đăng ngày:  10.12.2009 | email: gd_us@hotmail.com

ß Trờ về

 

     Vài cảm nghĩ về cuộc tranh luận xây dựng khách sạn 5-sao trên đồi Vọng Cảnh -Huế 

Nguyễn Văn Hóa

 

Chừng trước Tết vài hôm, tôi nhận được điện thư gửi chung của một người từng theo sát các diễn biến về dự án quy hoạch ‘Đồi Vọng Cảnh’.  Nội dung lá thư ấy đề cập đến ước nguyện và tấm lòng của một số người Huế tha thiết với sự bảo tồn văn hóa, cảnh quanh của Huế trước một yêu cầu cấp bách về xây dựng và phát triển cho Huế xứng đáng tầm vóc của nó, dù đã sau ba mươi năm đất nước hòa bình. 

 Nội dung chính của điện thư là lời kêu gọi các anh chị em ở nước ngoài chia sẻ tinh thần làm sao để kêu gọi sự đình chỉ một dự án đầu tư, xây khách sạn 5-Sao trên đồi Vọng cảnh, Huế (với sự đầu tư liên doanh của hai công ty: Công ty du lịch Hương Giang và Công ty Vietnam Projeckt của Hòa Lan). Chỉ có thế thôi. Trong mấy ngày đầu năm, tôi quá bận rộn với đủ thứ công việc, nên những dòng thư ngắn ngủi đó đã không đủ làm tôi quan tâm. Nhưng tôi có một vài ý tưởng thoáng hiện nhanh trong đầu: một dự án đầu tư? Tốt chứ, sao lại đình chỉ? A, nhưng tại sao lại xây khách sạn tiêu chuẩn quốc tế trên đồi Vọng Cảnh? Có lẽ đây mới là vấn đề chính…  

Thế rồi tôi đành dẹp chuyện đó qua một bên đã, chờ mấy hôm sau Tết có thì giờ rảnh rỗi hơn, lượt qua một vòng các mạng lưới quen thuộc, tình cờ đọc được bài “Chơi đồi Vọng Cảnh, việc gì mà vội thế?” của ông NĐX. Qua bài viết đó, mới vỡ lẽ. Vấn đề có vẻ khá phức tạp, không đơn giản chút nào. Vì thế, muốn đóng góp ý kiến, hay có thể làm được gì trong hoàn cảnh của mình là mở một trang ý kiến trên website của Giao Điểm để lấy ý kiến của các công dân từ mọi tầng lớp, những người quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đất nước, không riêng gì các người sinh trưởng ở Huế; trước hết tôi cần phải nắm vững một số dữ kiện chung quanh dự án đầu tư, và quan trọng nhất là vai trò địa cảnh và lịch sử của đồi Vọng Cảnh – yếu tố then chốt đưa tới sự chống đối dự án đó, hiện đang xảy ra. 

Tôi sinh trưởng ở Huế, sống và học hành cho đến năm 19 tuổi mới hoàn toàn rời xa. Chuyến trở về thăm Huế lần đầu sau 31 năm xa cách là vào giữa năm 2001. Thời trẻ, tôi đã theo học ngành Thủy Lâm từ trung học, xuyên suốt các cấp : từ Huấn sự (sau đệ nhất cấp chọn đi học Huấn sự) đến Kiểm sự (đệ nhị cấp/ sau khi tốt nghiệp Tú-II Kỹ thuật -Cao đẳng/1 đền 2 năm). Chia cấp như vậy là nói theo phương pháp huấn nghiệp: giả dụ, sau khi tốt nghiệp tú tài II kỹ thuật NLS là có quyền tự động học thêm một năm nữa để ra Kiểm sự (ngành Thủy Lâm thì gọi là Kiểm Lâm), nếu muốn. Nhưng, con đường để đi lên Kỹ sư thì bị “chận” lại qua một kỳ thi tuyển với thí sinh “phổ thông” bất công, thiếu hợp lý của chế độ VNCH. (sẽ bàn về vấn đề này trong bài viết khác, khi có dịp). Tuy vậy, những anh chị em xuất thân từ tú tài II kỹ thuật NLS còn có con đường khác nữa là thi vào trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật NLS. Tôi chọn con đường này, nhưng không may do hoàn cảnh chiến tranh, nên không có ban Sư phạm Thủy Lâm nữa, chỉ có ban Ngư Nghiệp. Đây là khóa cao đẳng sư phạm ngư nghiệp đầu tiên. Như thế là đầu tư đến 5 năm về ngành thủy lâm, giờ đây phải đi vào học những môn như chế biến thủy sản, kỹ nghệ làm nước mắm, kỹ nghệ nuôi cá v.v… thì thật là nản lòng. Cho nên, trước khi ra trường, tôi làm đơn từ chức. Những loại học trò như tôi khi chọn ngành Thủy Lâm, không có nghĩa để tính tới con đường hối lộ, làm giàu qua khai thác gỗ như tiếng đồn thường có trong xã hội VN, nhưng chỉ vì mơ mộng. Thích rừng núi, thích màu xanh cây cối, muốn được cỡi lên lưng ngựa phóng vi vút qua những rừng cây, ngày nghĩ vác súng săn lên rừng, săn cọp beo. Hay có lúc mắc võng giữa rừng, nằm nghe suối róc rách…, và dĩ nhiên bên cạnh phải có một người tình cũng mê thiên nhiên. 

Việc học hành của trường trung học kỹ thuật NLS rất vất vả. Tôi nghĩ các bạn bên ngành kỹ thuật thực hành (cơ khí, điện…) cũng tương tự vậy thôi. Chương trình học song song với chương trình phổ thông cộng với những môn học chuyên môn (gồm đủ: nông, lâm, mục, công thôn), và dĩ nhiên, thực tập. Do sự di cư vào Nam của gia đình, tôi có lên Bảo Lộc học một thời gian ngắn, rồi nhớ Huế rồi trở về. Dù ở Bảo Lộc hay Huế, vì chiến tranh, chúng tôi không thể lên rừng để thực tập được. Cho nên, dù ở Huế mà tôi chỉ biết tới rừng thông hai lá, ba lá ở Thiên An, hay xa lắm là núi Ngự Bình. Trong nhu cầu thực hành, lẽ ra chúng tôi phải lên tới Bạch Mã, A Sao, A Lưới, Lao Bảo v.v… Trong một năm học nào đó, thời gian sau khi Mỹ đổ bộ ở Chu Lai, vài tháng sau lại thấy một đám lính Mỹ với tàu há mồm đổ bộ bên bờ sông Hương, cạnh Đập đá, hoa cỏ đã bị cày nát rồi họ dùng những tấm vỉ sắt tổ ong đặt đầy lên bờ giữa mùa mưa, bùn lầy lội, trông hết sức bẩn thỉu và thô bạo. Mỗi lần đạp xe đạp đi học ngang qua đó, thấy có vài chú bé đứng ngã tay trước đám lính Mỹ: ôkê salem, ôkê salem… xin xỏ. Nhìn thấy cảnh chướng mắt này chắc hẳn đã làm buồn lòng người dân Huế. Vào thời gian này, một hôm trong giờ giảng bài, ông thầy ruột về môn Thủy Lâm của tôi là cụ Nguyễn Hữu Đính dừng lại, để sách xuống bàn, hai tay xỏ vào túi quần trong bộ đồ veste rất élégant, mắt nhìn mông lên bầu trời qua cửa kiếng xa xăm, rồi ngâm nga: 

Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng núi thẳm,

Rừng điêu tàn là dân tộc suy vong. 

