đăng ngày: 1.7.2009
|
|
|
posted:20.6.2007 | “Người làm chính trị thường viết hồi ký, tự truyện khi đã về hưu, do đó, họ có cơ hội để che đậy sự thật. Chính trị, từ đó trở thành thứ đạo đức của giả dối. Cho nên, nói ra sự thật trong tinh thần tự do, không mong cầu, là khả thể xây dựng lại nền tảng của đạo đức chính trị.” (NvH) Ngẫm nghĩ về “tình bạn” Thường Đức Đầu năm 1970 tôi giã từ hẳn ngôi trường trung học kỹ thuật NLS (tốt nghiệp tú tài 2 kỹ thuật: niên khóa 1969-70), vào Sài Gòn đoàn tụ với gia đình; tôi theo học trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Ngư Nghiệp (khóa đầu tiên). Trong lớp học chừng 10 người thôi nhưng đã có 4 cậu thanh niên là dân Huế. Mấy cô cậu còn lại từ Bảo Lộc về, phần lớn là dân trong Nam. Ngoài ra có 4 cậu dân Huế khác học Cao đẳng Nông nghiệp (ngành kỹ sư thủy lâm). Một số ở lại Huế theo học kiểm sự thủy lâm, có vài ba mạng tự dưng nổi máu binh nghiệp đâm đơn vào trường Võ bị QG Đà Lạt. Ngoài ra, có một “núm” khác chán nghề nông lâm mục “cù lần”, nhảy ra theo học các khóa đào tạo chuyên viên thuế vụ cấp tốc với hậu ý kiếm tiền “đường tắt”, làm giàu nhanh hơn. Chừng nửa tá khác đi du học. Học gần xong sư phạm ngư nghiệp, tôi làm đơn từ chức nghề mô phạm vì có kế hoạch cá nhân riêng của tôi. Ba người bạn đồng khóa còn lại đi nốt đoạn đường đào tạo, chuẩn bị vào quân trường Thủ Đức đổ mồ hôi vài tháng trước khi được bổ nhiệm đi các nơi như: Huế, Bảo Lộc, Bình Dương (trường thành lập sau này)… Tôi ghi danh vào Đại học Vạn Hạnh vì thấy không khí sinh viên, môi trường học tập rất Tây phương mà lại trường của Phật giáo nữa. Đó là hai yếu tố vượt trội để tôi chọn Vạn Hạnh thay vì chọn các nơi khác như Minh Đức hay trường Luật v.v.. Từ đó, tôi cách biệt luôn những người bạn xứ Huế của tôi. Những người bạn ngày xưa như --Phan L., Phu, Hồ văn H., Phạm T., Lê K. ... Phu nhà nghèo, con một, sống với người mẹ hảo tâm nên tụi tôi hay tụ tập để học chung và ngủ lại đêm trong những ngày mùa đông tháng giá ở Huế. Nhà Phu ở Tây Lộc, có những ngày chương trình học ít nặng nề, đềm về bốn thằng nằm chen chúc trên một tấm phản, thắp lên ngọn đèn dầu và thay phiên nhau đọc cho hết cuốn 'Nhân Văn giai phẩm.' Những tác giả lạ hoắc : Phùng Cung, Phùng Quán, Trần Dần v.v... như rót vào tai niềm cảm xúc qua mấy cái đầu tóc kề sát vào nhau, chân giữ chặt lấy tấm mền đắp chung như sợ gió lạnh len vào. Khi đọc tới bài 'Phở' của Nguyễn Tuân thì P. Thắng như điên lên vì thèm ăn một tô phở. Cả bọn hưởng ứng rất nhanh, đèo nhau trên hai chiếc xe Honda đi tìm cho ra một quán phở nào đó còn muốn ngóng đợi khách đêm đông phong suơng lữ thứ. Tình bạn của tụi tôi cuốn chặt trong những năm sống chung dưới mái trường trung học, chỉ biết chia cho nhau, không hề xén bớt... Sống với gia đình ở đất Sài Gòn, học Vạn Hạnh, nên tôi dễ có ngộ duyên quen biết toàn là bạn gốc Bắc kỳ (dĩ nhiên phần lớn là "Bắc kỳ Công giáo di cư" 54!). Trong số bạn thân, có vài người thân nhất là Nguyễn kim K. NkK dáng vóc thanh tú, ăn diện rất à-là-mode, có khuôn mặt dài với hai đường rãnh từ mũi kéo xuống khóe miệng, vài đường nhăn lăn tăn ở trán, nên được tôi ‘phong’ cho cái tên mà xem ra cậu cũng khoái ngầm là ‘K. Belmonde’ (giống tài tử Pháp Jean Paul Belmondo!.) Ngoài những nét nhăn phong trần, NkK còn có lối nói, dáng điệu ỏng a ỏng ẽo… bị nghi có máu pê-đê ('gay'), nên được Đàm quang B. (con bác Đàm quang Y.) đặt tên là “mụ K.” Một hôm, ĐqB rủ tôi và vài đứa bạn khác –trong đó phải nài ép “mụ K.” lắm mới chịu đi nhà thổ. ĐqB là đứa rất ghiền “gái làng chơi”; ở động-thiên-thai nào hắn cũng có ghé qua một vài lần, nên rành rẽ chuyện nầy như mấy bà nội trợ đi chợ. Hôm đó, sau khi xong chuyện, ĐqB khám phá ra một lỗ nhòm qua khe ván gỗ, nên hắn đứng rình xem thử “mụ K.” ăn làm trong kia ra sao. Dòm trộm một lúc khá lâu, hắn trở ra ngoài phòng khách cười khúc khích báo cáo với anh em, “‘mụ K.’ còn mặc nguyên quần lót, nằm cạnh bên nàng “tò tí te”, giã vờ nói cười rúc rích, chứ chẳng chịu 'làm ăn' gì cả.” Thế là “mụ K.” được dư luận xác nhận là K. pê-đê chính hiệu từ đó. Chừng giữa năm 1973, quân đội Mỹ đã rút về nước gần hết, nên những building, khách sạn được xây cất cho lính Mỹ thuê đều trống (vacancy) khá nhiều. Các cô gái làm nghề “ca-ve” sảy đàn tan nghé, phần lớn tìm đường trở về quê quán, một số ít còn lưu luyến đất phồn hoa Sài Gòn, tìm cách ở lại giữ phòng thuê để ở. Cuộc sống của các cô trở nên bấp bênh, bơ vơ, rất dễ đi tới sự chọn lựa làm “gái giang hồ.” “Mụ K.” cũng như một số bạn khác, thích đời sống độc lập (như giới sinh viên Mỹ), không thích chung sống với gia đình, rủ partner là Lê gia M. tìm thuê phòng ở một căn building thừa chỗ trống này để ở, giá rẻ hơn nhiều so với giá cho Mỹ thuê ngày trước, để vừa đi làm kiếm tiền sinh sống vừa đi học. Đó là một building có cái tên rất hoa mỹ, “Biệt thự Chiêu Anh.” Tôi ở với gia đình, nhưng thích đến chơi với anh em cho vui, có khi đi ăn chung, sống chung suốt cả tuần lễ mới về nhà. Từ “mụ K.”, quen thân dây chuyền thêm một số bạn khác như, Vũ ngọc Â, Trần ngô V. (đã từ trần), Lê T… v.v…(đây là đám bạn ở Vạn Hạnh); và Nguyễn đức V. (QG Hành chánh, hiện ở SJ.), Khang -đã vào quân đội nhưng là thứ lính kiểng, có máu giang hồ trầm tích chữ nghĩa, nên cứ tối đến lái chiếc xe Suzuki cũ mèm cà rịch cà tàng, đến ngủ lại đêm. Thời gian trôi qua kéo theo mối giao hữu liên hoành, rồi tôi quen biết thêm Ngữ (Đốc sự HC) gốc Huế hiền lành bạn bè ai cũng mến, Thân trọng Đ. (quan thuế, gốc Bắc có số đào hoa lấy vợ con nhà giàu ở biệt thự bốn năm tầng trong khu đệ nhất khách sạn)… và