đăng ngày: 05.8.2009

ß Trờ về

 

CHUYỆN DÀI CHỐNG MỸ CỨU ÐẢNG TẠI PHAN THIẾT-BÌNH THUẬN

 

MƯỜNG GIANG.

 

          Tháng 7-1954, VC thứ thiệt hầu hết đều tập kết ra Bắc, nhưng cài lại không ít những cái bào thai liều mạng, tự phát theo lệnh đảng. Biết hết nhưng chính quyền và đồng bào vẫn nhân ái, từ tâm, sẵn sàng mở rộng vòng tay đùm bọc. Cũng chẳng ai để ý phân biệt hay dòm dòm ngó ngó thân nhân của VC tập kết, ngay cả cháu ruột Phạm Văn Ðồng tên Phạm Văn Hượt, cũng được thâu dụng vào guồng máy hành chánh tỉnh và trở thành Chủ sự phòng Kinh tế, làm việc cho tới khi mất nước, chẳng ai hạch hỏi hay bắt bớ.  

            Từ cái lòng nhân truyền thống bao đời của dân tộc Việt, cho nên ở Phan Thiết mới có những Trần thị Xuân Hương, Xuân Lan, Hằng Nga, Thị Hồng, Thị Nghệ, Thị Lại... kiên trì bám trụ theo lệnh đảng từ tháng 9-1955.  

            Thời Pháp thuộc, Bình Thuận-Phan Thiết tuy mang tiếng là chốn rừng tiền biển bạc nhưng mặt thật tiền vàng, chỉ chạy vào túi bọn cầm quyền và những thế lực tại địa phương. Còn gần hết người dân trong tỉnh, muôn thu vẫn lầm than cơ cực, kiếm được cái ăn đã là may phước lắm rồi, nên mấy ai thời đó dám mơ tới chuyện học hành? Nên thời trước cũng như thời này, học hành đã là món hàng độc quyền của giới thượng lưu quan lại trong tỉnh. Cũng đừng trách Bình Thuận ít nhân tài và khoa bảng trí thức, vì dù có chăng nữa, nhiều người thời trước sinh tại Bình Thuận nhưng sau khi trở thành nghè, cống, tiến sĩ, ông này bà nọ, thì còn mấy ai chịu nhận mình là người bản địa, vì sợ mang tiếng với nước mắm, cá mực... những thứ lót đường, trải vàng cho họ được ăn học thành tài.  

            Chính những điều bi thảm trên, đã thúc đẩy người dân nghèo lạc lối, đi vào lưới rập tuyên truyền của cán bộ VC từ bấy lâu nay, làm cho nhiều gia đình phải tan nát vì khờ dại tin lầm. Từ sau năm 1955-1975 Bình Thuận đã theo thời mà thay da lột xác, trong đó có sự cải tổ giáo dục.  

             Ðây mới chính là cuộc cách mạng vĩ đại nhất của người Phan Thiết-Bình Thuận. Khắp tỉnh và thị xã, nhiều trường tiểu, trung học công và tư được mở, đón nhận học sinh nghèo, từ các quận xa xôi, cùng với nông thôn và hải đảo Phú Quý về tỉnh trọ học. Mọi nguời, bất kể là dân biển, ruộng hay buôn bưng bán gánh, đạp xích lô... ai cũng cố gắng cho con cái đi học, coi đó như một niềm vui và sự hãnh diện to lớn trong đời người.  

             Sau khi VC cưởng chiếm cả nước, một số người miền biển ngày trước không có ăn nhập gì với chính quyền... vì họ nói là không muốn làm chính trị. Nhưng không biết sao cũng từ bỏ thiên đường xã nghĩa, bám chân theo người Quốc Gia chạy ra hải ngoại du học và phần lớn trở thành bác sĩ, kỷ sư này này nọ nọ, tạo cơ hội tốt để họ lại có dịp quay về với đảng lãnh chỉ thị. Sau đó lại ra hải ngoại, tiếp tục nằm vùng trong Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn, chờ cơ hội lập công nối vòng tay lớn với giặc, như đã từng lập công lớn cho CSVN thời trước.  

            Viết về quê hương của mình trong trí tưởng, quả là một sự bức xúc đầy khó khăn vô vàn, nhất là thân phận của một kẻ ly hương nghìn trùng xa cách. Lại càng bức rức bất nhẫn thêm, khi cứ phải vô tình, gợi lại những đắng cay buồn tủi của một giai đoạn lịch sử, có dính dấp tới những bộ mặt phản tặc mất nhân tính, muốn quên mà phải nhớ, vì không thể dừng được.  

            Tỉnh Bình Thuận từ lúc được Pháp chính thức trả lại cho VN từ năm 1952 tới tháng 4-1975, có tất cả 19 tỉnh trưởng dân sự cũng như quân đội. Hiện nay trong tâm trí của những người dân xóm biển khi hồi tưởng lại các cuộc đổi đời, hầu như một số lớn đều bực tức về cái gọi là cuộc cách mạng tháng 11/1963. Vì nó chẳng những không mang lại chút gì hạnh phúc tốt đẹp cho đồng bào, nếu đem so với những ngày bị gọi là áp bức, bốc lột.  

            Ngoài ra cũng nhờ nó mà VC nằm vùng cơ hồ sắp bị tiêu diệt, lại thung thăng trở về hoạt động phá hoại, chẳng những ở nông thôn, mà còn ngay trong thành phố, thị xã. Tất cả cũng chỉ vì mang tội “cần lao” nên một số lớn viên chức và quân đội VNCH, nhiều người rất am tường về các chiến thuật đối đầu với cán bộ du kích và hạ tầng cơ sở VC tại địa phương, đã bị chính quyền mới tại trung ương sau ngày 1-11-1963, lột chức, kết tội, bỏ tù....

            Oan khiên nhất trong số này là Thầy Lê Tá, Hiệu trưởng trường TH. Phan Bội Châu PT từ 1955-1963, một danh nhân của Bình Thuận nếu xét về tư cách đạo dức và công lao đã đạo tào được nhiều thế hệ học sinh tại địa phương trở thành lớp ngưòi hữu dụng trong xã hội VN.  

            Tệ nhất là lệnh phá bỏ hàng loạt các hàng rào Ấp Chiến Lược ở nông thôn và vùng ven biên thị xã Phan Thiết, lúc đó được đánh giá là những đồn bót hào thành vô cùng kiên cố, được xây dựng bằng mồ hôi nước mắt của người dân và quân đội, phút chốc phải tan tành như bọt biển, qua lệnh được phát ra từ những cái lưởi cắc ké xanh xanh đỏ đỏ, ngồi chểm chệ tại Dinh Ðộc Lập tận Sài Gòn. Hậu quả đã khiến cho nhiều viên chức xã ấp, những thanh niên chiến đấu, lần lượt làm mồi cho VC.  

            Nhưng nguy hiểm lớn nhất vẫn là kho thuốc nổ “tranh chấp tôn giáo” tại địa phương, lúc nào cũng chực chờ bộc phát do bàn tay nhúng vào của bọn VC nằm vùng, mục đích đào sâu hố chia rẽ “lương-giáo”, cho dù trận cuồng phong chính trị hỗn loạn, đã được kết thúc tại Huế-Ðà Nẳng vào giữa năm 1966 nhưng tại Bình Thuận-Phan Thiết, sự việc gần như mới bắt đầu.  

            Cho dù bị còng tay lên máy bay về Sài Gòn vì bị gán tội “cần lao” nhưng Trung Tá Nguyễn Quốc Hoàng, Tỉnh Trưởng Bình Thuận, một sĩ quan xuất thân từ Trường Võ bị Ðà Lạt hôm qua hay hôm nay, vẫn được mọi người mến mộ vì tư cách đạo đức và trên hết được các cấp thuộc quyền đanh giá là một tỉnh trưởng giỏi, có khả năng lãnh đạo.  

            Thay thế là Ðại Tá Nguyễn Quang Hoành (lần 2), rồi Ðại Tá Ðàm Văn Quý lúc đó là Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 43 Biệt Lập, kiêm Biệt Khu trưởng Biệt Khu Bình Lâm. Hai ông chỉ làm tỉnh trưởng trong thời gian ngắn, nên mọi người nếu có nhắc tới, thì cũng chẳng qua là những câu chuyện thị phi mà thôi.  

            Nổi bật nhất trên chiếc ghế tỉnh trưởng Bình Thuận, đó là Trung Tá Ðinh Văn Ðệ xuất thân từ Khóa 1 Sĩ quan trừ bị Nam Ðịnh. Ðệ bắt đầu cuộc đời binh nghiệp, qua chức vụ Chánh Văn Phòng của Ðại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu trưởng QDVNCH, rất được cấp trên tin cậy. Kế tiếp là Tỉnh Thị Trưởng Tuyên Ðức-Ðà Lạt.  

            Thời gian Ðệ làm tỉnh trưởng Bình Thuận, lúc đầu tỉnh tương đối có an ninh. Tại nông thôn VC ít về quấy phá như trước, nên rất được Quân Ðoàn II và Trung Ương khen ngợi. Do đó, khi Bình Thuận xãy ra các trận đụng độ lớn, thường bên ta bị thiệt hại rất nặng nề ở cấp Ðại đội, Trung đội và nhiều đồn bót... như có một bàn tay bí mật nào đó, đã báo trước cho VC trước khi xảy ra các cuộc đụng độ. Vì đã lở khen Ðệ hay có một lý do nào khác, nên không thấy cấp trên hó hé gì cả, khiến Lính và các Ðơn Vị Chiến Ðấu, kể cả Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn, cứ tiếp tục tổn thất rất nặng nề.  

            Cuối cùng, tuy chỉ làm tỉnh trưởng Bình Thuận có hai năm (1966,1967) nhưng Ðinh văn Ðệ cũng đủ thời gian, cài đặt xong một màn lưới đặc công khắp mọi nơi, có khả năng làm suy yếu hay phá sập chính quyền kế tiếp, theo nhu cầu chiến lược của Hà Nội đề ra.  

            Sau khi lập xong các tổ chức như ý đảng, Ðinh Văn Ðệ được lệnh về lại Tuyên Ðức-Ðà Lạt để ứng cử Dân biểu Quốc hội. Ðây là nơi Ðệ đã chuẩn bị sẳn sàng khi còn làm Tỉnh trưởng mấy năm trước. Kế hoạch hành động của Ðệ, trước hết là thu thập các tin tức cơ mật của chính phủ và quân đội khi làm Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng/QÐVNCH. Và dù đã bị cơ quan tình báo nghi ngờ nhưng Ðệ vẫn được đề cử làm Tỉnh Thị Trưởng Tuyên Ðức-Ðà Lạt, một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng ở Cao nguyên Trung Phần, có liên hệ tới đường mòn Hồ Chí Minh, mà Bắc Việt dùng chuyển quân từ Bắc vào Nam để xâm lược VNCH. 

            Cuối cùng Bình Thuận được chọn để phù hợp với nhu cầu chiến lược quân sự của Quân khu 6 VC, với mục đích mở một hành lang từ Quảng Ðức-Tuyên Ðức-Ba Biên Giới chạy suốt tới Bình Thuận, đem đồ tiếp tế , từ biển lên cao nguyên cho bộ đội, cán bộ Bắc Việt, cũng là con đường xuống núi, để tiến quân về Sài Gòn.  

            Nếu ở Tuyên Ðức, Bình Thuận, Ðinh Văn Ðệ đã khéo léo lấy lòng mọi người coi đó như một bình phong che đậy dã tâm bên trong. Thủ đoạn này lại được đem xài ở Hạ Viện, để được nắm giữ các chức vụ vô cùng quan trọng, qua mặt cả khối Thân Chính của chính quyền. Theo lời kể của một nhân chứng, nguyên Tham vụ ngoại giao của Tòa Ðại Sứ VN tại Hoa Thịnh Ðốn cho biết, khi Ðệ làm Trưởng đoàn Dân biểu Hạ Viện VNCH, đến Mỹ để vận động ngoại viện. Nhưng rất lạ lùng, vì trong lời phát biểu, đượng sự lại xa gần như gợi ý cho Hoa Kỳ, đừng nên viện trợ cho Chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.  

            Tất cả đều là sự thật sau ngày 1-5-1975 khi VC chiếm trọn Miền Nam, Ðinh Văn Ðệ đã hiện nguyên hình, qua quần áo bộ đội, xắc cốt, K54, dép râu, nón cối như ai, trên một chiếc xe đạp, qua các đường phố tại Sài Gòn, với quân hàm Thượng Tá. Cho nên, chẳng những quân, công, cán, cảnh mà ngay cả những người dân xóm biển, không biết gì về chính trị cũng thi nhau chửi rủa Ðinh Văn Ðệ. Nhưng nay hắn cũng đã tán gia bại sản rồi theo luật trời trả báo.  

            Khôi hài nhất là lúc rời chức vụ Tỉnh trưởng Bình Thuận, để vào Sài Gòn nhận chức lớn hơn, các thân hào nhân sĩ trí thức địa phương do Trúc Viên, Nguyễn Quý Môi, Lê Văn Tho và Tăng Phát đại diện, đã viết tặng tên Ðiệp viên nằm vùng, một bức Hoành phi vô cùng trân trọng, với chữ mạ vàng trên gấm đỏ “ Nhất phiên băng tâm tại ngọc hồ” Thì ra phe ta đã hiểu ý người của ta, cho nên khen nhau cũng đâu có gì là lạ?  

            Với ba tỉnh trưởng sau tháng 11-1963, Bình Thuận đã được mai phục sẵn một màn lưới chiến lược qua các cơ quan dân cử hợp pháp, mà điển hình nhất là Trúc Viên-Trương Gia Kỳ Sanh cùng với Phạm Thế Trúc, đã được đắc cử Dân biểu Hạ viện niên khóa 1967-1971. Trúc Viên bị thất cử vào năm 1971, còn Phạm Thế Trúc, một giáo sư tại trường TH công lập Phan Bội Châu Phan Thiết thì phản bội dân tộc, theo VC và sống lưu vong luôn ở Pháp.  

            Theo báo Ðảng, thì phong trào nằm vùng trong các trường học tại Phan Thiết, mà khởi đầu là Trường Phan Bội Châu và Bạch Vân từ năm 1957, do Võ Khánh Tồn, bí thư thị xã Phan Thiết dàn dựng. Cũng năm đó, VC cho mở một lớp huấn luyện các bộ tuyên truyền tại Ba Hòn, thuộc xã Kim Bình, quận Hàm Thuận, gần Núi Tà Cú, sát quốc lộ I đi Sài Gòn. Tham dự có 10 người, trong số này có hai nữ sinh trường Phan Bội Châu là Tăng Thị Nhu và Nguyễn Thị Kim Liên, cả hai đều có cha tập kết ra Bắc. Cũng theo báo đảng, thì tính đến tháng 5-1962, gần 100 cơ sở nằm vùng của VC tại Phan Thiết bị phá vỡ, vài tên nằm vùng trong trường Phan Bội Châu như Lê Tấn Ngọc, Ðào Ngọc Trác, Võ Nga, Ba Chương đều bị bắt. Riêng Nguyễn Hội, Tăng thi Nhu trốn hẳn vào rừng, còn Nguyễn Thị Kim Liên được đảng cho ra Bắc.  

            Sau ngày binh biến 1-11-1963, tình hình Miền Nam vô cùng hổn loạn vì nạn đảo chính, chỉnh lý liên tục. Thời gian này từ 1965-1967, Bình Thuận lại càng tan nát hơn vì Tỉnh trưởng Ðinh Văn Ðệ, cố tình dàn dựng những cơ hội tốt, để cán bộ cơ sở VC tại địa phương, khích động các cuộc phản kháng chống chính phủ, mà chủ đích là việc đòi đuổi Mỹ ra khỏi Miền Nam, để cho chúng dễ dàng đánh chiếm VNCH. Ðể tăng thêm dư luận ngoài nước, VC cho trộn trấu các cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Phật tử và phong trào đấu tranh của nhóm thân cộng, phản chiến như là một, rồi chụp hình, đăng báo, tuyên truyền.  

            Bắt đầu từ năm 1966 thời Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng, muốn nổi nên bày ra nhiều cải cách, trong đó có việc thành lập các Ban Ðại diện học sinh tại các trường Trung, Cao đẳng và Ðại học khắp VNCH, chứ không phải hưởng ứng theo cái gọi là phong trào tranh thủ hòa bình gì gì đó, mà VC thường rêu rao. Vì vậy bắt đầu từ niên khóa 1966, các trường Trung Học công lập ngoài Ban Giám Hiệu, còn được phép thành lập thêm một Ban Ðại Diện Học Sinh. Năm đó, Trường Phan Bội Châu có hai Liên Danh ứng cử : Liên danh của Phạm Văn Ngà, Ðỗ Minh Hứng và Nguyễn văn Minh (có vợ là Cao Hoàng Hoa, hiện ở San Diègo-CA, chứ không Nguyễn Văn Minh nằm vùng hay Trương văn Minh đang ở San José-CA), tất cả đều là học sinh lớp Ðệ Nhất. Liên danh thứ 2 của Nguyễn Văn Ðồng, Phạm Thị Sa và Vũ Thị Phương Liên (đều là học sinh lớp đệ tam). Kết quả Liên Danh Nguyễn Văn Ðồng thắng cử.  

            Trong bài viết trên đặc san Xuân Nhâm ngọ 2002 của báo đảng tại Phan Thiết, đã cố tình bóp méo sự thật, khi đem Ban Ðại Diện Học Sinh Phan Bội Châu vào với các tổ chức VC tại điạ phương trước năm 1975, chẳng qua cũng chỉ với mục đích bôi đen uy tín của những cựu học sinh Phan Bội Châu, đang tiếp tục con đường đấu tranh với cọng sản tại hải ngoại.  

            Trước ngày 1/11/1963 có rất ít học sinh PBC theo VC chứ không phải nằm vùng. Chẳng hạn như Phạm quỳnh Châu ở Long Hương, sau khi ra trường mới nhảy núi và mấy năm gần đây được đảng thưởng công, làm tới chánh văn phòng cho Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận. Còn Nguyễn Hội, Tăng Thị Nhu và nhất là Nguyễn Thị Kim Liên thì cũng lộ mặt hoạt động về sau. Cùng lắm như Liên chỉ mới dám để lộ một vài ẩn ý ca tụng VC như trong bài thơ “Ðường ta đi”, đăng trong tờ Bích báo của trường năm 1960 dưới đây :  

 

‘”Bạn hỡi bạn! khi mạch đời chuyển hướng 

vùng lên thôi, đừng ngủ giấc triền miên

nắng sớm mai khoe tươi thắm dịu hiền 

như ánh mắt, màu môi hồng em hé 

.. trước chúng ta hoa cũng nở vạn lần 

hồn non nước, hồn người xưa nhắc nhở. 

.. đường ta đi rộng thêng thang ai cấm 

tư tưởng ta, ai có thể cầm tù ?”  

 

            Theo các cơ quan an ninh trong tỉnh thì sau Tết Mậu Thân 1968, hầu hết học sinh nằm vùng trong trường Phan Bội Châu đều tự lộ mặt hay bị phát hiện như Phạm Hoài Châu ở Lương Sơn (Hòa Ða) và Trần Hửu Ðỉnh quê Lại An (Thiện Giáo), cả hai đã chết trước năm 1975. Ngoài ra còn có Trần Giao Hòa bị lộ khi theo học khóa Sĩ quan trừ bi Thủ Ðức nhưng đương sự đã chối, dùng chân chà đạp lên lá cờ VC cùng hình Hồ Chí Minh, nên sau này VC không còn tin dùng. Hiện nay Y là giáo sư đang dạy tại Trường Ðại học Y khoa, Sài Gòn. Thêm Nguyễn duy Kỳ là em ruột Nguyễn thị Cẩm ở Chợ Lầu. Lại có Trần Ngọc Châu hiện là Giám đốc Bệnh viện Phan Thiết... Tóm lại Trường Phan Bội Châu lộn xộn nhất trong thời kỳ 1965-1967 khi Ðinh văn Ðệ làm tỉnh trưởng, rồi lộ mặt trong Tết Mậu Thân và bị hốt trọn gói từ khi Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa về nhậm chức 1969-1975.  

            Nhờ Ðinh Văn Ðệ chống lưng nên tại Phan Thiết, VC địa phương cũng cấp tốc dàn dựng ra hai tổ chức hữu danh vô thực mang tên “Lực lượng học sinh Phan Bội Châu, tranh thủ hòa bình, độc lập, tự do” vào tháng 2-1966, qua cái xác của Ban Ðại Diện học sinh trong trường TH Phan Bội Châu Phan Thiết. Ngoài ra còn thêm cái gọi là “Lực lượng thanh niên sinh viên học sinh Bình Thuận” thành lập vào tháng 5-1966, cũng đánh lận từ cái tổ chức Thanh niên học sinh Phật tử Bình Thuận, mà Ngô Ðình Cường là Chủ Tịch và Lê Giao là phó.  

            Năm 1966 Hà Nội ban hành Nghị quyết 15 , xử dụng bạo lực ngay cả trong các trường học. Qua sự giúp đở ngầm của Tỉnh trưởng Ðệ, một nhóm đặc công do cán bộ VC Nguyễn Văn Minh cầm đầu được thành lập chuyên len lõi vào hàng ngũ học sinh các trường, nhất là những người sống trong vùng xôi đậu hay có thân nhân tập kết, nhảy núi... để tuyên truyền móc nối vào tổ chức. Tuy nhiên kết quả không có là bao dù VC đã dùng đủ mọi cách, kể cả bạo lực răn để hăm dọa gia đình các học sinh đang theo học ở tỉnh thành.  

            Xin hãy cảnh giác kẻ thù dấu mặt đang quẩn quanh khắp nơi, vì chúng ta xưa nay có nhược điểm là quá sợ mích lòng hay do dự trước sự thật, nên đã tạo thật nhiều cơ hội cho bọn phản trắc có điều kiện, trà trộn vào tổ chức, hội đoàn, bôi bẩn, gây chia rẽ trong hàng ngủ những người Quốc Gia chống Cộng, như đã thấy khắp mọi nơi tại hải ngoại.  

            Mới đây David Horowitz lên tiếng trên chương trình Fox News Channel, cũng như viết trong Tạp chí điện toán Front Page Magazine.com về cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Iraq, đã kêu gọi những sinh viên học sinh đừng tham gia vào các cuộc biểu tình phản chiến, vì đó là hành động tiếp tay giúp bọn khủng bố quốc tế hủy diệt nhân loại, trong đó có quê hương mình, như trước đây bọn phản chiến đã từng gây chết chóc và sự thất trận của Hoa Kỳ trong chiến tranh VN. 

            Nhờ phản chiến VC mới có cơ hội đô hộ được cả nước bằng chế độ cọng an toàn trị, bất nhân và dã man nhất trong dòng sử Việt. Nói một cách khác, những người phản chiến bất cứ ở đâu, trong cuộc chiến VN vừa qua đã là thủ phạm chính, cùng với cọng sản quốc tế Bắc Việt, đã gây ra bao cuộc chết chóc thảm khốc cho hằng triệu người, từ lính tới dân, của cả hai phía. Nhờ bọn phản chiến đem chiến thắng dâng vào tay VC, cho nên sau đó VC đã có dịp thảm sát hàng trăm ngàn người dân Miền Nam, trong số này có rất nhiều người dân Bình Thuận và học sinh trường Phan Bội Châu-Phan Thiết. Nhờ phản chiến, nên có hàng trăm ngàn người Miền Nam cả dân lẫn lính, người thường và các nhà tu hành, văn nghệ sĩ, bị nhốt vào các nhà tù vĩ đại của VC khắp nước, kể cả vùng biên giới Việt-Hoa-Lào-Kampuchia.   

            Bỗng thấy ngậm ngùi khi ngồi một mình trên căn gác lạnh, lắng nghe lại những bài hát phản chiến, kết tội chiến tranh một chiều của Trịnh Công Sơn, mà thấm thía nhất có lẽ là bài Ðại Bác Ru Ðêm “ Từng Chuyến Bay Ðêm con thơ giật mình, hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng từng đêm soi sáng lạ mắt quê hương. Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng của nhà VN, cháy đỏ cuối thôn..” ..  

            Rồi bộ mặt nằm vùng đã trơ trẻn lộ diện trước đám đông một thời ái mộ, ngay khi VC vừa cưởng chiếm được Miền Nam VN, bằng hành động lên Ðài phát thanh Sài Gòn, công khai hô hào “Nối Vòng Tay Lớn”, để bợ đít dâng công lấy điểm xí phần với đảng.

            Chưa hết, để xác định lập trường của mình suốt cuộc chiến, Trịnh Công Sơn tàn nhẫn ngay cả bản thân mình, khi tự tay đốt hết danh dự và tư cách của một con người qua những sáng tác như Huyền Thoại Mẹ, Em Nông trường em ra biên giới, Ra chợ ngày thống nhất, Ánh sáng Mạc Tư Khoa... bao nhiêu đó cũng đủ lắm rồi, để nói lên mặt thât của tên trí thức trốn lính , sống bằng sự đùm bọc và cơm áo của người miền Nam, nhưng lại dùng thiên tài âm nhạc của mình, để lừa bịp bạn bè, làm tay sai cho VC miền Bắc, đẩy những người khác vào cõi chết, để họ bảo vệ kiếp sống ký sinh của chính mình, qua cái trò hề phản chiến lợm giọng.  

            Hận thay cho những tên ăn chén đá bát, được miễn dịch trốn lính để đi học, nay lại được sống phè phởn trên đất tự do, lại thập thò theo VC phản nước hại dân, nằm vùng đâm sau lưng chiến sĩ và chính đồng bào gia đình mình. Nên đâu có ai thèm cải, khi báo chí VC khắp nước cũng như ở Bình Thuận-Phan Thiết, đã hết lời ca tụng bọn phản chiến nằm vùng ngày xưa là “Yêu nước Xã Hội Chủ Nghĩa” .

 

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

 

Tháng 8-2009   

 

Mường Giang

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: hoa95121@yahoo.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA