy ra khỏi phòng hội, sau khi cho biết là ngày mai tôi sẽ trở ra Vùng I Chiến thuật để chuẩn bị bàn giao cho người được

đề cử thay thế tôi ở đó.

Nói thế, tôi có ý thử lại bài toán, xem bọn tôi tớ ngoại bang phản ứng thế nào, để xem chủ ý quan thầy chúng ra sao.

Ngày 11.3.1966 tôi đến sân bay Tân sơn Nhất thì đã có sẵn một toán lính do Nguyễn Hữu Có đích thân chỉ huy, giơ súng buộc tôi về Bộ TTM.

Đến cửa phòng Cao Văn Viên, tôi thấy Nguyễn Văn Thiệu đã chờ sẳn.

Hắn miễn cưỡng bắt tay tôi nhắn nhủ :

- Thôi , toa chịu khó ở lại đây vài hôm. Hình như Mỹ đã bằng lòng mời toa đi chữa bệnh kia mà .

Tôi ngó trừng trừng vào mặt hắn, khiến hắn khó chịu bỏ đi. Trong thâm tâm, tôi cười thầm :

- Chữa bệnh mà phải " mời "! Lại phải " người Mỹ " bằng lòng ! Thật là trò hề rẻ tiền !

Tuy đã trắng trợn sai Nguyễn Hữu Có ra phi trường giơ súng bắt tôi, nhưng có lẽ cả quan thầy lẫn bầy tôi tớ vẫn chưa biết phài xử trí với tôi ra sao, cho nên chúng lại đưa tôi về tạm nghĩ tại số 9 đường Gia Long.

Báo chí Mỹ đánh hơi rất lẹ. Tôi đang ngồi trò chuyện với mấy đứa con thì có ông Maffre của báo Washington Post đến phỏng vấn. Tôi gạt ngang :

- Hiện nay tôi chưa muốn nói gì với báo chí cả, nhất là báo chí ngoại quốc.

Ông nhà báo Mỹ còn đang cố gợi chuyện thì có Nguyễn Ngọc Loan và Văn Văn Của ( tay chân của Cao Kỳ ) đến, và đưa cho tôi một bức thư của Tướng Westmoreland.

Tôi mở ra, bức thư như sau :

11 March, 1966

Dear General Thi :

I understand that you are interested in securing medical attention in the United States. It occurs tome, therefore, that you might welcome an invitation from me, on behalf of the United States Department of Defense, offering you the use of our medical facilities for a complete physical examination and checkup, as well as the administration of whatever treatments is found necessary. If this offer appeals to you, I wish you would let me know and I will immediately make all the necessary arrangements.

With every good wish.

Very sincerely yours

W.C. WESTMORELAND

General, United States Army

Thế là đã rõ ràng, Quan thầy và bầy tôi tớ đang thực hiện mưu kế của họ, thanh toán, gạt ra khỏi đất nước một phần tử chống Cộng, nhưng không tán thành chính sách của họ.

( Tiếp theo từ trang 345 )

Mưu kế thực hiện quá vội vàng, sắp đặt quá vụng về đến gần như trắng trợn. Điện thoại của tôi vẫn chưa bị cắt. Tôi cầm bức thư của Westmore- land, bổng nhớ đến cái tên mà các thân hữu của tôi vẫn dùng để gọi đùa ông ta. Thật ông ta hùng hổ đem binh hùng tướng mạnh sang Việt Nam, họ gọi đùa ông là " Waste more land ". Đến trình độ này, thì không phải ông ta chỉ phí phạm thêm lãnh thổ mà còn phí phạm luôn cả sinh mạng, tiền của và uy tín của Mỹ nữa.

Chuông điện thoại reo vang, Quân đoàn I cho biết Cộng sản đánh chiếm A Lưới mà không có ai tiếp cứu. - Đồng bào miền Trung biểu tình chống Thiệu Kỳ.

Ông Loan và ông Của đã biến mất từ lúc nào. Tôi quay ra nói chuyện với con mà lòng buồn rười rượi.Các chiến hữu của tôi bây giờ ở Quân đoàn I ra sao. Địch sẽ vui mừng biết bao khi biết được lủng củng nội bộ của hàng ngũ chống Cộng ! Đồng bào miền Trung lại xuống đường ! Tôi biết rõ, đồng bào thương tôi chỉ một phần, nhưng xuống đường vì không muốn đội trên đầu một bầy tôi tớ ngoại bang, và không muốn thấy chính nghĩa dân tộc bị ngoại bang chà đạp, mà đồng bào biết chắc sẽ đưa đất nước đến chổ bại vong.

Người Mỹ đã bưng tai bịt mắt trước nguyện vọng của đồng bào ta. Họ phán đoán tình hình qua những báo cáo nịnh bợ của bầy tôi tớ do họ nuôi dưỡng. Thế thì đất nước này còn trông mong gì được ở ngày mai ? Suốt mấy ngày sau đó tôi bế môn tạ khách, nhất là tuyệt đối không tiếp báo chí. Còn gì nữa để nói với người Mỹ ? Dân tộc Mỹ tốt bụng, có biết đâu họ bị một số quân nhân cao cấp, một đám chính khách hẹp hòi đưa chính sách Mỹ quốc vào con đường phiêu lưu, bế tắc.

Từ hôm tôi nhận được thư của Westmoreland, tức là ngày 11.3.66, trước nơi tôi ở luôn luôn có xe Quân cảnh Mỹ canh gác. Quan thầy bầy tôi tớ không giấu diếm gì cả, họ công khai tỏ cho tôi biết là tôi đã bị giam lỏng. 9 giờ 30 ngày 14.3.1966, anh Phạm Văn Liễu đến thăm tôi, có hai người Mỹ đi theo. Đó là ông Đại tá Sam Wilson và ông Ted Britton. Sau vài câu chuyện xã giao,Sam Wilson đi vào vấn đề :

- Chúng tôi biết, trong lúc này chỉ có Nguyễn Cao Kỳ và anh bắt tay làm việc với nhau mới ổn định lại được tình hình đã quá sôi động.

Tôi chưa biết phải nói sao thì Ted Britton xen vào :

- Nghe nói tướng Westmoreland có đưa một bức thư mời anh đi Mỹ. Tôi biết ông ta làm việc ấy do sự yêu cầu của Nguyễn Cao Kỳ và Hội đồng Quân lực, anh nghĩ sao ?

Lại cũng không để cho tôi kịp trả lời, Sam Wilson tiếp :

- Anh có nghĩ rằng nếu anh trở lại miền Trung thì tình hình sẽ hết xáo trộn không ?

Hai người Mỹ này với tôi không xa lạ gì. Vả lại họ đi với anh Phạm Văn Liễu mà tôi biết anh từ hồi còn lưu vong bên Cao Miên, tôi nghĩ có thể nói chuyện thành thật với họ. Tôi đáp :

- Tôi không dám hứa là tôi trở lại miền Trung thì tình hình sẽ hết xáo trộn.

Tôi tự thấy mình bất lực. Tôi có quyền hạn gì đâu ? Đã bị tước đoạt hết rồi ! Tuy nhiên nếu được trở lại miền Trung để quan sát tình hình thì may ra tôi tìm được cách thích đáng cho tình hình.

Hai người Mỹ không nói gì thêm. Họ kiếu từ ra về. Tôi tiếp tục bị giam lỏng. Ngày 15.3.1966, anh Phạm Văn Liễu điện thoại cho tôi biết chính phủ ra lệnh cho anh và Nguyễn Ngọc Loan đón tôi về Trung quan sát tình hình vài hôm, rồi trở lại Đà Nẵng, tôi đồng ý.

Đến Đà Nẵng, tôi không còn tin ở con mắt mình nữa : đồng bào đứng dài từ phi trường đến sân vận động đón tôi. Tôi biết, đồng bào thương tôi chỉ một phần, nhưng đồng bào đón tôi là để chờ nghe xem chính phủ SàiGòn có giải pháp như thế nào đối với những đòi hỏi của đồng bào. Nhưng bọn tôi tớ ngoại bang lại chỉ nhìn thấy việc đồng bào miền Trung xuống đường như hậu quả của những tranh chấp cá nhân.

Vì thế, khi tôi về Đà Nẵng, tôi có đem theo giải pháp nào của chính phủ trung ương đến cho đồng bào đâu !

Được đồng bào mời lên nói vài lời, tôi đâm ấp úng, chỉ nói đại khái :

- Xin đồng bào, xin các đoàn thể quân dân có mặt nơi đây hãy xem việc nước là quan trọng. Đừng quan tâm đến cá nhân tôi. Nhất là hết sức thận trọng, đừng để Cộng sản lợi dụng làm những điều có hại cho dân tộc.

Dĩ nhiên là đồng bào không thỏa mãn với những điều tôi nói. Tôi nhìn thấy những bất bình trên nét mặt mọi người.

Vài hôm sau tôi ra Huế. Vừa đến Huế, tôi gặp một đám biểu tình đông đến mấy trăm ngàn người, gồm cả quân lẫn dân, và có cả thương phế binh tham dự. Cũng như ở Đà Nẵng, tôi cố gắng khuyên can đồng bào đừng gây xáo trộn để cho Cộng sản lợi dụng. Nhưng vẫn thế, đồng bào Huế cũng không thỏa mãn với những lời khuyên can của tôi. Trong thâm tâm tôi biết đồng bào có lý. Cái chính phủ trung ương gồm những tên bồi bếp ngoại bang, buôn xương máu của đồng bào, nhảy múa trên xác chết của binh sĩ. Ngoại bang thì xưng là " Đồng minh " nhưng xử sự như những " Quan thầy ".

Đồng bào đòi hỏi nước Mỹ phải thay đổi quan niệm hợp tác chống Cộng, đòi hỏi loại trừ bọn tôi tớ ngoại bang mà họ cho là một lũ Việt gian ở SàiGòn. Ngày nào nguyện vọng đó chưa thỏa mãnthì đồng bào còn đấu tranh, tôi làm sao khuyên can được ?

Bọn tôi tớ ngoại bang ở SàiGòn thì nhất định không chịu hiểu như thế. Chúng lại đi ton hót với quan thầy rằng : " Nguyễn Chánh Thi là đầu mối của biến động ", rằng : " trừ cái đầu mối đi thì hết loạn " v.v...

Vì cần tay sai ngoan ngoãn, người Mỹ dần dà rồi cũng phải chiều theo bọn tay sai.

Ngày 3.4.1966, ở SàiGòn, Nguyễn Cao Kỳ họp báo, tuyên bố rằng Huế và Đà Nẵng bị Cộng sản chiếm đóng ( chụp cái mũ ), cần phải đem quân ra giải phóng. Lời tuyên bố của tên hề tay sai làm cả nước sửng sốt ! Cộng sản nào ở Huế và Đà Nẵng ? Chỉ có quân lẫn dân muốn đánh đuổi bọn hèn hạ ra khỏi chính quyền để cho cuộc chống Cộng không bị ô uế vì chúng mà thôi.

Nhưng trong mắt Thiệu Kỳ và đồng bọn, không để cho bọn chúng làm tôi tớ Mỹ, bọn chúng coi là Cộng sản. Đấy là lý tưởng chống Cộng của bọn chúng !

Một ký gỉả ngoại quốc đặt câu hỏi :

- Ông nói rằng Cộng sản đã chiếm Huế và Đà Nẵng. Có thật thế không ?

Nguyễn Cao Kỳ trả lời một câu mà có lẽ chỉ mình hắn hiểu :

- Đó là chuyện của người Việt Nam.

Chuyện của người Việt Nam là chuyện gì ? Chẳng qua hắn muốn đem quân đánh dẹp đồng bào miền Trung để khỏi trở ngại "sự nghiệp" bồi bếp của hắn. Nhưng súng đạn của Mỹ đưa cho hắn chống Cộng chứ đâu để bắn giết đồng bào yêu nước ? Cho nên hắn và đồng bọn phải đổ riết cho " Cộng sản chiếm Huế và Đà Nẵng " để có cớ biện minh cho súng đạn mà bọn chúng sắp dùng bắn giết đồng bào.

Báo chí lại hỏi :

- Nghe nói, ông Thị trưởng Đà Nẵng, Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn là người Công giáo, nhưng lại giúp đỡ đồng bào Phật giáo miền Trung biểu tình chống chính phủ SàiGòn. Có thật thế không ?

Nguyễn Cao Kỳ trả lời đầy hằn học :

- Không cần biết. Chỉ biết rằng, một là chính phủ này sụp đổ, hai là tên Thị trưởng Mẫn bị bắn chết !

Cuộc họp báo của Kỳ không giúp giải quyết được gì, mà chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Đến nước đó thì tôi có là Thánh sống cũng không khuyên can nổi

đồng bào miềnTrung.

Ở Huế, Nguyễn Văn Chuân gặp tôi hỏi :

- Hình như anh có hứa ra đây ít hôm rồi về SàiGòn, sao chưa về ? Nếu anh không về trong nớ thì thật lôi thôi.

Tôi cười nhẹ :

- Đó là việc của tôi.

Sau khi tuyên bố hùng hổ ở SàiGòn, ngày 4.4.1966 Thiệu Kỳ cho quân đổ bộ ra Đà Nẵng, dùng phương tiện không vận của Hoa Kỳ. Lập tức toán quân này bị chống đối. Đồng bào bịt mọi lối ra vào của quân SàGòn. Nguyễn Hửu Có từ SàiGòn cấp tốc bay ra Bộ Tư Lệnh Quân đoàn, bàn mưu kế với Nguyễn Văn Chuân đánh lại đồng bào. Không biếi những tên này bàn tán ra sao, rất có thể một trong hai tên còn chút " nhất điểm lương tâm " nên sau đó họ chùn lại. Ngay hôm sau cả Có lẫn Chuân chuồn về SàiGòn .

Đụng độ với ý chí sắt đá của đồng bào, viên tướng Tư lệnh chỉ huy lại đã chuồn mất, Thiệu Kỳ đâm phân vân. Họ nhờ Mỹ chở quân SàIgòn về tạm đóng ở Chu Lai. Trong khi đó thì ở SàiGòn, Nguyễn Cao Kỳ đổi giọng. Hắn tuyên bố là tình hình miền Trung không phải như hắn đã nói hôm 3.4.1966, rồi tự kết luận " sẽ có sự dàn xếp ổn thỏa ". Hóa ra đồng bào Huế và Đà Nẵng không phải là Cộng sản nữa !

( Tiếp theo từ trang 350=>357 )

Tướng Tôn Thất Đính được đưa ra thay thế Nguyễn Văn Chuân. Thiệu Kỳ tưởng đâu ông Đính theo chúng. Ai dè ra đến Huế, ông Đính tuyên bố những câu nảy lửa. Ông nói :

- Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, phải cắt cổ những thằng Việt gian bán nước, những tên thời cơ, lừa thầy phản bạn ở SàiGòn . Chúng nó là lũ tôi tớ ngoại bang, chỉ biết lừa gạt đồng bào và nói láo với quan thầy. Đánh Cộng sản gì chúng nó ? Hiện chúng nó đang diễn lại trò hề của Nguyễn Khánh.

Nghe tướng Đính tuyên bố, đồng bào lầm lì ngó nhau.Ông Hồng Dũ Châu hỏi nhỏ tôi :

- Coi bộ không ổn rồi! Thái độ của ông Đính thế này thì tất SàiGòn không tha chúng ta đâu. Tôi không biết nói với ông thế nào, chỉ mỉm cười gật đầu.

Với thái độ của ông Đính như thế, SàGòn không biết xử trí sao, đành làm lơ cho miền Trung một thời gian. Tôi cũng thừa dịp này nấn ná ở lại để xem họ giở trò gì. nhưng tôi cũng biết là SàiGòn còn chờ lệnh quan thầy.

Và người Mỹ thì lúng túng không tìm được giải pháp. Tuy thế, chính sách của họ có lẽ khó mà thay đổi được.

Ngày 12.4.1966, ông Corcoran, Lãnh sự Mỹ ở Huế đến gặp tôi. Mở đầu câu chuyện, ông lên giọng khuyên bảo :

- Ông nên hợp tác với SàiGòn. Dù sao họ là chính phủ có pháp lý. Chúng tôi, người Mỹ chỉ ủng hộ những chính phủ hợp pháp.

Cứ luận điệu ấy ông thao thao bất tuyệt rồi kết luận :

- Từ ngày xảy ra xáo trộn, Cộng sản quấy phá nhiều nơi. Tôi e rằng nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì Hoa Kỳ có lẽ sẽ phải cắt viện trợ.

Nghe đến những từ ngữ " pháp lý ", rồi " cắt viện trợ " nhắc đi nhắc lại nhiều lần, tôi không nhẫn nhịn được nữa :

- Pháp lý nào cho bằng pháp lý của lòng dân. Các ông chỉ biết pháp lý theo nghĩa thư lại của các ông. Danh từ tự nó không có nghĩa lý gì cả.

Danh từ gì cũng chỉ có nghĩa khi nó phù hợp với nguyện vọng của dân.

Các ông bịt mắt lại, bịt tai lại, không chịu nghe đồng bào tôi nói lên nguyện vọng của họ thì bao nhiêu " Pháp lý " cũng bằng thừa. Nếu ông là một nhà chính trị giỏi thì ông phải biết nguồn gốc những xáo trộn hiện nay từ đâu mà ra. Có phải từ nơi chính quyền tồi tệ, ngu xuẩn mà các ông dựng ra không ? " Pháp lý " nào cho phép các ông dựng ra thứ chính quyền bỉ ổi mà toàn dân phỉ nhổ ấy ? Còn " Viện trợ ", thử hỏi viện trợ ấy có lợi cho ai ?

Trước hết là bọn tôi tớ của các ông chấm mút. Thứ đến là các Công ty buôn bán của các ông kiếm lời. Người dân Mỹ nai lưng đóng xương máu để làm giàu cho bọn con buôn, sống bám chiến tranh. Tiền bạc từ túi người dân Mỹ đi qua đây để lại những dấu nham nhở, rồi quay trở về chui vào túi Tư bản Mỹ ! Chúng tôi, dân Việt Nam có hưởng lợi gì đâu ? Vậy xin các ông đừng đem chuyện " cắt viện trợ " ra làm áp lực. Cái đòn phép ấy chỉ hiệu nghiệm với bọn tôi tớ của các ông, bọn lăm le làm giàu vì chiến tranh, chứ đối với chúng tôi đòn phép ấy vô ích ! Tất cả chống đối, tất cả hy sinh, tất cả nhẫn nhục, đương đầu...chỉ để mở mắt cho người Mỹ.

Người dân Việt Nam có thù ghét gì người Mỹ đâu! Khi phải xuống đường phẫn nộ, người dân Việt Nam đau đớn như phải cắt một khúc ruột của mình đi. Nhưng phải thét lên, vì nếu Mỹ cứ tiếp tục chính sách mù lòa của họ thì sớm muộn cũng thua Cộng sản. Mà thua sớm thì cũng đỡ tốn kém được hàng triệu sinh mạng. Người Mỹ không chịu hiểu như thế. Họ lấy làm lạ : tại sao đem tiền đi cho thiên hạ mà chẳng được mang ơn, lại toàn bị chửi !

Ông Lãnh sự Corcoran lặng lẽ ra về. Tôi không biết ông nghĩ gì, nhưng tôi vẫn hy vọng ông báo cáo đầy đủ những lời tôi nói thì họa may ra thượng cấp của ông có " thấm " chút nào chăng.

Tôi hy vọng hão ! Với cái tội hy vọng hão là " giác ngộ " được người Mỹ, tôi đáng chịu hình phạt biệt xứ sau này.

Ông Đính được triệu về SàiGòn họp. Biết trước, hễ về thì bị cách chức và bắt giam ngay, nên ông không về. Đã thế, hễ có dịp gặp báo chí ngoại quốc là ông chửi bọn tôi tớ ngoại bang ở SàiGòn thậm tệ. Ông cứ lập đi lập lại câu nói mà tôi vẫn còn nhớ đến bây giờ :

- Tụi Thiệu Kỳ chỉ có tư cách đi xách giầy cho ngoại bang thôi. Phải tìm cách trừ chúng nó đi thì đất nước này mới khá lên được.

Có lẽ ông Đính làm cho điên đầu, SàiGòn lại tìm cách " thương lượng " với tôi. có lẽ họ nghĩ rằng tôi còn ôn hòa hơn ông Đính hay các cấp chỉ huy khác ở miền Trung. Bọn Thiệu Kỳ lại nhờ Đạt Tá Phạm Văn Liễu và Trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra Trung chuyến nữa gặp tôi.

Đến Huế, tướng Chiểu trao cho tôi một thư tay đánh máy mang chữ ký của Nguyễn Cao Kỳ nguyên văn như sau :  

SàiGòn ngày 4 tháng 4 năm 1966

Anh Thi thân mến,

Sau một thời gian tĩnh dưỡng ngoài đó, tôi tin rằng sức khỏe của anh chắc được dồi dào hơn. Hôm nay bệnh mũi của anh chắc được đỡ nhiều, và tôi mong rằng anh chóng khỉi hoàn toàn.

Cho đến nay, anh về ngoài đó cũng hơn 2 tuần rồi, tôi nghĩ chuyện nhà anh đã dàn xếp xong... Bởi đó, tôi có thư này mời anh về đây để cùng tôi nhận lấy trọng trách cứu nguy dân tộc và xây dựng đất nước.

Tôi tin rằng anh sẽ không phụ lòng mong đợi của tôi, và nhạn dịp này tôi chân thành chúc anh luôn mạnh khỏe. Trong khi mong đợi ngày hội ngộ, tôi thân mến gửi đến anh những cảm tình nồng nhiệt nhất của tôi.

Thân mến.

Nguyễn Cao Kỳ.

 _____________

Đọc xong thư, tôi quay hỏi Phạm Văn Liễu :

- Kỳ hắn muốn gì ?

- Thì như trong thư hắn nói !

- Bệnh mũi ? Tôi có đau mũi bao giờ đâu ? Hắn tự bịa đặt ra những chuyện kỳ quái như thế mà nghe được à ?

Phạm Văn Liễu và Phạm Xuân Chiểu lặng thinh. Rồi trước đôi mắt mở to của hai người, tôi vò nát bức thư, liện xuống đất, lấy chân di nát đi. Sau này khi đã lưu vong, tôi mới yêu cầu anh Liễu sưu tầm tài liệu về vụ này thì được anh Liễu gỡi cho tôi một bổn khác do anh chụp lại trước khi trao thư cho tôi. Nhờ thế mà tôi còn tài liệu này, và nhiều tài liệu khác nữa, có thể làm cho bọn buôn dân bán nước xanh mặt, chui xuống đất, nếu đem công bố ra.

Quay sang tướng Chiểu, tôi ôn tồn nói từng tiếng rõ ràng rằng :

-Xin lỗi anh, đối với tên tiểu nhân lừa thầy phản bạn này, tôi không muốn có một liên hệ nào nữa. Xin anh về nói với hắn nguyên văn lời tôi như thế.

Tướng Phạm Xuân Chiểu đến Huế. Tin này bay đi rất nhanh, đồng bào lại xuống đường, biểu dương lực lượng để hổ trợ những đòi hỏi không lay chuyển của họ là loại trừ bọn tay sai ngoại bang ở SàiGòn, người Mỹ phải tôn trọng chủ quyền vIệt Nam và đóng đúng vai trò đồng minh của mình.

Để áp lực với SàiGòn, đồng bào đòi bắt tướng Chiểu làm con tin. Tôi phải năm lần bảy lượt phân trần, năn nỉ, mới giải thoát nổi tướng Chiểu.

Sai lầm lớn nhất của Thiệu Kỳ là không nhìn thấy nguyện vọng của đồng bào miền Trung, mà chỉ nhìn những cuộc biểu dương của đồng bào một cách thiển cận là để " bênh vực tướng Thi ". Cho nên, khi không thương lượng được với tôi, lại bị ông Đính chống đối ra mặt, thì bọn Thiệu Kỳ bèn quyết định đàn áp thẳng tay, đẫm máu.

Anh Liễu và ông Chiểu về rồi, tôi biết Thiệu Kỳ thế nào cũng xin quan thầy cho bọn họ dùng võ lực sắt máu đối phó đồng bào miền Trung.

Quả nhiên ngày 14.4.1966, Thiệu Kỳ cho quân đổ bộ ra Đà Nẵng, tập kích vào nhóm quân VNCH chống đối. Thiết giáp có máy bay yểm trợ chiếm hết các chùa chiền và các nơi trọng yếu trong thành phố. Quân dân miền Trung chống đối kịch liệt, nhưng được đáp lại bằng Phi pháo và Xe tăng phun lửa. Cuộc đàn áp đẫm máu đã đưa tới kết quả là có 242 người vừa chết vừa bị thương. Vô số chùa chiền và nhà cửa dân chúng bị trúng bom cháy rụi.

Tướng Đính bị kẹt ở Đà Nẵng hơn một ngày sau mới rýt về Huế. không ai biết được người dân miền Trung phẩn uất đến mức độ nào. Rất nhiều người vì cạn suy xét, bị dồn vào đường cùng,từ phẩn uất đi đến căm thù, rồi đi theo Cộng sản luôn.

Hoàn toàn bất lực, đứng bên lề mà vẫn tự thấy mình có trách nhiệm phần nào, tôi lại lăn lưng ra dàn xếp. Bọn Thiệu Kỳ đã táng tận lương tâm đến mức độ ấy thì thà mình chịu thua chúng để khỏi gây đổ vỡ cho đất nước, còn hơn đứng đó nhìn gà nhà bôi mặt đá nhau ? Tôi đi từng ổ kháng cự, năn nỉ đồng bào, năn nỉ các tổ chức chống đối, hãy mở đường cho quân SàiGòn tiến vào, rồi ra sao thì ra. Miễn là đừng gây thêm chết chóc cho dân vô tội, đừng tạo thêm cơ hội cho Cộng sản lợi dụng. Một lần nữa, nhờ táng tận lương tâm, đã thẳng tay bắn giết đồng bào mà Thiệu Kỳ và phe nhóm đã thắng. Chúng củng cố được địa vị, giày xéo nguyện vọng tha thiết của đồng bào để xây đắp quyền hành. Từ đây bọn chúng độc quyền phá nước và bán nước, không còn coi quần chúng ra gì nữa.

Đó phải chăng là nguyên nhân sâu xa đưa tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 đau buồn ?

Nguyện vọng của đồng bào miền Trung tan tàn mây khói. Nhưng sau khi đàn áp được đồng bào,Thiệu Kỳ lại quay ra cắn xé lẫn nhau. Cũng vì tên nào và bè nhóm thuộc hạ cũng muốn " độc quyền bán nước, phản quốc ".

Năm 1968 Nguyễn Cao Kỳ đến Mỹ, mời tôi đến nhà Đại sứ Bùi Diễm

ăn cơm. Gặp tôi, Kỳ làm ra vẻ tay bắt mặt mừng, hỏi tôi :

- Anh mạnh khỏe chứ ?

- Mạnh chứ không khỏe. Anh qua đây có việc gì, gọi tôi đến chia quyền chăng ? Tình hình Miền Nam ra sao ?

- Tôi cho Thiệu làm Tổng Thống. nhưng thử để xem sao !

Tôi chỉ mỉm cười nhẹ.

- Tôi sẽ nói với nó cho anh về.

- Về đâu ?

- Thôi đừng nói xa gần nữa.

Nghe Nguyễn Cao Kỳ nói, tôi chịu hết nổi, nên tôi trả lời hắn rằng :

- Các anh đã biến miền Nam thành con quái vật dị kỳ. Anh nói cho tên Thiệu làm Tổng Thống nghe khôi hài quá ! Không phải quan thầy của các anh lựa chọn à ? Tôi đâu có muốn xin xỏ đứa nào ân huệ chi đâu ? Vả thái độ của các anh, nhất là anh, quá hèn hạ, chớ nên hứa hẹn phô trương thêm nữa vô ích !

Nguyễn Cao Kỳ tím mặt, và bữa ăn quá trịnh trọng hóa ra vô duyên, lạt lẽo.

Tôi đứng dậy, không quên cám ơn Bùi Diễm, ra về.

Xương máu của quân dân miền Trung đổ ra oan uổng. Sau đó người ta nói đến chuyện bầu cử để tạo ra một căn bản pháp lý cho chế độ. Tiếp theo người ta mới tính chuyện phải có một Hiến pháp cho Đệ II VNCH. Nhưng Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao đồng bào miền Trung cũng chỉ đòi hỏi có bấy nhiêu đó mà bị đàn áp đẫm máu ?

Câu hỏi nữa đặt ra là : Tại sao người ta chấp nhận phí phạm xương máu như thế ?

Câu trả lời thật giản dị : Đồng bào đòi hỏi mà thỏa mãn ngay, thì phải xây dựng dân chủ " thật ", trong khi cả Mỹ lẫn bầy tôi tớ và phe nhóm của họ chỉ muốn làm dân chủ " giả " để che đậy một chế độ quân phiệt, không có phẩm cách, vô liêm sỉ, chỉ ngoan ngoãn theo lệnh ngoại bang. Vì thế phải vu khống, đàn áp và thẳng tay triệt hạ.

Trên khắp thế giới, người Mỹ đi đến nước nhược tiểu nào cũng đến với cung cách như vậy. Cho nên Cuba mới trở thành một nước Cộng sản. Cho nên Mỹ viện trợ nước nào thì sớm muộn nước ấy củng lọt vào tay Cộng sản . Còn phải trả giá bằng Tự do Hạnh phúc của bao nhiêu dân tộc nữa mới để cho người Mỹ sáng mắt ra ?

Riêng Dân Tộc Việt Nam đã phải trả giá quá mắc rồi đó ! !

Nguyễn Chánh Thi

 

    

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA