(nguồn
: danchimviet.com)
Thư ngở gởi
Ls. Nguyễn Đăng Trừng CNĐLS TP HCM
Thẩm Phán Phan Quang Tuệ
Thư ngỏ kính gửi Luật sư Nguyễn Đăng Trừng Chủ nhiệm Đoàn Luật
sư TP HCM
LTS:
Lá Thư Ngỏ dưới đây của Thẩm phán Phan Quang Tuệ, viết với tư
cách là Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam California, gửi đến ông
Nguyễn Đăng Trừng, Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư TP-HCM.
Sở dĩ có lá Thư Ngỏ này là vì – theo Thẩm phán Phan Quang Tuệ –
"quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của ông Lê Công
Định ngày 29 tháng 6, 2009 của Ban Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư TP-HCM
đã khai tử ngành biện hộ vừa chớm nở, tự tạo thêm những khó khăn
cho chính giới luật sư"
Trước năm 1975, ông Phan Quang Tuệ là sĩ quan Quân Pháp thuộc Bộ
Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp theo ông biệt phái về làm
việc trong văn phòng chủ tịch Tối Cao Pháp Viện cho đến 1975. Từ
15 năm qua, ông là thẩm phán liên bang Tòa Di Trú tại thành phố
San Francisco. Hiện là Chủ Tịch Hội Luật Gia VN
California
nhiệm kỳ 2007-2009.
Tôi viết lá thư ngỏ này đến Luật Sư Chủ Nhiệm với tư cách là Chủ
tịch Hội Luật gia Việt Nam California.
Hội Luật Gia Việt Nam California là một hội ái hữu mà đa số hội
viên là những thẩm phán đã từng phục vụ trong các ngành xử án,
công tố, và các luật sư thuộc Luật sư đoàn Toà Thượng Thẩm Sài
gòn, Huế trước năm 1975. Đa số nay đã về hưu, nhưng vẫn hằng
hướng về quê nhà và đặc biệt rất quan tâm đến tình hình tư pháp
cũng như sinh hoạt của ngành biện hộ trong nước. Thử so sánh chế
độ luật pháp hai miền trước năm 1975
Miền Nam Việt Nam đã trải qua hai chế độ Cộng Hoà từ năm 1955
đến năm 1975. Trong 20 năm ngắn ngủi, giữa chiến tranh và xáo
trộn triền miên, và trong những điều kiện hết sức khó khăn, miền
Nam Việt Nam đã thiết lập được những định chế lập pháp, hành
pháp, tư pháp, đặt nền móng căn bản cho những sinh hoạt trật tự
cần phải có của một tân quốc gia. Trong lãnh vực Tư Pháp đã có
Tối Cao Pháp Viện, Toà Thượng Thẩm Sài Gòn và Huế, các Toà Sơ
Thẩm tại các tỉnh. Tại Sài Gòn cũng như Huế đều có Luật Sư Đoàn
với các Luật Sư Thủ Lãnh có uy tín.
Miền Bắc lúc bấy giờ vẫn không có một hệ thống tư pháp ngoài Toà
Án Nhân Dân Đặc Biệt thành lập theo Nghị Định ngày 2 tháng Ba,
1953 theo chánh sách cải cách ruộng đất, phân chia giai cấp Trí,
Phú, Địa, Hào. Tiếp theo là Nghị quyết số 49 ngày 20 tháng Sáu,
1961 thành lập các Trung Tâm Cải Tạo. Hậu thân của Nghị Quyết
này là Nghị Quyết số 76 ngày 25 tháng Ba, 1977 hợp thức hoá việc
áp dụng các Trung Tâm Cải Tạo vào miền Nam Việt Nam. Biến cố
tháng Tư, 1975 đã kéo theo sự sụp đổ của chế độ Cộng Hoà Miền
Nam Việt Nam. Tất cả những thành quả thực hiện trong lãnh vực tư
pháp tại miền Nam Việt Nam đã tan ra mây khói.
Ngành biện hộ trong chế độ luật pháp xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Theo dõi đời sống luật pháp tại Việt
Nam
hiện nay phải khách quan mà nhận thấy nền tư pháp nước nhà vẫn
còn ở trong tình trạng sơ khai mặc dù chiến tranh đã chấm dứt
gần 35 năm.
Tôi có theo dõi những diễn biến trong nước, đặc biệt là các sinh
hoạt trong lãnh vực biện hộ. Tôi muốn đề cập đến Đại hội Nhiệm
kỳ VIII của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội ngày 27 và 28 tháng 9,
2008. Và kế đó là Đại hội Đại biểu Luật sư Đoàn Toàn Quốc ngày
11 tháng Năm, 2009 tại Hà Nội.
Theo báo cáo đọc tại Đại hội Đoàn Luật Sư Hà Nội [ĐLSHN] thì Hà
Nội đứng hàng thứ hai [sau Đoàn Luật sư TP
HCM],
có 1,128 luật sư hoạt động tại 265 văn phòng luật sư, 81 công ty
luật. Cũng theo báo cáo này, ĐLSHN có hơn 40 tiến sĩ Luật và hơn
60 Thạc sĩ Luật. Báo cáo tại Đại hội cho biết:
1- 99% luật sư không được cấp giấy chứng nhận bào chữa trong
vòng 3 ngày theo luật định. Tìm hiểu thêm thì thấy người luật sư
trong nước phải rất vất vả để có được mọi thứ giấy tờ trước khi
được cấp giấy chứng nhận bào chữa. 2- Trong nhiệm kỳ qua, Đoàn
Luật sư Hà Nội đã xoá tên ba luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công
Nhân và Lê Quốc Quân vì “đã có những bài viết, phát biểu đi
ngược lại đường lối, chánh sách của Đảng, Nhà Nước, vi phạm đạo
đức nghề nghiệp luật sư”.
Chiều ngày 27 tháng Chín, 2008 Đoàn Luật sư Hà Nội đã bầu ban
Chủ nhiệm mới, đứng đầu là luật sư Nguyễn Trọng Ty, sinh năm
1929 tức là 80 tuổi.
Vào ngày 19 tháng Giêng, 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký
quyết định số 76 phê duyệt đề án thành lập Tổ chức Luật sư Toàn
quốc lấy tên là Liên Đoàn Luật sư Việt Nam, trụ sở đặt tại Hà
Nội. Theo quyết định thành lập, Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam là
thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, phải tuân theo điều lệ
của Mặt Trận Tổ Quốc. Đại hội Đại biểu Luật sư đoàn Toàn Quốc
nhóm họp ngày 11 tháng Năm, 2009 tại Hà Nội. Tại Đại hội này
người ta được biết hiện nay cả nước có 5,334 luật sư và 2,000
luật sư tập sự. Đọc diễn văn tại Đại hội, Chủ tịch Nhà nước
Nguyễn Minh Triết tuyên bố: Luật sư phải độc lập.
Chỉ hơn một tháng sau, ngày 12 tháng Sáu, 2009, luật sư Lê Công
Định bị bắt. Ngày 18 tháng Sáu, công an công bố video clip hình
luật sư Lê Công Định đọc bản nhận tội và xin Nhà Nước khoan
hồng. Ngày 29 tháng Sáu, 2009, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP
HCM
ra quyết định xoá tên luật sư Lê Công Định khỏi danh sách của
Đoàn Luật sư TP HCM vì “đã có hành vi vi phạm pháp luật, đã bị
cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công an khởi tố và bắt tạm giam,
đã vi phạm luật luật sư và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp”. Ngày 30
tháng Sáu, đại diện Bộ Tư Pháp (??) đã tới nơi tạm giam ông Lê
Công Định để tống đạt quyết định thu hồi giấy phép hành nghề của
luật sư Lê Công Định.
Quyết định nói trên của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP HCM là lý
do dẫn đến lá thư ngõ này. Lá thư tuyệt đối không nhằm mục đích
chính trị, đả kích chế độ hay “tuyên truyền, nói xấu nhà nước”.
Mục đích thư ngõ này cũng chẳng phải để biện hộ cho luật sư Lê
Công Định vì tôi tin rằng nhà nước rồi ra sẽ phải trả tự do cho
ông ấy.
Điểm duy nhất tôi muốn đề cập trong lá thư ngõ này là quyết định
thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của ông Lê Công Định ngày 29
tháng 6, 2009 của Ban Chủ Nhiệm Đoàn Luật Sư TP-HCM.
Với quyết định này, mà theo tôi, không cần phải có, Ban Chủ
Nhiệm đã khai tử ngành biện hộ vừa chớm nở, tự tạo thêm những
khó khăn cho chính giới luật sư. Khi rút giấy phép hành nghề của
đồng nghiệp Lê Công Định, vô tình quý vị đã tự thu hẹp lãnh vực
hành nghề của tất cả các luật sư Việt Nam vốn đã vất vả trong
đời sống nghề nghiệp hàng ngày dưới chế độ luật pháp hiện nay
trong nước.
Phần kế tiếp của thư này sẽ có những đoạn trích dẫn bằng Anh
Ngữ. Tôi xin mạn phép để nguyên văn không phiên dịch.
Từ luật hình thức….
Tổ chức chuyên nghiệp được công nhận là lớn nhất của Hoa Kỳ và
của thế giới là American Bar Association [ABA]. ABA được thành
lập năm 1878 tại New York, có hơn 400,000 luật sư hội viên, với
trụ sở chính đặt tại Chicago, và văn phòng liên lạc tại Hoa
Thịnh Đốn.
Phần mục đích (Goals) hay sứ mạng (Mission) của Luật sư đoàn Hoa
Kỳ rất ngắn như sau:
“To serve equally our members, our profession and the public by
defending liberty and delivering justice…”
Và phần mục tiêu (Objectives) thì có những đoạn ghi như sau:
“Hold governments accountable under law.
….work for just law, including human rights, and a fair legal
process... Preserve the independence of the legal profession and
the juridiary.”
Nhưng điều mà tôi muốn đề cập ở đây là điều khoản quy định về
việc chấm dứt tư cách hội viên. Điều 3.3 (b) của Điều lệ và Nội
quy của ABA nói như sau:
“… A member who, by a final order or judgment (1) is convicted
of a felony or (2) is disbarred or suspended…. ceases to be a
member of the Association… For other good cause, after a hearing
at which the member is given reasonable opportunity to be
present with counsel and be heard in his or her own defense, a
member may be censured, suspended, or dropped from membership by
the Board of Governor.”
Hẳn nhiên đây là một điều khoản của một Bản Điều Lệ của một tổ
chức Mỹ. Nhưng ABA là một tổ chức đã hiện diện trên 130 năm.
Điều lệ và nội quy sinh hoạt của tố chức này đã được thử thách
qua thời gian. Và thực ra hầu như tất cả các tổ chức trên thế
giới ngày nay đều theo những nguyên tắc tương tự khi quy định về
vấn đề chấm dứt tư cách hội viên. Đó là khi hội viên bị tuyên án
phạm một trọng tội, và bản án là án chung thẩm. Trong tất cả mọi
trường hợp khác, hội viên bị đơn phải có cơ hội được biện hộ bởi
luật sư trước khi bị kỷ luật.
Quyền được biện hộ, hay bào chữa là một thành tố của quyền được
xét xử công khai và công bằng. Tại Pháp quyền này có từ thời Bộ
Luật Nã Phá Luân năm 1808 (Napoléon Code of Criminal
Instruction), tại Anh từ năm 1836 (Prisoner’s Counsel Act), tại
Hoa Kỳ từ năm 1791 với Tu chính án thứ VI trong 10 Tu chính án
được biết đến như là Đạo luật Công Dân Quyền (Bill of Rights).
Những nguyên tắc nói trên nằm trong phạm vi lãnh vực luật hình
thức, một yếu tố không có không được (sine qua non) của Quy
Trình Pháp Luật (Due Process of Law), phân biệt với luật nội
dung. Nguyên tắc giải thích, và từ đó để áp dụng luật pháp, là
luật hình thức phải được áp dụng một cách chặt chẽ, khác với
luật nội dung trong đó nhà áp dụng luật phải dựa vào án lệ,
thông luật và sau cùng truy tìm ý định của nhà lập pháp khi lời
hành văn của điều luật tối nghĩa.
Dựa theo những nguyên tắc trên, quyết định thu hồi chứng chỉ
hành nghề của luật sư Lê Công Định bởi Ban Chủ nhiện Đoàn Luật
sư TP HCM là một quyết định bất hợp pháp, và vì thế, vô hiệu.
Luật sư Lê Công Định, cho đến nay, không bị tuyên án phạm tội
bởi một bản án chung thẩm nào. Điều gọi là lời thú tội, trong
khi bị can còn bị giam giữ, là môt lời thú tội bị xem như là ép
buộc (confession by coercion, under duress) cho đến khi bản thú
tội được kiểm chứng qua một cuộc đối chứng trong một phiên toà
công khai. Những người thu âm và thu hình bản thú tội phải bị
truyền ra toà, lý lịch (ngày sanh tháng đẻ, nghề nghiệp, hồ sơ
hình sự) phải được kiểm chứng bởi luật sư biện hộ. Hai vị tướng
công an phải ra toà để khai về lý do cuộc họp báo ngày 18 tháng
Sáu.
Và vì không hề, cho đến nay, bị tuyên án phạm tội bởi một bản án
chung thẩm, luật sư Lê Công Định không thể bị rút quyền hành
nghề mà không được bào chữa trong một phiên xử trong đó ông được
quyền có một thời gian vừa phải để chuẩn bị. Thi hành việc tống
đạt quyết định thu hồi giấy phép hành nghề trong khi bị can còn
bị quản thúc, với hạn 15 ngày để trả lời, cho một quyết định
hiệu lực kể từ ngày ký (trước ngay cả ngày tống đạt), thì cả
quyết định, lẫn “trình tự” đưa ra, thông qua (nếu có), và tống
đạt đều vô hiệu.
Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP-HCM
phải tự động (sua sponte) thu hồi cả quyết định lẫn lệnh tống
đạt. Chờ cho đến khi hoặc có bản án chung thẩm, hoặc nếu không,
khởi sự lại từ đầu thủ tục tống đạt. Kết luận, ông Lê Công Định
vẫn giữ toàn quyền hành nghề luật sư theo luật lệ hiện hành tại
Việt Nam.
…. đến luật nội dung
Theo hai cuộc họp báo của Công an vào ngày 13 và 18 tháng Sáu,
2009 thì luật sư Lê Công Định ‘‘đã âm mưu lật đổ nhà nước bằng
phương pháp bất bạo động và lợi dụng việc biện hộ của thân chủ
để nói xấu Nhà Nước’’.
Điều 88 thuộc trong 15 điều khoản trong Chương XI quy định về
các «tội xâm phạm An ninh Quốc gia’’ của Bộ Luật Hình Sự. «An
ninh Quốc gia” là nhóm danh từ được các chế độ cộng sản sử dụng
như là một tấm chắn che chở và bảo vệ chế độ. Nhận xét này là sự
thật đã được lịch sử cận đại chứng minh, không phải là tuyên
truyền nói xấu chế độ. Luật pháp cộng sản, hay xã hội chủ nghĩa
dưới thời Stalin ở Nga sô, Honecker ở Đông Đức, Jaruzelski ở Ba
Lan, Fidel Castro ở Cuba, Daniel Ortega ở Nicaragua, Milos Jakes
ở Czecholovakia, Nicolae Ceaucescu ở Romania, Mao Trạch Đông ở
Trung quốc, và Hồ Chí Minh và những người kế vị hiện nay ở Việt
Nam đều rập khuôn như nhau. Tuyệt đại đa số các chế độ trên đã
sụp đổ, những điều khoản tương tự như điều 88 đã lỗi thời, ngoại
trừ trường hợp thiểu số rất nhỏ trong đó có Việt Nam.
Điều 88 có phải là một điều khoản luật pháp hay không ?
Tục ngữ luật pháp La Tinh có câu ‘‘Nulla Poena Sine Lege’’. Luật
sư chủ nhiệm đã từng theo học tại Đại Học Luật Khoa Saigon trước
đây chắc còn nhớ nguyên tắc hình luật căn bản này. ‘‘Pas de
peine sans lois.’’. Không có luật pháp thì không có tội. Vấn đề
của điều 88 là tính cách quá mơ hồ của điều khoản này. Thế nào
là tuyên truyền chống Nhà Nước? Thế nào là tuyên truyền phỉ
báng? Thế nào là tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý
gây hoang mang trong nhân dân? Hình luật là một lãnh vực mà hình
phạt là lấy đi tự do và cả đời sống của con người, không thể
được điển chế một cách tổng quát, mơ hồ và xử dụng như một màng
lưới để Nhà Nước tùy tiện xử dụng nhằm bịt miệng người dân.
Trong lãnh vực luật quốc tế về nhân quyền, có hai quyền được
công nhận, đó là quyền tự do lập hội và quyền tham dự vào các
hoạt động của nhà nước.
Điều 20 (1) của Tuyên Ngôn Quốc Tế và Nhân Quyền (The Universal
Declaration of Human Rights) nói như sau: ‘‘Everyone has the
right to peaceful assembly and association.’’ Điều 21 (1):
‘‘Everyone has the right to take part in the government of his
country….’’ Điều 21 (3): ‘‘The will of the people shall be the
basis of the authority of government.’’
Điều 25 của Công Ước Quốc Tế về những quyền dân sự và chính trị
(International Covenant on Civil and Political Rights) nói như
sau: ‘‘Every citizen shall have the right and opportunity…
without any unreasonable restrictions… to take part in the
conduct of public affairs, directly or through freely chosen
representatives…, to vote and to be elected at genuine periodic
elections which shall be universal and equal suffrage and shall
be held by secret ballot, guaranteeing the free expression of
the will of the elector.’’
Điều 11 của Hiệp Định Paris ngày 27 tháng Giêng, 1973, viết như
sau: ‘‘Immediately after the cease-fire, the two parties will
achieve national reconciliation and concord, end hatred and
emmity, prohibit all acts of reprisal and discrimintion against
individual or organization that have collaborated with one side
or the other ; ensure the democratic liberties of the people:
personal freedom, freedom of speech, freedom of the press,
freedom of meeting, freedom of political activìties, freedom of
residence, freedom of work, right to property ownership and
right to free enterprise. »
Theo những tiêu chuẩn trên thì điều 88 một mặt qúa mơ hồ, tối
nghĩa, mặt khác đi ngược lại với luật và thoả ước quốc tế mà Nhà
Nước hiện nay đã là hội viên ký kết. Do đó điều 88 không phải là
một điều khoản mang tính cách luật mặc dầu được khoác lên chiếc
áo như là một điều luật.
Trong chương XI của Bộ Luật Hình Sự nói về các tội xâm phạm an
ninh quốc gia thực ra chỉ có một điều khoản là được viết khá rõ
ràng. Đó là điều 81 quy định tội xâm phạm an ninh lãnh thổ. Điều
này phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, hoặc tù chung thân
«những người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch
đường biên giới quốc gia, hoặc có hành động khác nhằm gây phương
hại cho an ninh lãnh thổ...’’. Đường biên giới quốc gia đã bị
làm sai lệch, lãnh thổ, lãnh hải đang bị xâm nhập mà sao không
thấy những giới chức có trách nhiệm bị truy tố, lại truy tố
những kẻ muốn hành xử quyền phát biểu ý kiến những vấn đề trọng
đại chung của đất nước?
Mối Liên Hệ đặc biệt giữa Luật Sư và Thân Chủ (Attorney-Client
Privilege)
Những bằng chứng dùng để bắt giam và buộc tội Luật Sư Lê Công
Định còn có việc Luật Sư Định bị tố cáo đã ‘‘lợi dụng việc biện
hộ cho các thân chủ để nói xấu Nhà Nước’’!
Tuy đã phục vụ 5 năm trong Ngành Tư Pháp trong nước trước 1975,
và làm việc trong ngành công tố và xử án tại Hoa Kỳ hơn 30 năm,
tôi chưa từng đọc thấy một lời tố cáo lạ kỳ như vậy. Nhiệm vụ
của luật sư là biện hộ cho thân chủ. Để hoàn thành trọng trách
này thì theo tập quán và luật lệ ở các quốc gia văn minh, những
tin tức từ những tham khảo, trao đổi, phỏng vấn, kể cả khế ước
giữa luật sư và thân chủ đều được bảo vệ bởi điều được gọi là
attorney-client privilege. Về phần biện hộ thì giữa phiên toà
công khai, vị thẩm phán chủ tọa phiên xử là người điều khiển
phiên tòa. Lời khai nhân chứng, chứng từ, tài liệu xuất trình,
tranh luận giữa luật sư nguyên đơn và bị đơn nếu là vụ án dân
sự, công tố và biện hộ nếu là hình sự, biện hộ kết thúc (closing
arguments), đều dưới quyền của vị thẩm phán ngồi xét xử, dựa
theo luật lệ, và thủ tục tập quán địa phương (statutes,
regulations, local rules and procedures). Ông ta có thể tạm
ngưng phiên xử, truyền luật sư đôi bên vào phòng nghị án. Ông ta
cũng có thể tạm ngưng phiên xử công khai, chuyển qua thành phiên
xử kín vì lý do an ninh, hay vì quyền lợi công cộng (public
interest). Ông ta có thể, trong một ít trường hợp, khuyến cáo
hay khiển trách luật sư đôi bên. Tất cả những diễn biến này đều
được ghi lại bằng tốc ký (ngày xưa), máy thu âm (ngày nay cũng
đã lỗi thời, được thay thế bằng hệ thống Digital Audio
Recording, DAR) hay Video (cả thu hình lẫn thu âm).
Xem như thế, không thể nào buộc tội một luật sư đã: ‘‘lợi dụng
việc biện hộ để nói xấu Nhà Nước’’ được. Vì nếu như vậy thì bỏ
luôn vai trò biện hộ cho xong. Nếu chấp nhận lời tố cáo của công
an là luật sư Lê Công Định vi phạm điều 88 vì ‘‘đã lợi dụng biện
hộ cho thân chủ để tuyên truyền nói xấu Nhà Nước’’ thì quý vị đã
biến công an thành công tố, biến công tố thành xử án, và tự hủy
vai trò biện hộ của tất cả luật sư trong nước từ Nam chí Bắc.
Trong một bài diễn văn đọc trước Luật Sư Đoàn Hoa Kỳ ngày 12
tháng 2, 1984, Thấm Phán Tối Cao Pháp Viện Warren E. Burger, Chủ
Tịch TCPV lúc bấy giờ đã nói như sau:
‘‘Doctors…. still retain a high degree of public confidence
because they are perceived as healers. Should lawyers not be
healers? Healers, not warriors? Healers, not procurers? Healers,
not hired guns’’
Cách đây một năm thế giới đã chứng kiến hàng ngàn luật sư tại
Hồi Quốc xuống đường phản đối chính phủ Hồi đã lạm quyền cách
chức vị Chủ Tịch TCPV của Hồi Quốc. Hình ảnh các luật sư bị đánh
đập, văn phòng làm việc bị đập phá được chiếu trên màn ảnh
truyền hình khắp nơi trên thế giới. Nhưng họ đã nhất quyết đoàn
kết và giữ vững lập trường. Và sau cùng vị chủ tịch TCPV đã được
trở lại nhậm chức, ngành tư pháp của Hồi Quốc, Luật Sư Đoàn Hồi
Quốc vẫn duy trì được tư thế độc lập của mình. Trong suốt thời
kỳ tranh đấu, Luật Sư Đoàn Hồi Quốc đã bị áp lực rất nhiều nhưng
không có ai bị thu hồi giấy phép hành nghề!
Đoàn Luật Sư TP-HCM
cần thu hồi ngay quyết định rút giấy hành nghề của Luật Sư Lê
Công Định.
Bài do tác giả gởi đến Đàn Chim Việt Online
http://danchimviet.com/articles/1299/1/Th-ng-gi-Ls-Nguyn-ng-Trng-CNLS-TP-HCM/Page1.html