một số bạn khác nữa, nhưng ít gặp nhau thường xuyên hơn. Trong số bạn, có đứa theo đạo Thiên Chúa, có đứa là Phật Giáo… nhưng điều quan trọng là không bao giờ nghi ngại, thắc mắc về sự khác biệt tôn giáo của nhau. Chúa hay Phật không thể can dự, chiếm chỗ đứng nào trong tình bạn của chúng tôi cả. Tôi không biết từ trong thập niên 1950 đến mấy năm đầu thập niên 60, thế hệ thanh niên Sài Gòn có được tình cảm bằng hữu phi-tôn-giáo này không? Nếu không, chắc phải cần một nghiên cứu công phu, nghiêm túc về xã hội và văn hóa trong hai thập niên đó để đào sâu vấn đề xem tại sao có sự khác biệt. Và, riêng tôi cần xác nhận trong phạm vi thân hữu của mình, tôi không hề thấy tâm lý phân biệt về tôn giáo đó. Ở trên bình diện xã hội với lẽ-phải-thông-thường (common sense), phải chăng sự gia tăng tiếp xúc, cọ xát với văn hóa và văn minh Tây phương đã xóa tan sự cách biệt này? Nhớ, “Biệt thự Chiêu Anh” hình như có bốn tầng. “Mụ K.” thuê một căn ở tầng dưới, NđV thuê một căn trên lầu ba. Thỉnh thoảng tôi thấy có anh chàng ca sĩ tân nhạc kiêm vọng cổ có cái môi hơi dày và trề ra cập kè với một cô đào xuất hiện ở lầu hai. Đám sinh viên độc thân vui tính và hào hoa tụi tôi bắt đầu được các đôi mắt của mấy cô ‘ca-ve’ chú ý tới. Một hôm, “mụ K.” mua bia rượu, đồ nhắm về nhậu. Có đủ mặt bạn bè và hai cô ‘ca-ve’ được mời vào chung chén. “Mụ K.” được dịp đối diện với phái nữ là bắt đầu trổ tài “múa miệng”, tán tỉnh. Khang thì ngồi một đống ru rú khề khà uống. Hắn uống như hủ chìm, uống đến ói vào cầu tiêu móc họng cho ra hết xong ra ngồi uống tiếp, lâu lâu nhoẽn miệng cười một cái, như chia vui với câu chuyện. NđV thì đạo mạo, nói năng kiểu cách dù là trước mặt mấy em “me Mỹ.” Tôi, thì hồn nhiên thư thái, “jeune” nhất trong đám. Hai cô ‘ca-ve’, một cô tên Dung, cô thứ hai “quên tên = QT.” Rượu vào lời ra, uống và uống. Dân ‘ca-ve’ có khác, hai cô uống rượu thoải mái như uống Coca-cola, 7-up. Chưa đủ, lại có màn văn nghệ văn gừng ca hát véo von nữa. Đêm càng về khuya, rượu cạn dần, máu trong tứ chi hâm nóng lên… Ngôn ngữ và ánh mắt giữa trai độc thân và gái ‘ca-ve’ bắt đầu bật cháy. Mỗi lúc cường độ tán tỉnh pha lẫn một chút thèm muốn của mấy tên đực rựa này…làm cho tâm hồn lạnh giá “bơ vơ” của các nàng như ấm lại. Dung có nét mặt sắc sảo, đôi môi trầm tích của nhục dục bao ngày tháng vẫn còn nhấp nháy mời gọi. “Mụ K.” xem chừng hùng hổ lúc ban đầu, nhưng đến lúc cơn sốt của sự đợi chờ mây mưa thì thu mình lại, như một sức đẩy ra (repell) của một đồng cực kim nam châm!. Trong hoạt cảnh của sự nối nhịp bắt tình, trong ánh mắt của Dung và người bạn gái “QT” của cô dường như đang âm thầm chuẩn bị sẽ đặt chiếc bánh thân xác vào tay ai. Bỗng nhiên, Dung đột nói, “Các anh là người học sinh viên làm sao có thể yêu tụi em là người con đĩ?.” Một lời bộc ra từ miệng cô ‘ca-ve’ như một giọt cường toan làm cứng đọng cơn nóng vì rượu của tụi tôi. Hình như trên môi của các chàng có một chút mấp máy, nhưng không ai dám cười, như sợ động tới cái vết thương chưa lành của cô gái ‘ca-ve’ còn trẻ đẹp... Kết thúc của buổi nhậu váng vất mùi xác thịt pha chút đắng cay ấy, NđV cặp với Dung, tôi cặp với cô “QT” lên trên phòng của cô Dung trên lầu bốn. Phòng khá rộng, đủ tiện nghi, gường đôi. Có lẽ đây là căn phòng của một cấp sĩ quan Mỹ -“chồng hờ” của cô Dung. NđV và Dung chiếm ngay một giường, tôi và nàng “QT” giường bên cạnh. Dưới ánh đèn màu lờ mờ trông có vẻ như một màn ‘làm tình tập thể’, tự dưng tôi thấy ngượng, tôi lúng túng vụng về. Không hiểu tại sao cô Dung chú ý tới điều đó, nên ra dấu để tụi tôi kéo ra ngoài sân thượng. Tôi và QT kéo ra ngoài sân thượng. Dưới ánh trăng tắm da, hai thân thể trần quấn quít, tôi hăm hở trong trạng thái như có một lực phản (anti-forces) nào đó, cản lại. Một chút xót thương, một chút ngại ngần. Không phải là niềm khao khát của xác thịt yêu đương mà chỉ là một động tác của rượu, như cục sắt nung nóng bung hơi, kêu xèo trong thùng nước lạnh. Tôi không thích mà cũng chẳng thấy sướng chi cả. Một chút nhày nhụa pha màu nước lựu chảy tràn trên háng tôi. Nàng bật dậy chạy vào phòng tắm. Cô Dung như lúc nào cũng chú ý, quan tâm tới tụi tôi… vì tôi nghe tiếng trao đổi nho nhỏ gì đó giữa Dung và nàng. Một lát sau, Dung chạy ra ngoài, nét mặt thơ ngây như cô gái đồng quê có vẻ bồn chồn lo lắng, cất tiếng hỏi: “Bộ anh còn trinh hả?” Tôi chới với trước câu hỏi thản nhiên bất ngờ đó, chỉ cười và không thể trả lời… Kỷ niệm giữa “người học sinh và người con đĩ” của tôi chỉ có một đêm mong manh đó, nhưng ông bạn NđV còn kéo dài lây lất cả tháng sau. Kết thúc bất ngờ gây cho tôi một xúc động là NđV đã dùng lời lẽ khuyên nhủ cô Dung chấp nhận con đường ‘hoàn lương’ trở về quê cũ để xây dựng lại cuộc đời ở một tỉnh miền Tây Nam bộ nào đó. Ngày chia tay, NđV chở Dung trên chiếc xe Vespa đưa cô ra bến xe đò An Đông kèm theo một món quà tình nghĩa. Trong thời điểm đó, thú thật tôi chưa đủ “trưởng thành trong lăn lóc” để có thể nghĩ tới một hành động nghĩa hiệp đầy cao thượng đó. Tâm cảm phục và ghi nhớ hành động nghĩa hiệp của bạn NđV... Biết bao nhiêu cô gái quê lên tỉnh lăn xả cuộc đời mình làm một người tình chăn gối, một người “vợ hờ” với những người lính viễn chinh xa xứ và kết thúc có thể kém may mắn và thơ mộng so với cô Dung rất nhiều. Vài năm trước ngày miền Nam bị thất thủ dưới sự tràn ngập của quân đội miền Bắc, ở Sài Gòn còn có những hiện tượng “bề hội đồng”, mà có lẽ đó là tâm tâm trạng "hiện sinh" và phó mặc trước sự chán chường chiến tranh của thanh niên, chất chứa tinh thần bất an trong một xã hội đã bị các phía tạo nên cuộc chiến, gián tiếp gây ra một cách bất lương. Từ ngành học báo chí (bao hàm nghĩa "điều tra và phóng sự"), tôi đã từng có dịp chứng kiến, hay nói đúng hơn là "tham dự nhưng không đủ can đảm tham gia" để quan sát cảnh một tốp chừng ba, bốn thanh niên- sinh viên dùng thuốc kích thích, thuốc an thần Valium 5 trước khi “bề hội đồng” một cô gái ‘giang hồ’ – mà cô ta thật ra là một người con gái nhà lành có khi chỉ vì ham chơi, đua đòi rồi "hỏng chân" lún sâu vào cuộc sống bất chấp ngày mai. Nhìn những cảnh đó, tôi tái tê và đau xót cho số phận chung của người Việt… Tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc với những người bạn như đã kể. Không hề tự khoác lên người nhau chiếc áo địa lý vùng miền hay tôn giáo. Trong cuộc sống có nhiều điều cần thiết để chia xẻ và đáng trân trọng hơn là những tra vấn, khắc khoải về vấn đề chân lý của tôn giáo, thượng đế, tâm linh... Sự sống hiện hữu là bởi hạnh phúc hiện hữu. Câu hỏi được đặt ra "--hạnh phúc" là gì, và làm thế nào để tạo ra và duy trì hạnh phúc cho con người và xã hội. Đó mới chính là vấn đề.
Tôi vừa mới được đọc bài bút ký của nữ nhà văn Túy Hồng viết về người chồng quá cố của mình -nhà văn Thanh Nam. Tôi thích lối viết thực, thẳng thừng của nhà văn nữ này. Những dòng chữ của bà là một thách thức với cái “giả”, cái huyễn tượng. Trong tâm hồn của người phụ nữ này quyện chặt một cá tính mạnh rất ‘masculin.’ Có thể ông Thiệu khi làm tổng thống là người biết cảm nhận 'cá tính mạnh' đó, nên đã "đồng lòng" trao giải văn chương cho tác giả “Những Sợi Sắc Không” chăng? Đọc đến tình tiết cái phẩm chất quý trọng bạn của cố nhà văn Thanh Nam cũng như sự “may mắn” là ông đã có những người bạn tốt quanh đời mình làm tôi liên tưởng tới biến cố của website giaodiem.com và nhóm từ thiện GĐ... từ một năm qua. Nhưng không biết tại sao khi tôi làm báo, viết văn chung với một vài anh em từ tờ Thanh niên Hành động cho tới mạng lưới GĐ sau này, tôi đã xa lánh những tình bạn cũ? NkK có vài lần từ Orange County về đây tìm gặp tôi mà không gặp tôi được, NđV... và bao nhiêu người bạn cũ khác rủ rê mời gọi mà tôi đã cố tình rào dậu chung quanh mình. Như thể để cho tình bạn cũ cứ lửng lơ đừng bị sứt mẻ, hay không muốn gặp nhau để rồi phải giải thích, phân trần, tranh luận... hay sẽ làm cho tôi chao đảo với những việc tôi làm?? Liệu chúng ta có nên định nghĩa lại thế nào là một sự tương quan tạo nên “tình bạn”. Có cần phải phân biệt và phân loại về từ nghĩa “Bạn” trong từng nhóm, từng công việc, từng bản chất của sự hợp tác, động cơ đưa tới sự quen biết…xuất phát từ chính trị quyền lợi, tôn giáo, văn hóa, hay văn nghệ, văn chương…hay chỉ bởi cái "tình" thuần chất, để từ đó có thể đặt ra những nguyên tắc về sự ứng xử, ứng đối trong đời sống?
|
© copyright giaodiem.us | 2009