Tôi vốn hết sức ngưỡng mộ và khoái chí về ông thầy của mình, cũng đưa hồn mình chơi vơi giữa rừng núi thẳm, nhưng chợt giật mình nhận ra chính là thuốc khai quang rải thảm xuống miền Nam đang làm cho “rừng điêu tàn” đây mà, còn ai là thủ phạm khác hơn nữa! Và, từ lòng yêu rừng, yêu cây cỏ, núi sông đi đến lòng yêu nước là mấy hồi… 

Như thế là trong 19 năm sống ở Huế, tôi chưa từng có cơ hội để cùng bè bạn rủ nhau đi chơi đồi Vọng Cảnh trong trạng thái hòa bình và tự do thênh thang. Thỉnh thoảng nhớ về người thầy khả kính của mình đã ra người thiên cổ, nhưng hai câu thơ và hình ảnh của ông thầy trong những giây phút đó thì tôi mang suốt cuộc đời. 

Gần 35 năm qua, tôi đã không có cơ duyên để theo đuổi nghề lâm nghiệp nữa, nhưng hồi tưởng lại về các vị thầy khả kính, những đầu tư học vấn với mơ mộng tương lai của thời trẻ trung vẫn chưa nguôi ngoai. 

Mấy năm trước đây, tôi tình cờ đọc lại một số bài khảo cứu của cụ Nguyễn Hữu Đính đăng lại trên các tạp chí Nghiên Cứu Huế, xuất bản một số mỗi năm, tôi mừng lắm. Bài đầu tiên ông viết chỉ sau ngày thống nhất đất nước chừng một năm (8/3/1976), tôi rất chú ý là bài: “Để Huế giữ vững danh truyềnThành phố đẹp và thơ” và là một trung tâm du lịch thế giới trong tương lai” (Tạp chí NCH, tập I, 1999). Mặc dù bài viết chỉ phác họa những nét đại cương thôi, nhưng mang tính dẫn đạo của một chuyên gia nắm vững vấn đề quy hoạch và phát triển đô thị phối hợp với thiên nhiên thật sâu sắc. Nhờ qua bài viết và kèm theo họa đồ phân vùng “Rừng du ngoạn Huế”, tôi mới có thể định vị đồi Vọng Cảnh một cách đích xác. Theo đó, nếu ta dùng thuyền ngược giòng sông Hương đi lên thượng nguồn ngang qua Lăng Gia Long, Minh Mạng… đến Điện Hòn Chén bên tả ngạn, chèo thêm một đoạn ngắn nữa là đến vùng đồi Vọng Cảnh bên hữu ngạn. Vùng này được xếp là vùng “d” thuộc khối của “Rừng du ngoạn”.  Trong phần phụ lục có danh sách các từ chuyên môn được phân loại và định nghĩa rất cụ thể về “Quốc gia lâm viên”, “Công Viên”, “Rừng Cảnh”, “Vườn Bách Thảo”, “Vườn Bách Thú”, “Rừng Du Ngoạn”, “Rừng Cảnh Nghĩa Địa”, v.v.. và có 7 “Khu bảo tồn thiên nhiên”.  Xét theo các định nghĩa được nêu ra, tôi cho rằng đồi Vọng Cảnh có thể được xếp loại vào phạm vi: “Khu bảo tồn thiên nhiên có mục đích nhất định” (Réserve Naturelle à But Définis). 

Khu bảo tồn” nói trên được định nghĩa như sau: 

--Khu bảo tồn thiên nhiên có mục đích nhất định (Réserve naturelle à but définis): Là những khu bảo tồn được thành lập với mục đích riêng cho mỗi vấn đề hay đồng thời cho nhiều vấn đề liên quan hoặc đến đất đai, thực vật, động vật, dân cư (ví dụ: Khu bảo tồn về địa chất học, Khu bảo tồn về thực vật học, Khu bảo tồn về động vật học, Khu bảo tồn về nhân loại học), hoặc đến những địa điểm hay vật thể thiên nhiên cùng có một đặc tính đồng nhất (ví dụ: Khu bảo tồn thắng cảnh thiên nhiên, Khu bảo tồn kỳ công thiên nhiên, Khu bảo tồn rừng bảo vệ, Khu cấm săn bắn, Khu cấm câu hoặc đánh cá). 

Và, 

“Khu bảo tồn thắng cảnh thiên nhiên” (Réserve de Sites Naturels): Là những khu bảo tồn đặc biệt, có mục đích nhất định để giữ gìn những chu vi có cảnh trí đẹp cần duy trì. 

Vậy, đứng trên phương diện chuyên môn mà nói, đồi Vọng Cảnh phải được xếp loại vào “khu” cần phải được bảo tồn và duy trì; nói cho rõ hơn nữa: là khu vực thiên nhiên cần phải được bồi đắp thêm, bảo quản chu đáo để gia tăng thêm vẻ đẹp, chứ không thể quan niệm là “khu thiên nhiên” để khai thác, đầu tư. 

Tôi biết có rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, kể cả những người ngoài Hà Nội như giáo sư Trần Quốc Vượng… đã viết rất nhiều về Huế. Ở nước ngoài có một số nhà văn, nghiên cứu di tản hoặc du học từ lâu như: Kiêm Thêm, Thái Kim Lan, Trần Kiêm Đoàn, v.v.. viết về Huế rất phong phú, có một bản sắc văn chương riêng. Họ hiểu Huế sâu sắc đã đành, nhưng còn cưu mang trong người một cõi tâm linh nào đó, phảng phất hay bộc lộ qua văn chương. Nói về tính chất xây dựng kiến thiết ở Huế, ông Kiêm Thêm đã ghi nhận được điều này: “Một chi tiết nhỏ: Khi vạch tuyến đường số I ngang qua xứ Huế, những nhà thiết kế cầu đường cũng đã thận trọng lắm, và cảm thông được thiên nhiên nầy cho nên chuyển hệ từ cầu Bạch Hổ xuống kinh thành, rồi qua cầu Trường Tiền, đi về An Cựu. Họ không nỡ cắt xén, chia lìa mảng kiển trúc của bảy lăng tẩm trang nghiêm nầy. Phải là “tâm hồn Huế” mới có được cảm nghĩ, ưu tư đến mức độ nầy. Với Huế, rõ ràng kiến trúc và thiên nhiên thì quả là một hòa hợp phu thê, không thể tách lìa.” (Huế, di tích văn hóa nghệ thuật, Kiêm Thêm, Xuân Thu xb. 2000, trang 23). 

Cảm động thật, Kiêm Thêm nhìn sự kết hợp giữa thiên nhiên và kiến trúc là sự kết hợp “phu thê”, tách lìa nó ra hay xâm phạm tới là đồng nghĩa với sự phá hoại, gây nên sự đổ vỡ. Tìm trong văn chương của nhiều nhà văn, nhà thơ Huế khác (nhiều lắm, chỉ nêu ra một số nhân vật tượng trưng thôi) như: Mường Mán, Từ Hoài Tấn, Lê Văn Ngăn, Hoàng Ngọc Tuấn, Hồ Đình Nghiêm, Võ Quê, Võ Đình, và biết bao người tài giỏi vì hoàn cảnh lịch sử đã lưu lạc khắp bốn phương… đến như nhà văn (tín đồ đạo Công giáo La mã) như Hồ Minh Dũng… nhưng trong văn chương đều mang bản sắc độc đáo Huế mà nói theo kiếu “văn chương thiền vị” thì đó là “Tâm chất Huế”. “Tâm chất” ấy nếu đi vào thế sự, thể hiện bằng thứ văn chương dấn thân và bằng hành động, theo nhà văn Hoàng Nguyên Nhuận là “ước vọng giải nghiệp.”. 

Thế thì ba yếu tố : địa lý (trong đó có thiên nhiên), con người và lịch sử đã cấu tạo nên con người Huế, đến ngay cả những người đến đó để làm “thực dân” như H. Guibier (là Chủ sự Thuỷ lâm) cũng từng bước cưu mang cái “tâm Huế” qua cảm nhận siêu thoát về “Cái đẹp của Huế”:  

“Ấn tượng mạnh mẽ đầu tiên, dưới mắt của một du khách chỉ đi lướt qua không có thì giờ suy ngẫm, thì những cái quyến rũ cái đẹp mắt, cái kỳ lạ của Huế, được thể hiện: dầu là đón mừng mà vẫn giữ được một cái gì nghiêm trang, dầu phóng khoáng mà vẫn giữ được một cái gì chừng mực, dầu là dâng tràn mà vẫn giữ được một cái gì dè dặt. Ấn tượng trên càng đậm nét hơn khi chúng ta bắt đầu tìm hiểu kỹ về phố này: là thành phố có cái gì dấu kín, một cái gì đẹp tiềm ẩn, không thể trong chốc lát mà khám phá ngay được. Muốn đánh giá được nó, cần phải thay đổi cách nhìn, thay đổi cách cảm nhận. Thiết nghĩ cũng xa vời với chúng ta!”. (Cái đẹp của Huế, NNBCĐH (Bulletin des Amis du Vieux Hue) tập 3/1916, H.Guibier, trang 241, 242) 

Một ông Tây thực dân đến Huế hành sự về ngành chuyên môn đã cảm nhận như thế. Tại sao “cần phải thay đổi cách nhìn, thay đổi cách cảm nhận” mới đánh giá được Huế?  Có gì mâu thuẫn chăng? - Không, con người đời thường quan sát sự vật, cảnh trí là bằng giác quan, trực giác; và nếu như thế mà nhìn về Huế thì có thể sai lạc, do đó đừng vội vã, đừng bộp chộp, hãy thong thả để thay đổi cảm nhận ban đầu mà nhìn bằng “tâm linh”. Cho nên, cái tựa đề mà ông Xuân đặt ra : “Chơi đồi Vọng Cảnh, việc gì mà vội thế?” chính là cách nói kêu gọi những người kinh tài thực dụng kia, đừng có vội vã, nóng nãy, chụp giựt, để chuẩn bị cho sự thay đổi cách cảm nhận, cách suy nghĩ chín chắn hơn vậy. 

Tôi tìm hiểu thêm “cái nhìn” về Huế của một vài ông Tây thực dân khác như: R. Orband (Chánh sự vụ công vụ), H. Délétie (Chủ sự học chánh), E. Gras (Chủ sự kho bạc), A. Bonhomme (Thống chính), v.v… họ đều mang “tâm chất Huế” tương tự. Đặc biệt có ông L. Cadière (Linh mục thuộc Hội truyền giáo Paris), tình cờ chứng kiến cảnh những người dân hay quan chức Việt vô trách nhiệm đốn chặt những cây thông đẹp ở Nam Giao, Núi Ngự, ở Chùa Thiên Thai, ở các vùng Lăng tẩm Vua mà “ngạc nhiên, tức giận và quá đau lòng”. Ông yêu quý những cây thông ở vùng này, không những vì là những cây thông “linh thiêng” mà còn vì hình dáng mảnh khảnh, thanh tú của nó. L. Cadière so sánh cây thông ở Huế với thông ở các vùng Địa Trung Hải:  “Chúng ta thấy rõ là các cây thông già ở Nam Giao, Ngự Bình hoặc trên các lăng tẩm, đều chỉ có một nhúm lá chóp trên một thân dài. Khi mà thân cây uốn vặn, ngã, thì dáng vẻ không phải là không kiêu kỳ; nó có một cài xa lạ ở nơi đâu, nó có một cái gì thanh tao, cao quí. Các cây thông miền Địa Trung Hải, những chiếc lọng lớn ở Pincio hay ở Monte Mario, ở La Mã, có phong cách hoang dã, nhưng trông rất quí phái, mà lại không có hình dáng mảnh khảnh như thông ở đây. Nhưng dù ấn tượng ở nơi ta ra sao đi nữa thì chúng ta cũng phải cảnh giác và chống đối kiểu đẵn cành những cây lớn vì đó là dấu hiệu của sự tiêu diệt chúng.”  (Hãy cứu lấy những cây thông của chúng ta!, sđd, L. Cadière, trang 454). 

Nghe nói cách đây hơn thập niên, chính quyền ở Huế đã muốn cải tạo cảnh quan của đồi Vọng Cảnh từng bị bom đạn, thuốc khai quang Mỹ tàn phá trong chiến tranh, có chiến dịch trồng cây gây rừng để tái tạo những cây thông trên vùng Vọng Cảnh, chắc hẳn một rừng thông ‘hai lá’, ‘ba lá’ giờ đây đã vươn lên xanh tươi bát ngát, như thế việc cứu lấy những cây thông ‘trẻ’ vươn mình trong thế kỷ mới nầy phải lớn hơn, mạnh hơn, tự chủ hơn tinh thần của ông L. Cadière mới phải. Vì đó là niềm kiêu hãnh về tổ tiên của mình vậy! 

Hôm qua, theo dõi các nguồn tin mới nhất qua mạng lưới Thanh Niên online, tôi đọc được bản tin của phóng viên Ngọc Thảo Nguyên cho biết, quan điểm của Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế là “quyết tâm bảo vệ dự án, vẫn một mực cho rằng ‘dự án sẽ làm đẹp hơn cho khu đồi Vọng Cảnh’”. Hai tuần lễ trước đó, có nhiều bài tham luận biểu đồng tình với phản ứng của ông NĐX và một số nhân sĩ Huế (trong đó có người bạn thưở nhỏ cùng làng là Võ Quê) chống đối dự án này. Vấn đề có thể đã trở nên gay go, và chờ cấp trung ương giải quyết, nhưng lại nghe nói “báo cáo giải trình” phải đệ nạp trước ngày 20/2/05; và chúng tôi mong rằng trang đặc biệt đón nhận ý kiến của quí vị khắp mọi nơi, không phân biệt địa phương, tôn giáo, quan tâm đến hiện tình xây dựng và phát triển đất nước, nên tích cực tham gia đóng góp ý kiến của mình. 

Đối với chính quyền trung ương và địa phương ở Huế, qua biến cố nầy, có thể là một thách thức về tính dân chủ của một nhà nước độc đảng.  Ở nước Mỹ, có hai chính đảng tranh nhau nắm thế thượng phong để cai trị nước họ qua một cuộc bầu cử hết sức tốn kém, sau bốn năm. Dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ nắm chính quyền, có thể có một sự thay đổi nào đó trong chính sách đối ngoại, thế nhưng luật pháp quốc gia và nguyên tắc xây dựng, phát triển kinh tế vẫn là nhất thống. Đất nước chúng ta đã thoát khỏi nạn chiến tranh 30 năm qua, đang trên đường đi tới tương lai.  Hiện trạng độc đảng chính trị vững mạnh là yếu tố thiết thực để thực thi chính sách phát triển kinh tế, nhưng nhà nước vẫn có thể áp dụng tính dân chủ nếu như chính quyền, lãnh đạo hay cấp thừa hành biết lắng nghe và đáp ứng đúng nguyện vọng của người dân. 

Hủy bỏ một dự án đầu tư lớn là việc đáng tiếc nuối. Nhưng, chắc hẳn chúng ta vẫn có thể có một giải pháp khác, rất dung hòa; vì giải pháp luôn nằm sẵn trong trí huệ mỗi chúng ta. 

California, February 24, 2005 

Nguyễn Văn Hóa 

    

    

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: gd_us@hotmail.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA