đăng ngày: 14.7.2009

ß Trờ về

(để được đăng trọn hai phần của bài viết, HT đã copy từ trang web talawas blog. Xin cám ơn!)  

 

http://www.talawas.org/?author=552

Nguyễn Hoàng Văn - “Cặc” như là lãnh tụ (1)

05/07/2009 | 10:00 sáng |

Tác giả: Nguyễn Hoàng Văn

Có những lúc lẩn thẩn tôi tự hỏi mình là, giả như, chiến tranh mà diễn ra đúng như mong đợi của mấy nhân vật trẻ trong Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh của Erich Maria Remarque thì số phận chúng ta hôm nay sẽ như thế nào. Nếu chiến tranh nên là trò chơi sòng phẳng của những kẻ say mê chiến tranh để không gây phiền lụy đến người không chia sẻ cùng sở thích thì may ra cặp song đấu Hồ Chí Minh - Lyndon Johnson sẽ giải quyết nó cái ào. Một xanh cỏ, hai đỏ ngực, cả hai sẽ giải quyết đâu vào đó, chóng vánh, gọn gàng, có đâu rề rà co kéo mất thì giờ, tới tận hôm nay?

Mà ông Johnson, kẻ quyết định đưa quân vượt qua hai bờ Thái Bình Dương rồi cho máy bay vượt qua hai bờ Bến Hải, đã, trong giây phút “thật” nhất, phá vỡ cái vỏ bọc lịch lãm của nhà lãnh đạo quốc gia để bộc phát những ẩn ức sâu kín về trận sống mái tay đôi ấy rồi. Khi bị nhóm phóng viên bám dai như đỉa với mấy câu hỏi lằng nhằng về cuộc chiến thì nhà lãnh đạo đường bệ đã nổi cáu vạch cặc ra, xẵng giọng rằng cặc của Hồ Chí Minh có bự bằng cặc của ông không. [1] Ông ta, trong một lúc cao hứng khác, còn bốc lên rằng ông không “chơi” mà “cắt cặc” đối phương, không cho đối phương đứng đái như một người đàn ông chính hiệu mà phải ngồi xuống đất, không quá ba ngọn cỏ. [2]

Hẳn là ông Johnson tự tin với dương vật của mình lắm. Và hẳn là đối thủ của ông không có được cái sự tự tin tương tự. Mà tin hay không tin vào tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh vẫn vậy. Tin vào các tài liệu tuyên truyền thì ông ta là người không có cơ quan sinh dục. Còn nếu tin vào các tài liệu bên ngoài sách vở tuyên truyền thì dẫu có, ông ta cũng mang trên thân thể một thứ dương vật mà mình không thể nào làm chủ. Máy móc ca ngợi ông ta thì cái bộ máy tuyên truyền toàn trị ấy đã, vô hình trung, biến cái bộ phận ấy thành một cơ quan bài tiết khi, suốt cả cuộc đời ông ta, chỉ cho phép ông ta sử dụng nó vào mỗi một việc là… đi tiểu. Đi chệch ra khỏi các tài liệu tuyên truyền thì ông ta cũng chưa bao giờ làm chủ được cái ấy mà cứ “thấy thiếu thiếu”, cứ dấm dúi vụng trộm, lấn ca lấn cấn, khổ sở như một nhà sư không thoát nổi nợ trần. [3] Người đàn ông nào cũng có một con cu riêng, dành cho những nhu cầu và nghĩa vụ thầm kín thực riêng, nghĩa là cực kỳ tư hữu. Còn lãnh tụ cộng sản đặc biệt của chúng ta thì cả con cu cũng phải là… cộng sản, cũng phải là một tài sản công hữu để ông ta, cao cả và vĩ đại, đem toàn bộ con người và cuộc đời ra cống hiến cho sự nghiệp và lý tưởng chung, cái lý tưởng tận diệt cái riêng.

Hiện tượng “lãnh tụ vĩ đại”, như thế, còn là một hiện tượng vong thân. Lãnh tụ tổ chức nên một hệ thống toàn trị nhưng lại để chính cái hệ thống ấy… toàn trị cái phần “đàn ông” nhất của con người mình. Lãnh tụ hô hào khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” cho cả dân tộc nhưng không thể “độc lập tự do” với con cu của mình. “Cha già dân tộc”, như thế, là một hiện tượng lịch sử độc đáo. Lịch sử chỉ có những câu chuyện về những ông vua hoang dâm trên ngai cao và đám hoạn quan không thể làm đàn ông bên dưới nhưng mặc sức thao túng nền chính trị thâm cung. Hiện tượng “lãnh tụ vĩ đại” thì khác với một “hoạn vương” trên ngôi cao và một đám đực quan tung hoành với cả quyền làm giống đực lẫn quyền thao túng thế giới chính trị thâm cung. [4] Không nói đến những tài liệu khó kiểm chứng, những tài liệu công khai trên hệ thống truyền thông toàn trị về đời tư của “học trò xuất sắc” Lê Duẩn đã nói lên cái quan hệ lạ lẫm ấy rồi. [5] Và như thế thì, bề nào, tin hay không tin hệ thống tuyên truyền, cái gọi là “dương vật” của “cha già dân tộc” cũng chẳng thể nào xứng đáng với chữ “dương”.

Không xứng với “dương” thì còn lại “cặc”, “buồi” nhưng sự thể cũng chẳng hề đơn giản bởi cách biệt giữa chúng không đơn thuần là… tiếng nói. Như David Friedman đã tổng kết trong A Mind of Its Own: A Cultural History of the Penis thì dương vật của chúng ta không chỉ là một bộ phận trên thân thể mà còn “hơn thế nữa”. [6] Là “cái biểu đạt” đầu tiên của nam giới và là cái biểu đạt đầy tính gây hấn, dương vật của chúng ta còn là một tư tưởng, một biểu tượng, một ký hiệu mạnh mẽ luôn được thể hiện bằng những biểu tượng khác nó. Nếu biểu tượng hay ký hiệu nào cũng đóng vai trò của những dấu ấn văn hoá thật đặc trưng thì đâu là những “dấu ấn đặc trưng” đó của “cặc” và “buồi”, như là hai ký hiệu ngôn ngữ? Và với hai “ngôn ngữ” về cùng một bộ phận đàn ông như thế, cái “đàn ông” trong chúng ta đã hiện hữu theo hai cách khác nhau như thế nào? Có hiện hữu thì chúng ta, nói như những nhà cấu trúc luận, hiện hữu thông qua ngôn ngữ và, đến lượt thì ngôn ngữ, như một cấu trúc thống trị, ràng buộc chúng ta như những tù nhân, không cho chúng ta suy nghĩ đến bất cứ điều gì nằm bên ngoài những quy tắc của nó. Vấn đề, do đó, còn là những ràng buộc từ “quy tắc ngôn ngữ” của “cặc” và “buồi” nữa.

Vậy thì phải ôn lại lịch sử của hai tiếng ấy. Khi “cặc” chính thức lưu lại cho đời sau bằng văn tự vào giữa thế kỷ 17 thì “buồi” vẫn chưa có mặt. Chỉ có “bòi”, tồn tại song song. Hơn hai trăm năm mươi năm sau đó cũng chỉ cặp sinh đôi “cặc”/”bòi” còn “buồi” vẫn chưa có giấy khai sinh, phải đợi đến năm 1931 khi Hội Khai Trí Tiến Đức… khai trí cho người Việt rằng “địt” cũng bao hàm luôn nghĩa “đụ”. [7] Kể ra thì ngày hôm nay “bòi” vẫn thoi thóp sống còn nhưng cái chính vẫn là “buồi”. Sinh sau đẻ muộn nhưng “buồi” lại là tiếng nói chính của miền Bắc khai nguyên trong khi “cặc” cha ông để lại thì chuyển hẳn vào vùng đất mới phía Nam và, nếu có vướng víu, cũng chỉ trụ lại Nghệ - Tĩnh như là cái bản lề của hành trình Nam tiến: chia cắt Nam/Bắc của hôm nay cũng chính là chia cắt “cặc” / “buồi”.

Đáng chú ý là những ý nghĩa địa lý- chính trị và “siêu lịch sử” trong chia cắt ấy khi mà, cả thời gian lẫn không gian, chia cắt “cặc”/ “buồi” hoàn toàn song song với chia cắt “đụ”/”địt”. Cùng với “địt” sinh sau, “buồi” đẻ muộn bắt rễ ở vùng đất từ Thanh Hoá trở ra trong khi “cặc” cha ông để lại sống mãi với phần đất “đụ”, cũng của cha ông để lại. Nếu cái thời của sự phân hoá “đụ/”địt” cũng là cái thời của những phân hoá gay gắt trong thái độ yêu nước khi cuộc cách mạng giải thực xoay trở thành một thứ chính trị giải thực thì phân hoá “cặc”/ “buồi” này có thể hiện được những ý nghĩa tương tự? [8]

Thế thì phải chú ý đến những ý nghĩa cụ tượng và biểu âm. Nếu “cặc” và “bòi” hiện diện song song, đại diện cho hai trạng thái cứng/mềm của sinh thực khí thì “buồi” xuất hiện như cái gì đó mang tính… quá độ. [9] “Cặc” bật ra dứt khoát, cứng cáp, “bòi” mềm mại thu mình. Khi chúng ta nói “cặc” thì âm “ặc” bật ra nhanh, mạnh với âm hưởng dừng lại ngay khi luồng hơi vừa bắn qua làn môi, nghĩa là xẹt qua như một thứ sao băng. Khi chúng ta nói “bòi” thì làn hơi như xoay xoay và, dù có thoát ra, âm hưởng cũng chỉ lẩn quẩn kề bên cửa miệng. Không còn là “bòi” mà chưa thể là “cặc”, “buồi” là một thứ “bòi” đã bung ra, chầm chậm ban đầu nhưng bền chắc dài lâu với làn hơi đi xa cơ hồ hạng nhất. Như là “đụ”, “cặc” bật ra: như đâm, như chém. Như là “địt”, “buồi” từ từ lựa thế chui sâu: hiệu quả, chắc ăn. [10]

Chỉ so sánh “con cặc” trong câu thơ tả cảnh hộ đê ở miền Bắc của Nguyễn Thiện Kế, nhà thơ trào phúng nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20:

Trên đê cụ lớn văng con cặc

Dưới đất thầy cai thượng cẳng tay

với “buồi” trong câu ca dao chắc chắn cũng nẩy sinh trên đất Bắc:

Thuận buồm xuôi gió chén chú chén anh

Lên thác xuống ghềnh buồi anh dái chú

là chúng ta có thể thấy cả một trời vực cách biệt ở hai tiếng nói đại diện cho cùng một bộ phận ấy rồi. Khi cụ lớn sang sảng trên đê thì “cặc” là biểu hiện của quyền lực: nó ngang ngược, nó ngạo nghễ, và nó tự tin, bất cần đời. Nhưng khi những anh và chú bắt đầu “buồi”, “dái” với nhau trong cảnh “lên thác xuống ghềnh” thì cái vẻ khinh thế ngạo vật kia đã biến mất và chỉ còn lại những dấu hiệu xuống nước, quy phục trước đời. Nếu “lên thác xuống ghềnh” ngụ ý một tình thế nhiễu nhương, ngụ ý sự phát sinh của những khó khăn không lường trước thì cảnh “buồi anh dái chú” thể hiện tình trạng chia rẽ và bất hoà ở đó người ta hục hặc hơn thua với nhau, ngoa ngoắt quy lỗi lẫn nhau, cay cú trút bỏ trách nhiệm lên đầu nhau.

Thế có nghĩa là làm… chính trị với nhau. Nếu chính trị còn ngụ ý một trò rình rập ở đó những tay chơi luôn tìm cách che đậy thực lực để bất ngờ tung cú đấm quyết định vào thời khắc quyết định thì sự phân hoá trong cách văng tục “cặc”/”buồi” cũng biểu lộ cái ý thức đầu cơ đó rồi. “Con cặc” và “Cái đầu buồi”. Khi “văng cặc” ra như thế thì chúng ta đã phơi bày toàn thân nó ra, hiên ngang và khí phách, không sợ gì phải giấu. Nhưng khi chúng ta e dè ló cái “đầu” bề mặt như là quả bóng thăm dò thì, cơ hồ, chúng ta đã ngại ngần lo xa, đã cảnh giác che chắn lực lượng ở phía sau như một thứ trung quân và hậu quân dự bị. “Cặc” ngửng cao đầu thách thức còn “buồi” nhẫn nhịn đợi thời. Khoảng cách giữa “cặc” với “buồi”, do đó, cũng chính là khoảng cách giữa “đụ” và “địt”. Nếu “đụ” phang ngang, “thấy đã là làm, vô tư theo bản năng” thì “cặc” mạnh mẽ, dứt khoát và ngạo nghễ, tự tin, rất là bản năng. Nếu “địt” từ tốn nhưng có hậu “đã làm phải đã” một cách rất là chính trị thì “buồi”, cũng từ tốn chờ thời, cũng không kém phần… chính trị. “Buồi”, xem ra, là một thứ “cặc” sặc mùi cơ hội chủ nghĩa. Và như thế, nếu “cặc” cùng “đụ” đóng vai một thứ ngôn ngữ của “hành động” thì “buồi”, cũng như “địt”, lại là ngôn ngữ của sự đầu tư tính toán để hướng tới cứu cánh. [11]

Hướng tới cứu cánh thì có nghĩa là, nếu cần, có thể xem nhẹ và, thậm chí, hy sinh hiện tại. Che đậy thực lực, chờ thời để hướng tới kết quả cuối cùng thì cũng có nghĩa là, bằng cách nào đó, và trong những tình huống nào đó, có thể tự bỉ báng, tự hạ thấp chính mình. “Buồi”, phải chăng, là một thứ “cặc” đã nhạt phần nam tính, một dương vật đã lệch về phía âm?

Không nhiều nhưng cũng có một số chứng lý khá là thuyết phục để nghiêng về một nhận xét như thế lắm, như những thông điệp sau lời văng tục “cặc” và “buồi”, chẳng hạn. Nếu “cặc”, phần lớn, được sử dụng như một sự thách thức, một sự phủ nhận hay một sự phô trương lực lượng kiểu “Con cặc của tao đây” thì “buồi”, với “Dí buồi vào mồm”, đã không thể hiện sự thách đố hay gây hấn đó mà, tệ hơn, đã tự hạ thấp, tự xem thường “buồi” mình. Và khi chúng ta đem “buồi” ra “dí” vào mồm của một kẻ mình xem không ra gì thì cũng có nghĩa là nó đã bị chúng ta xem như là thứ gì bẩn thỉu. Đưa một phần thân thể của mình ra như thứ gì hạ tiện và dơ dáy để bỉ thử hay để nhét vào mồm người khác thì tư thế văng tục đã trở thành tư thế chửi bới, rất là… đàn bà.

Đó là một chứng lý. Trong một chứng lý khác thì, với hai câu ca dao:

Chồng người đi ngược về xuôi

Chồng em ngồi bếp để buồi ăn gio

và:

Sáng trăng vằng vặc

Vác cặc đi chơi

Gặp con vịt trời

Giương cung định bắn

Gặp cô yếm thắm,

Đội gạo lên chùa

Giơ tay bóp vú…

chúng ta cũng có thể thấy được hai sự “hiện hữu” khác nhau của cùng một bộ phận qua hai ký hiệu ngôn ngữ khác nhau. Kể ra thì còn có một dị bản khác là “chấm gio” thế nhưng “chấm” hay “ăn” cũng thế, cũng chỉ là hình ảnh xác xơ rũ rượi của một con “buồi” thõng đầu xuống đống tro trong xó bếp, nơi mà, theo quan niệm truyền thống, chỉ dành riêng cho nữ giới. Nó khác với “cặc” ngang dọc tung hoành ở thế giới rộng lớn bên ngoài và, thậm chí, còn lăm le “bắn” lên trời.

Thì “bắn” lên trời. Nếu dương vật là cái biểu đạt đầu tiên của phái nam và là cái biểu đạt đầy tính gây hấn thì hình ảnh trên đã vươn tới tính nhân loại và đã nghiễm nhiên là một thứ dương vật toàn cầu. Nếu “cái biểu đạt đầu tiên” ngụ ý dấu hiệu ban đầu để phân loại đứa bé sơ sinh là nam thì, đến lượt, “nam giới” sẽ là một tiêu chí quan trọng để xếp loại đứa bé ấy lần nữa, dí nó vào những chọn lựa mang tính “gây hấn”, những phần việc “săn bắt” hay “đấu chọi” nguyên thuỷ hay hiện đại. Như thế, khi gã đàn ông “vác cặc” lăm le “giương cung định bắn” thì gã ta đã bộc lộ những ẩn ức “gây hấn” qua ám ảnh vũ khí mà, ngay sau hình ảnh vũ khí đó, lại là hình ảnh của một “cô yếm thắm”. “Yếm” là dải vải bao bọc bầu ngực phụ nữ. “Thắm” thì, bên những ý nghĩa về màu sắc, luôn ngụ ý những gì đẹp đẽ và tích cực, như là “thắm thiết” hay “thắm tình quê” v.v… Khi mà ấn tượng đầu tiên sau ám ảnh vũ khí là bầu ngực đẹp của người phụ nữ thì đó chính là một ám ảnh đầy nam tính, một ám ảnh thực cân bằng với bản năng truyền giống và bản năng khoái lạc. Như thế, so với “buồi” rũ đầu xuống “ăn gio” hay “chấm gio” trong xó bếp thì “cặc” bay bổng tung hoành, tràn trề sức sống.

Đó có lẽ là một trong những lý do đã khiến Trần Dần chọn “cặc” chứ không trung thành với “buồi” như đã ghi lại trong Ghi. Và có nhận ra những điều như thế thì mới hiểu tại sao nhà thơ đầy cá tính của đất Bắc đã không “Nắm, nắm cái đầu buồi” mà “Nắm, nắm con cặc”. [12]

Thì cứ cho là Trần Dần văng tục. Nhưng nếu nói tục là một thói quen thì văng tục - như một hành động bộc phát, nhất thời và thiếu kiềm chế - lại là sự giải phóng những ẩn ức dồn nén sâu trong vô thức bởi những cấm kỵ mang tính định chế. Không chỉ bị giam trong cấu trúc ngôn ngữ, như những con người tự do, bất cứ ai trong chúng ta cũng bị giam hãm trong nhà tù của những tư tưởng hay định kiến đã hình thành nhưng, nếu cần, và nếu muốn, chúng ta đều có thể tìm cách luồn lách hay phần nào vùng thoát khỏi sự giam hãm ấy như là những con người có chủ kiến. Hoàn cảnh của nhà thơ thì khác. Không chỉ bị giam trong nhà tù của những giáo điều mang tính định chế, ông ta còn bị “dí” những thứ ấy vào đầu, bị buộc phải “nắm” như một người không được quyền có riêng chủ kiến. Trên thì “dí giáo điều vào đầu”. Dưới thì “dí buồi vào mồm”. Trong cái xó bếp của giáo điều như thế thì, muốn vùng thoát như một con người có chủ kiến, nhất định nhà thơ phải vùng thoát như là một người có “cặc”.

Vậy thì “có cặc”, phải chăng, là điều kiện cần của… “có chủ kiến”?

Hẳn nhiên đây không phải là một thứ điều kiện chính xác kiểu toán học thế nhưng, như có thể thấy qua những luận điểm đã nêu, muốn “văng cặc” thì phải có “cặc”. Có “cặc” ngụ ý cái sự dám là mình. Có chủ kiến cũng ngụ ý cái sự dám là mình. Dám “văng cặc” là tự tin, là dám khẳng định mình, dám đối đầu chứ không nhẫn nhịn chờ thời như những nhà cơ hội chủ nghĩa. Như thế, nếu bộ phận sinh dục của “cha già dân tộc” không hề xứng với chữ “dương” thì nó cũng không xứng để đứng tên khai sinh là “cặc”. 

(Còn 1 kì)

© 2009 Nguyễn Hoàng Văn

© 2009 talawas blog

Tiểu sứ chính thống và phi chính thống của “cha già” dễ làm chúng ta nghĩ đến những phân tích của Michel Foucault trong những trang đầu của The History of Sexuality: The Will to Knowledge về thời kỳ “thanh tẩy” mang tên Victoria tại Anh. [13] Đó là những quý ông đạo mạo, trang nghiêm. Đó là những kẻ ngoài mặt thì ra bộ phớt tỉnh Ăng-lê như thể khoái lạc tình dục là thứ không hề tồn tại trên đời nhưng lòng thì điên lên, quằn quại với những ám ảnh dồn nén cực độ. Nếu Freud cho rằng ông ta có thể “bình thường hoá” sự lệch lạc đó bằng cách tạo cơ hội để những đối tượng trên “xả” hết những ẩn ức dồn nén thì Foucault thận trọng nêu lên những dấu hỏi ngờ vực. Khi còn phải diễn tả cái dục vọng bị dồn nén của mình bằng ngôn ngữ giao tiếp bình thường thì làm sao những “con bệnh” kia có thể bộc lộ hết độ dày của sự dồn nén? Cái mà Foucault hướng đến là một “diễn ngôn” tương xứng về tính dục và khoa học về tính dục, theo ông, vẫn đi sau khoa học về sinh vật nói chung rất xa. Thế nhưng yếu tố đáng quan tâm ở đây lại là quyền lực. Khi vị bác sĩ ngồi nghe bệnh nhân “mở tấm lòng” với những ẩn ức của mình, xem ông ta như là vị cứu tinh có thể “bình thường hoá” đời sống tình dục cho là “bất bình thường” của họ, ông ta đã là hiện thân của quyền lực.

Quyền lực ở đây chính là quyền ấn định cái gì là “bình thường” và cái gì là “bất bình thường”.

Mao Trạch Đông có câu nói thường được viện dẫn là “Quyền lực xuất phát ra từ họng súng” thế nhưng, thực chất, nền tảng quyền lực của con người khủng khiếp này chính là một thứ quyền như thế. Quyền ấn định những xác tín mà, bất cứ ai đi chệch, sẽ bị đào thải như những phần tử “phản động hữu khuynh”, quyền áp đặt những ý nghĩ điên rồ và ngu xuẩn thành những ý tưởng tỉnh táo và sáng suốt, như những ý tưởng “toàn dân diệt chim sẻ” hay “nhà nhà nấu thép” chẳng hạn. Như thế thì “phản động hữu khuynh” chỉ là cách diễn tả ý niệm “bất bình thường” của hệ thống toàn trị cực tả ở đó chỉ những xác tín nghiêng hẳn về phía tả mới được xem là “bình thường”. “Bình thường” và “bất bình thường”, do đó, chỉ là những giá trị mang tính lịch sử và nhất thời, những giá trị áp đặt trong nỗ lực thực thi quyền lực, và khi ấn định những giá trị đối lập như thế thì một thiết chế chính trị - xã hội hay hệ thống văn hoá đã vận dụng quyền lực đó trong nỗ lực đào thải những phần tử ngoại đạo với cái nhãn hiệu “bất bình thường”. Có những tiêu chuẩn “bất bình thường” về pháp lý kèm theo bộ máy cảnh sát và hệ thống toà án, nhà tù. Có những tiêu chuẩn “bất bình thường” về bệnh lý kèm theo nhà thương điên. Và cả những tiêu chuẩn ứng xử không kèm theo bộ máy trừng phạt hay cách ly nhưng có thể gây hiệu quả như một biện pháp rút phép thông công. [14]

Như thế thì bi kịch cá nhân của Hồ Chí Minh không chỉ là bi kịch của kẻ bị bất lực trong việc ấn định những giá trị “bình thường”và “bất bình thường” mà, khôi hài hơn, còn là bi kịch của kẻ bị xô đẩy giữa cái “phi thường” và cái “bất bình thường”.

Hệ thống toàn trị đã mở hết công suất để tô vẽ ông ta như một lãnh tụ phi thường nhưng hệ thống đó đã bất lực trong viện ngăn chặn những lời tiếng từ ngay bên trong về “con người bình thường” của ông ta [15]. Bất lực, hệ thống đó, thậm chí, còn vờ vịt đui điếc trước những bằng chứng khó bẻ gãy về cái “con người bình thường” đó. [16] Bi kịch nằm ở chỗ là, dù say mê với vai trò của bậc “phi thường”, Hồ Chí Minh đã không thoát khỏi những dằn vặt của con người bình thường nên phải xoay xở, lấp liếm và che đậy để rồi đi đến những kết cuộc “bất bình thường”. Bi kịch của ông ta, như thế, là bi kịch của một “lãnh tụ tối cao” nhưng không có đủ quyền lực tối cao để áp đặt cái “bất bình thường” của mình như là chuyện “bình thường”. Ông ta cũng không có đủ nghị lực hay bản sắc cá nhân đủ mạnh để cảm thấy an nhiên tự tại, để cảm thấy “bình thường” với những cái “bất bình thường” của mình. [17] Hồ chí Minh, như thế, đã trở thành một thứ con tin trên cái sân khấu phi thường mà những tuồng tích ban đầu đều do một tay ông ta dựng diễn. Bị quá tải trong cái vai do chính mình dựng diễn, ông ta đâm ra rụt rè, thiếu tự tin.

Đó là sự rụt rè của người đàn ông không có “cặc”. Kể ra thì, theo các tài liệu bên ngoài khuôn khổ tuyên truyền, ông ta vẫn có, vẫn dấm dúi sử dụng thế nhưng rõ ràng là không sử dụng một cách bình thường và, do đó, như một người đàn ông, cũng chỉ là một người không có “cặc”. Không có “cặc” trong đời sống riêng, ông ta không có hay không thể vươn tới một “chủ kiến” trong đời sống công, xứng tầm một “cha già dân tộc”. Trong Đại hội Đảng ở Tuyên Quang năm 1951 ông ta, trong vai trò Chủ tịch Đảng, đã tuyên bố với các đại biểu rằng mình có thể sai chứ Joseph Stalin và Mao Trạch Đông không thể nào sai. [17] Cũng trong những ngày kháng chiến đó, khi trả lời câu hỏi “Tại sao không viết sách lý luận” của một phóng viên Pháp, ông Chủ tịch Đảng lại khẳng định rằng mọi sự đã có Mao Chủ tịch: “Tôi có gì để viết nữa, tất cả lý luận cần thiết Mao Chủ tịch đã nghĩ đến và viết ra rồi”. [18] Mà cũng không cần trích dẫn tài liệu gì nữa khi mà, suốt bao nhiêu năm trời, cái phương châm “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, tác phong Hồ Chủ tịch” đã được hệ thống toàn trị của ông ta đặt lên bàn thờ như một thứ bài vị tổ tiên. “Chủ nghĩa”: ông ta không có. “Tư tưởng”: ông ta không có. Tất cả những gì ông ta có chỉ là “tác phong”.

Nhưng đó lại là tác phong của người không biết “văng cặc”. Không biết “văng cặc” có nghĩa là co rụt, không đối đầu và, nhìn lại cuộc đời lãnh tụ của ông ta thì, không kể những nước cờ chính trị tiểu cuộc kiểu lùi một bước để tiến tới hai bước, những quyết định đưa ra trong những thời khắc sinh tử nhất của dân tộc đều là những quyết định co rụt, tránh đối đầu. Thách thức đanh thép nhất trong thời khắc trọng đại nhất mà ông ta đưa ra trong vai trò một lãnh tụ thực quyền, có lẽ, là “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20.12.1946:

“Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

Nghe thì cũng đanh thép thật, thế nhưng đấy chỉ là chọn lựa cuối cùng sau khi những nước cờ nhượng bộ đã bị phá sản mà cũng chỉ có chừng ấy. Năm 1953, khi ông ta co rụt trước các cố vấn Trung Quốc để chấp nhận bản án tử hình của nữ ân nhân cách mạng Cát Hanh Long thì hệ thống đảng trị của ông ta đã đẩy đất nước đi hẳn vào con đường Maoist, không thể thối lui. [19] Đầu thập niên 60, khi ông ta co rụt trước mấy “học trò xuất sắc” của mình trong cuộc giằng co giữa hai chọn lựa “hoà bình - xét lại” và “chiến tranh cách mạng” thì đất nước bị ném vào cuộc chiến bất kể máu xương với những hệ lụy kéo dài tới tận hôm nay. [20] Kể ra thì sau đó ông ta cũng ra mặt thách thức đế quốc, cũng thách thức ông Johnson, cũng đanh thép “sông có thể cạn, núi có thể mòn” thế nhưng những chuyện như thế, như có thể nhận thấy qua những bằng chứng hậu nghiệm, cũng chỉ là cái sự “đanh thép” ngoài bề mặt, trong tư thế một biểu tượng bề mặt.

“Đanh thép ngoài bề mặt” là cách văng tục của kẻ chỉ dám chường ra cái… “đầu buồi”. Nếu những kẻ như thế chỉ trưng ra cái “đầu” ngoài bề mặt và lo xa che chắn thực lực phía sau thì ông ta cũng cũng cẩn thận cùng một kiểu với chính cuộc đời ông ta. Tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh là một tiểu sử chỉ có phần đầu, như là phần nổi của một tảng băng chìm và, cho dù bộ máy tuyên truyền toàn trị đã bỏ ra hàng núi giấy mực để giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông ta, hàng núi sách vở về con người và cái sự nghiệp của ông ta vẫn là cái gì đó mơ hồ, thiếu rõ ràng. Như những “missing years”, chẳng hạn. [21] Thời trẻ ông ta làm gì? Ông ta lưu lạc như thế nào trong những năm tháng “bị đánh mất” đó? Rồi sau đó nữa, trong vai trò lãnh tụ, cha già. Ông ta cẩn thận che chắn những người đàn bà giản trải qua cái giường ngủ của mình. Ông ta cẩm thận giấu kín những phụ nữ từng đi qua cuộc đời ông ta. Ông ta thậm chí còn che chắn những quan hệ máu mủ gia đình, khước từ tình cảm của họ sau hàng chục năm lưu lạc. [22] Thậm chí, chỉ một chi tiết đơn giản như sinh nhật thôi, cái ngày 19.5.1890 mà năm nào hệ thống toàn trị cũng rầm rộ tưởng niệm, cũng lại là một chi tiết mơ hồ, thiếu rõ ràng. [23]

Mà ông ta, ngay từ đầu, đã cẩn thận chuẩn bị cho cái sự thiếu rõ ràng như thế trong cuốn tự truyện của mình rồi. Mập mờ với cái tên Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch xuất bản đầu tiên vào năm 1948, ông ta đã rào đón cho một tiểu sử mập mờ: “Tiểu sử? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ”. Nói là nói thế, sau đó ông ta còn mập mờ tiếp với cái tên T. Lan với cuốn sách xuất bản năm 1950, Vừa đi đường vừa kể chuyện. [25] Thật là khó để tưởng tượng rằng, giữa một giai đoạn kháng chiến dầu sôi lửa bỏng như thế mà một lãnh tụ tối cao như thế, lại có thể mất thì giờ vào việc tự khen mình bằng những câu chuyện lặt vặt như thế, bằng những hai cuốn sách. Khi lãnh tụ tối cao có thể vung thật nhiều thì giờ cho những chuyện không ra gì như thế thì sẽ không có gì khó hiểu khi lãnh tụ đó tỏ ra biếng nhác trước sự thực tâm của những môn đồ như Nguyễn Văn Trấn, Ung Văn Khiêm, Dương Bạch Mai, Kay Xon  v.v…, những kẻ thực tâm muốn lãnh tụ của mình phải là lãnh tụ “ra gì”: “Hay ta viết ‘tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh’ có phải hay hơn không! - “Không, tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê nin.” [26]

Không tư tưởng thì thực tiễn. Một lãnh tụ thực tiễn là lãnh tụ biết lùi những bước ngắn để rồi tiến những bước thật xa thế nhưng những bước lùi nói trên của ông ta là những bước lùi sinh tử dẫn đến sự tụt hậu. Đầu hàng trước cuộc đấu tranh giai cấp quái gỡ kiểu Maoist là một sự thụt lùi trên nguyên tắc và là sự thụt lùi dẫn đến tụt hậu. Đầu hàng trước chọn lựa chiến tranh cách mạng kiểu Maoist của chính học trò mình cũng là sự thụt lùi dẫn đến tụt hậu. Tụt hậu và tụt hậu. Hậu quả nhãn tiền của những chọn lựa tụt hậu ấy là cái hèn và cái nhục của hôm nay, cái hèn và cái nhục của một dân tộc không dám văng cặc khi bị láng giềng đè đầu, hiếp đáp.

- Con cặc của tao đây!

- Bộ tôi chỉ có hai hòn dái nước!

Tôi nhớ, ngày còn nhỏ, ở Quảng Nam quê tôi người ta vẫn thường văng tục như thế khi có chuyện bất hoà, cãi cọ. Người lớn văng tục và cả những đứa trẻ như tôi, trong những trò chơi trẻ con, cũng tập tành một giọng với lối xưng hô “tau”/”tui” đặc trưng đất Quảng. [26] Một bên hục hặc, muốn choảng nhau. Một bên vòng vèo “hai hòn dái” theo cách lý sự hay “nói gay” đặc trưng đất Quảng để, vừa làm nhẹ đi cái tình thế đối đầu, vừa khẳng định ta đây không thua, ta đây cũng có “cặc”. Và dân tộc chúng ta, Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau / Song hào kiệt đời nào cũng có, cũng từng là một dân tộc biết cách “văng cặc” với những kẻ đè đầu hiếp đáp tùy lúc mạnh yếu khác nhau như thế. Không ngạo nghễ “văng” bằng chính “con cặc” của mình với binh hùng tướng mạnh thì cũng, trên thế trận ngọai giao, vừa làm dịu đi tình thế đối đầu, vừa chứng tỏ rằng ta đây không chỉ có “hai hòn dái nước”. [27]

Chúng ta, như thế, đã khác xa tổ tiên của chúng ta nhiều lắm và đâu là “nhân” của cái “quả nhãn tiền” này?

Đầu tiên là một “cha già dân tộc” không có cặc. Một “cha già” có thể dành rất nhiều thì giờ cho việc chăm bón cái tiếng làm “cha” trong nghĩa vặt nhưng không hề đắn đo khi “cấp kỳ” phủ nhận tư thế làm “cha” trong nghĩa lớn, khi “cấp kỳ” khẳng định với môn đệ là “Không, tôi không có tư tưởng…”. Bề mặt thì “cha già” đanh thép với thực dân đế quốc nhưng bên trong thì rụt rè, không dám “văng cặc” cả khi láng giềng của mình, vào tận nhà mình, hống hánh quyết định sự sống chết của con cái và phá nát những giềng mối gia phong và đạo nghĩa nhà mình. Bây giờ là những hậu thân của “cha già” và những hậu thân của láng giềng hống hách. Láng giềng thì càng ngày càng hống hách và hậu thân “cha già” thì càng ngày càng rụt rè. Rụt rè, không dám văng cặc đã đành, họ cũng không thể hiện một nỗ lực tối thiểu để chứng tỏ rằng ta đây không chỉ có hai hòn dái nước.

Mà làm sao họ có thể “ta đây” như thế khi mà những hòn ấy của họ, cơ hồ, đã lộn hết lên đầu…

Sydney 29.6.2009

Tài liệu tham khảo và chú thích:

Tài liệu tham khảo và chú thích

[1] Hutchison, M. (1990) The Anatomy of Sex and Power: An Investigation of Mind-Body Politics. New York: William Morrow and Co., tr. 44. (Johnson pulled out his penis and asked the reporters (according to one who was there), ‘Has Ho Chi Minh got anything to match that?’)

[2] Halberstam, D. (1972) The Best and the Brightest. New York: Random House, 1972, tr. 414.

Có thể tham khảo trong tiểu luận “The Amercican war in Southeast Asia” trong A Covert History of the 1960’s Era của Ben Best tại http://www.benbest.com/history/schemers.html: ‘The destruction in these raids was gratifying to Johnson, who confided to a reporter, “I didn’t just screw Ho Chi Minh, I cut his pecker off.” The macho significance of Vietnam to Johnson can perhaps be gleaned from a comment he made upon learning that a member of his administration was beginning to oppose the war: “Hell, he has to squat to piss”.’

[3] Có nhiều tài liệu về đời sống cá nhân của Hồ Chí Minh, chỉ xin giới thiệu một tài liệu đã xuất bản trong nước, trích từ Nhật ký của một bộ trưởng của Lê Văn Hiến (NXB Đà Nẵng 2000). Có đoạn tác giả ghi: “Trời càng về đêm càng mưa lớn. Chúng mình phải ở lại kéo dài câu chuyện với Cụ trong lúc chờ đợi hết mưa. Cụ ân cần hỏi thăm gia đình của mọi người. Đến lúc chúng mình vui câu chuyện nhắc đến gia đình Cụ, Cụ phì cười và nói: “Mình chẳng phải thần thánh gì, cũng người như tất cả mọi người. Nhưng với hoàn cảnh này, còn điều kiện nào nghĩ đến gia đình, không phải đạo đức mà phải chịu đạo đức”. Cụ cười và nói tiếp: “Gia đình nhỏ không thể được thì ta cứ lo gia đình lớn đi vậy !”… 26/8/1949 - Hơn 11 giờ, chúng mình tạm nghỉ với Hồ Chủ tịch trên sàn nhà riêng… Cụ giới thiệu cảnh hữu tình trong những đêm trăng, thỉnh thoảng vừa cười vừa thổ lộ đôi câu: “Cảnh càng đẹp, mình cũng cảm thấy như thiếu thiếu cái gì!”… Dẫn theo Trí Quân (2009) “Hồ Chủ tịch qua Nhật ký của một bộ trưởng“, Tiền Phong, 17.5. Tại:

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=161057&ChannelID=13

Xem thêm chú thích 15.

[4] Trong kháng chiến Lê Đức Thọ từng ra nghị quyết cho phép những cán bộ công tác xa nhà trên 300 cây số được phép lấy thêm vợ. Xem: Nguyễn Văn Trấn (1995) Viết cho mẹ & Quốc hội, California: Văn Nghệ, tr. 143. Tác giả từng là phó bí thư xứ ủy Nam kỳ trong thời kỳ tiền cách mạng.

[5] Lê Duẩn có hai vợ. Vợ cả là Lê Thị Sương, có bốn người con. Vợ hai là Nguyễn Thụy Nga, kết hôn năm 1948 tại miền Tây Nam Bộ, do Lê Đức Thọ làm mối, Phạm Hùng làm chủ hôn, khi Lê Duẩn vẫn còn là chồng chính thức với người vợ đầu. Sau 1975, bà là Phó Tổng biên tập phụ trách hành chánh trị sự của báo Sài Gòn Giải phóng, hiện sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có ba người con. Báo Tiền Phong đã đăng loạt bài 5 kỳ của Xuân Ba “Người vợ miền Nam của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn”, còn lưu lại trên nhiều website. Có thể tham khảo theo các đường link tại http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n

[6] Friedman, D. M. (2001) A Mind of Its Own: A Cultural History of the Penis. New York: The Free Press, tr. 6 và 156.

[7] Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes (1651) chỉ có “cặc” với “bòi”. Dictionarium Annamitico-Latinum của A. J. Taberd (1838) cũng chỉ có “cặc” và “bòi”. - Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỵnh Tịnh Của (1895) cũng chưa có “buồi”. Chú ý rằng trong những từ điển trên từ “địt” chỉ có nghĩa là rắm. Từ “địt” với ý nghĩa tính giao xuất hiện lần đầu trong Từ Điển Tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931). Đây cũng là lần xuất hiện chính thức đầu tiên của… “buồi”.

[8] Từ Thanh Hoá trở ra Bắc người Việt hiện tại dùng từ “địt” và “buồi”, từ Nghệ Tĩnh trở vào Nam dùng từ “đụ” và “cặc”. Gọi là “ý nghĩa địa lý - chính trị” vì Nghệ Tĩnh là vùng đất đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, đã liên miên đảm nhận vai trò hậu cứ của những cuộc kháng chiến chống thực dân (thực dân Trung Quốc hay thực dân Pháp) và là vùng đất bản lề của hành trình Nam tiến. Gọi là “siêu lịch sử” vì chia cắt “cặc”/”buồi” (cũng như “đụ”/”địt”) vượt qua những quyền lực lịch sử đã dai dẳng chia cắt đất nước hàng trăm năm, vượt qua những chia cắt từng tạo nên những thay đổi lớn lao nhất trong diện mạo đất nước: chia cắt ở sông Bến Hải, chia cắt ở sông Gianh. Tôi đã từng trình bày luận điểm này trong bài “Đụ như là lịch sử”, xin tham khảo tại:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=8233

[9] Vì ám ảnh với cụm từ như “Thời kỳ quá độ” nên nhiều người, nhất là những người sống ở hải ngoại, tỏ ra dị ứng với từ “quá độ”, cho là “từ của cộng sản”. Tôi đã nghe và, thậm chí, phát hiện rằng có khi người ta hoàn toàn hiểu sai ý nghĩa của từ này, xem “quá độ” như là “quá mức” (!). Thực ra đây là từ Hán - Việt có nghĩa là “chuyển tiếp“. Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh (1931) chú giải: Quá độ: Bến đò để qua sông - Chỗ giao tiếp giữa hai cái trước sau kề nhau. Chỗ mới cũ giao tiếp nhau (bac, transition).

[10] “Đụ như là lịch sử”, bđd.

[11] Như chú thích số 8.

[12]. Ghi chép của Trần Dần trong nhật ký Ghi (2001, Phạm Thị Hoài biên tập và hiệu đính): “Tôi muốn tả được những chiến sĩ cố nông lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Và cũng người chiến sĩ cố nông chỉ muốn lấy thân mình làm túi cơm giá áo. Những người chiến sĩ xô vào lửa quên mình và những chiến sĩ sĩ chùn về sau xó bếp, cháy quần vì rang ngô. Người anh hùng và người dút dát. Người đang dút dát thành anh hùng. Người đang anh hùng tụt xuống dút dát. Người lấy súng bắn địch và người lại lấy súng tự thương. Những người chiến sĩ lầm lì và những người chiến sĩ ba hoa. Người thuần, người ngổ ngáo. Người chỉ biết phục tùng, người hay cãi bướng. Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị ‘nắm tư tưởng’. Nắm, nắm con cặc.” Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc trong bài “… và những thứ con khác”:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=1410

[13] Foucault, M. (1998) The History of Sexuality: The Will to Knowledge, London: Penguin Book.

Bản tiếng Anh của Robert Hurley. Đây là tập đầu trong bộ ba The History of Sexuality gồm The Will to Knowledge, The Use of Pleasure và The Care of the Self (Histoire de la sexualité, I: le souci de soi)

[14] Normal vs abnormal. Đây là ý tưởng xuyên suốt trong các công trình của Foucalt khi bàn về quan hệ giữa tri thức và quyền lực. Foucault cho rằng trong từng giai đoạn khác nhau nhân loại có những cách nhìn không thống nhất về các hiên tượng như chứng điên, bệnh hoạn, tội phạm, v.v. Đặc biệt về hiện tượng điên khùng với tư cách là mặt đối lập của lý trí theo nhận thức thông thường ngày nay. Khảo sát lịch sử Foucault nhận thấy thật ra thời Cổ đại người ta cho rằng người điên là những đầu bộ óc thâm thúy, đến thời Trung cổ họ được xem là những thành viên bình thường trong xã hôi, đến thời cận đại lại xem họ là loại người nguy hiểm gần như tội phạm, và hiện tại thì được cho là những con bệnh cần được nhập viện để chữa trị. Theo Foucault thì trên bình diện tâm lý, nếu điên khùng là cái gì phi lý tinh, thì chưa chắc nó đã đối lập với lý tính mà là tấm gương phản chiếu hay sự kéo dài của lý tính, lấy thí dụ những nghệ sĩ ưu tú thường bị xem là những người “không bình thường”. Có thể tham khảo:

Foucault M. (1988) “Technologies of the Self” in L.H. Martin, H. Gutmanm TR.H. Hutton (ed) Technologies of the Self: A Seminar With Michel Foucault. Amherst MA: Universty of Massachuset Press. tr. 146

Foucault M. (1977) Discipline and Punish: The Birth of the Prison, London: Penguine Books. Part Three:. Panopticism, tr. 195 - 228. Tại đây Foucalt phân tích biện pháp mà một thị trấn đối phó vào thế kỷ 17, những biện pháp đã hình thành nên sự phân chia như mad/sane; dangerous/harmless; normal/abnormal (tr. 199).

Và: Foucault M. (2006, 7th edition) Madness and Civilization, London and New York: Routledge Classics. Xem chương 2: The Great Confinment, tr. 35 - 60.

[15] Thí dụ câu chuyện do ông Nguyễn Minh Cần, nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội, kể lại. Trong bài “Sự thật lịch sử: Vài mẩu chuyện về cuộc đời Hồ Chí Minh”, có đoạn ông viết về những chuyện bàn tán trong giới cán bộ cấp cao: “Sự sùng bái cá nhân các lãnh tụ đã được gieo cấy sâu đậm vào tiềm thức cán bộ và dân chúng đến nỗi mọi người cho rằng nói đến các lãnh tụ mà thiếu sự ca tụng, sự sùng kính, nhất là nói đến đời riêng của các lãnh tụ là điều “phạm húy” khủng khiếp, mà điều đó thì tối kỵ, trước tiên, vì… rất nguy hiểm cho bản thân. Chỉ có một số cán bộ cao cấp nào đó thỉnh thoảng khi cao hứng mới có thể tự cho phép “đả động” nhẹ nhàng đến các lãnh tụ trong chừng mực… “không bị đứt đầu.” Cố nhiên, những việc như thế không phải là không nguy hiểm. Có một lần, tình cờ tôi được “dự” vào một cuộc “loạn đàm” như vậy. Hôm đó, sau một cuộc họp ở Thành ủy, mọi người ra về, chỉ còn lại ba chúng tôi: Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy Hà Nội, Trần Vỹ, phó bí thư, và tôi. Ðang nói chuyện linh tinh, bỗng Trần Vỹ hỏi khẽ: “Thế nào, việc Phương Mai đã xong chưa?” Trần Danh Tuyên đáp: “Không xong.” Trần Vỹ nói tiếp: “Cô ấy cũng sạch nước cản đấy chứ, sao lại không xong?” Vui miệng, tôi cũng chêm vào một câu: “Sạch nước cản… thế mà tướng Nguyễn Sơn lại chê là ngực lép kẹp, ăn thua gì!” Cả ba cùng cười, rồi Trần Danh Tuyên hạ giọng nói rất khẽ: “Cô ấy muốn đặt vấn đề đàng hoàng, nhưng mà… Bác và các anh (ý nói Bộ Chính trị) cho rằng Bác không lấy vợ thì lợi cho uy tín chính trị hơn.”

Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hoà thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hoá và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”.

Xem: http://doanket.orgfree.com/tongquat/hochimin.html

[16] Cho đến nay, vẫn chưa thấy hệ thống tuyên truyền của Đảng bác bỏ một cách khoa học và thuyết phục các khám phá “trái đạo” về Hồ Chí Minh của các sử gia ngoại quốc như Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh: The Missing Years, 1919-1941 - University of California Press, 2002) hay William J. Duiker (Ho Chi Minh: A Life - Hyperion, 2001) v.v…

[17] Khác với một Joseph Stalin hay một Mao Trạch Đông, dẫu không công khai cũng không cần phải dấm dúi vụng trộm hay loay hoay lấp liếm một cách khổ sở như Hồ Chí Minh.

[18] Bùi Minh Quốc. “Làng văn một thời, và…” talawas [23/6/2004]

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=2180&rb=0102

[19] Bùi Tín (1991) Hoa xuyên tuyết, Saigon Press, trang 67. Xem thêm chú thích 21.

[20] Trong hồi ký Những kỷ niệm về Bác Hồ của Hoàng Tùng - từng giữ chức Bí thư Ban bí thư và Tổng biên tập báo Nhân dân - có đoạn kể lại thái độ của Hồ Chí Minh với án tử hình bà Cát Hanh Long (Nguyễn Thị Năm): “Họp Bộ Chính trị Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm”. Trước cách mạng bà Nguyễn Thị Năm đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản. Bà đã hoạt động trong Hội Phụ nữ Cứu quốc, con trai bà theo Việt Minh, giữ chức trung đoàn trưởng. Hoàng Tùng, nguyên là Tổng biên tập báo Nhân dân, Bí thư Trung ương Đảng. Một số chương đã được trích đăng trên mạng Intenet. Thí dụ:

http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=6185

Có thể tham khảo thêm bài “Xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước” của Nguyễn Minh Cần

http://www.doi-thoai.com/nmc_dungquen.html

Trong bài này Nguyễn Minh Cần cho rằng Hoàng Tùng đổ lỗi cho cố vấn Trung Quốc để biện minh cho Hồ Chí Minh. Theo ông thì Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm cao nhất vì lúc đó còn nắm thực quyền. Thật ra dù nắm thực quyền, Hồ Chí Minh (HCM) đã bị đẩy vào thế phải chấp nhận quyết định của Trung Quốc và Liên Sô. Từ đầu Stalin đã xem HCM như người theo dân tộc chủ nghĩa, cùng các sự việc bị bắt ở Hồng Kông rồi được thả, việc bị Hà Huy Tập tố cáo v.v… Sau đó, vào tháng 11.1945 HCM tuyên bố giải tán ĐCS nên mối nghi ngờ này càng tăng. Cuối 1951 đầu 1952 HCM đi Trung Quốc và Liên Sô cầu viện trong tình thế bị cả hai nước cộng sản đàn anh nghi ngờ. theo Võ Nguyên Giáp thì chuyến đi này của HCM là một “chuyến đi gian khổ”. Xem: Võ Nguyên Giáp (2002), Ðường tới Ðiện Biên Phủ, NXB Quân đội nhân dân (chương đầu tiên). Trong cuộc gặp gỡ tại Moscow, Stalin giao cho Trung Quốc nhiệm vụ giúp đỡ VN. Muà hè năm 1952 HCM trở về và sau đó là cá cuộc “rèn cán chỉnh quân” ngay trong năm 1952 và cải cách ruộng đất 1953, mở đầu bằng khí thế của cuộc hành quyết bà Nguyễn Thị Năm. Sự việc trên có thể hiểu theo nguyên tắc thu nạp thành viên của các băng đảng mafia: đơn xin kết nạp phải là một mạng người hay một hành động phạm pháp nào đó. Bằng cách này thì tân thành viên phải gắn bó và trung thành với tổ chức, không thể nào rút lui. Trước đó HCM bị Liên Sô và Trung Quốc nghi ngờ. Ngay sau khi trở về thì HCM lập tức tiến hành các cuộc thanh trừng và đấu tranh giai cấp theo đường lối cực tả. Chỉ bằng cách đó HCM và đảng của ông ta mới được cộng sản quốc tể xem là một thành viên và do đó mới được trợ giúp đúng mức.

[21] Nguyễn Văn Trấn (1995), sđd. tr. 322- 329. Tháng 11.1960 Hồ Chí Minh dự Hội nghị Cộng sản Quốc tế tại Moscow và tại đây tuyên bố ủng hộ lập trường chung sống hoà bình của Liên Sô. Tuy nhiên trong hội nghị thứ 9 của Trung ương Đảng khoá IV thì trước sức ép của phe thân Trung Quốc như Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ông đã bỏ rơi các ủy viên trung ương ủng hộ Liên Sô như Ung Văn Khiêm. Tác giả thuật lại lời kể của Bùi Công Trừng (nguyên là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước): “Mầy coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc hà, Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà. Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn / Khi ghét bồ hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra. Có chi mà.”

Kết quả của hội nghị này là “Nghị quyết 9″, một nghị quyết bất thành văn, chỉ phổ biến bằng miệng, theo đó Hà Nội chủ trương “thống nhất về cơ bản” với cả đường lối đối ngoại lẫn đối nội của Bắc Kinh: “Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức trung ương tuyên bố với cán bộ rõ ràng: “Chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, về mặt lý luận ta để cho Đảng Cộng sản Trung Quốc làm, còn về mặt tổ chức thì tự ta làm lấy’.” tr. 334.

[22] Tên một cuốn sách của sử gia Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years. Xem chú thích 16.

[23] Đã có nhiều tài liệu cho biết chuyện Hồ Chí Minh cố tình xa lánh anh em của mình: sau tháng Tám năm 1945 chị ông là Nguyễn Thị Thanh nghe tin ông chủ tịch nước chính là em trai mình nên lặn lội ra Hà Nội tìm thăm, tuy nhiên HCM không dám công khai gặp chị, và không muốn chị ở lại Hà Nội cùng mình. Mới nhất, bà Đặng Thị Hạnh (con gái Đặng Thai Mai) kể lại cảnh bà Thanh hờn dỗi khi em trai bà không muốn bà ở lại săn sóc mình, thậm chí mang món quà định mang tặng em tặng lại gia đình Đặng Thai Mai: “Một trong những người khách đặc biệt nhất của gia đình tôi thời ấy, chắc chắn là bà Thanh, từ Nghệ An ra, một người đàn bà đã già nhưng sao đôi mắt vẫn đen và đẹp đến thế. Bà để lại cho chúng tôi một món quà quý đáng lẽ dành cho người em, một lọ mắm tôm chua như sau này tôi chưa bao giờ trông thấy ngon như vậy: những con tôm đỏ hồng, cong veo, trong suốt, in rõ những ngấn đen trên lưng, giữa những miếng ớt đỏ rực và một thứ nước quánh đỏ hồng, thơm phức mùi thính. Bà Thanh trở về quê trong tâm trạng hờn dỗi, bà muốn được ở lại chăm sóc người em của mình nhưng biết làm sao được, hình như người đi làm cách mạng càng ít vướng vào tình cảm riêng tư càng tốt. Tôi không biết rõ lắm.” Xem: Đặng Thị Hạnh (2008), Cô bé nhìn mưa, Hà Nội : Nxb Phụ Nữ, tr. 143.

[24] Hồ Chí Minh có nhiều ngày sinh khác nhau:

- Hồ sơ xin học Trường Thuộc địa Pháp năm 1911: sinh năm 1892 (không ghi ngày)

- Hồ sơ gia nhập Hội Tam điểm (Free Mason, Franc Maçonnerie): 15.2.1895

- Hồ sơ khai ở Sở Cảnh sát Paris năm 1920: 15.1.1894

- Hồ sơ Toà đại sứ Liên Sô ở Berlin 1923: 15.2.1895

Về ngày “sinh nhật” 19.5.1890 thì có nhiều giả thuyết: Đây là ngày mà Cao ủy Pháp ở Đông Dương, D’ Argenlieu đến Hà Nội ngay sau Cách mạng tháng 8. Đang chủ trương hoà hoãn nên HCM phải đón tiếp trọng thể bằng cách làm treo cờ, kết hoa, và để giữ thể diện nên phải giải thích là “sinh nhật Bác.” Có một số sử gia trong nước thì biện minh rằng ngày 19.5 là ngày thành lập Mặt trận Việt Minh: 19/5/1941.

[25] Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Hồ Chí Minh (ký tên Trần Dân Tiên) xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc năm 1948 và tại Paris năm 1949. Vừa đi đường vừa kể chuyện của Hồ Chí Minh xuất bản lần đầu năm 1950, Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của HCM trong dịp lên đường ra Chiến dịch Biên giới năm 1950, “vừa đi hành quân, vừa vừa hỏi chuyện Hồ Chủ tịch và ghi chép lại”.

[26] Nguyễn Văn Trấn (1995), sđd, tr. 151. Tác giả kể lại việc mình tham dự Đại hội Đảng lần thứ hai, năm 1951 tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Tổ thảo luận của Nguyễn Văn Trấn được xem là “Tổ Nam bộ” hay “Tổ quốc tế” với các nhân vật như Hồ Viết Thắng (sau phụ trách cải cách ruộng đất sau 1954), Kay Xon (sau là Tổng bí thư ĐCS Lào), Ung Văn Khiêm (sau là Bộ trưởng Ngọai giao nhưng bị án xét lại), Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng. Trần Công Tường, Trần Duy Hưng (sau là chủ tịch Hà Nội) v.v… Những đảng viên này muốn Hồ Chí Minh phải có “tư tưởng” riêng của mình, không đơn giản sao y “tư tưởng” của Mao Trạch Đông: “Anh em trong tổ quốc tế này đả tơi bời cái tư tưởng Mao Trạch Đông. Ôi cái miệng của Bùi Công Trừng. Anh đả luôn cái bọn đi học lớp Hoa Nam đầu tiên ở Trung Quốc về, nói chuyện thì khen Mao chủ xị với văn phong rặt Trung Quốc.”

Và: “Hôm đó, là tổ trưởng, tôi làm nhiệm vụ phản ảnh trực tiếp. Một mình Bác Hồ, một mình tôi. Tôi báo cáo tình hình, anh em trong tổ nói bộ hết duyên rồi sao mà lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo Đảng ta. Nhưng anh em giao là nói trong tổ cho nhau biết chớ không phát biểu ở hội trường. Và đã lỡ miệng nói một điều quan trọng như vậy, trong quan hệ quốc tế này thì ngậm miệng đừng nói đi nói lại là hơn. Hồ Chí Minh nhắm hí mắt như Staline khi gặp vấn đề khó nghĩ, và tìm chữ.

Tôi thưa tiếp:

- Có đồng chí còn nói: Hay ta viết “tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh” có phải hay hơn không!

Câu nói của tôi làm cho mắt ông già rạng lên theo lời đáp cấp kỳ:

- Không, tôi không có tư tưởng nào ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lê nin.”

[27] “Tau”, “tui” có nghĩa là “tao” hay “tôi”: “Con cặc của tau đây! - Anh làm bộ như tui chỉ có hai hòn dái nước!”

[28] Thí dụ như đời Lý. Thời này tổ tiên chúng ta không chỉ bảo vệ lãnh thổ bằng biện pháp quân sự qua chiến công của Lý Thường Kiệt mà còn bằng các biện pháp ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cương quyết. Xem Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1949, NXB Quân đội Nhân dân in lại năm 2003: Lý Thường Kiệt - Lịch sử Ngoại giao & Tông giáo đời Lý.

© 2009 Nguyễn Hoàng Văn

© 2009 talawas blog

 nguồn:

http://www.talawas.org/?author=552

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2009

email: hoa95121@yahoo.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 02.2008 | cập nhật 18.4.2009 USA