đăng ngày : 24.6.2009
|
|
|
Vài lời mở: Vào đầu Xuân năm nay, có một sự kiện mà cộng đồng người Việt chúng ta ở nước ngoài ít người lưu tâm tới. Đó là sự kiện một người Hàn quốc họ Lý (hậu duệ sau cùng của dòng họ Lý, có huyết thống với Lý thừa Vãn) xuất hiện ở Nhật Bản, được một vài tờ báo Tây phương đưa tin. Vị hậu duệ nhà Lý này đã lên tiếng chỉ trích lãnh tụ cộng sản Bắc Hàn Kim Jong-ll (con nối nghiệp của lãnh tụ độc tài cộng sản của Kim II Sung) là một kẻ khùng điên qua trò chơi dùng vũ khí nguyên tử để ‘blacmail’ với hòa bình của thế giới và vùng Á châu Thái Bình dương. Vị hậu duệ dòng Vua nhà Lý này mong ước một ngày Hàn quốc được thống nhất trong hòa bình để trở về quê hương. Ngày hôm qua (21.5.07), lần đầu tiên một chuyến tàu hỏa bắt nhịp cầu thống nhất Nam-Bắc Hàn, có thể là dấu hiệu tốt cho” lời mơ ước” đó. Theo dòng sử Việt, nhà Lý của Hàn quốc xuất phát từ nòi giống Việt… “Mổ xẻ một trớ trêu của lịch sử” của học giả Lê văn Lân càng làm sáng tỏ thêm một khía cạnh lịch sử khác về cái “trớ trêu” của nòi giống Việt, vừa đáng tự hào, nhưng cũng đầy tủi nhục. Hội Tụ. Posted : 23.5.2007
Lê văn Lân ___________________________ MỔ XẺ MỘT TRỚ TRÊU CỦA LỊCH SỬ hay Chuyện những đồng bào Việt ta sống tại Trung quốc từ 500 năm nay !
Thế nào là sự trớ trêu ? Việc gì dù lớn nhỏ xẩy ra ở đời cũng đều phát xuất từ một nguyên nhân. Ðó là qui luật. Nhưng đôi khi có những trường hợp đột biến hay những nguyên nhân quá sâu xa bí ẩn hay bất ngờ vượt ra khỏi sự giải thích thì người ta bèn gọi đó là những trớ trêu của định mệnh chăng? Chẳng hạn như chúng ta hiện nay là những di dân tỵ nạn Việt Nam tản mác hơn 2 triệu người trên hoàn cầu có thể nghĩ rằng đó là do dun dủi bất ngờ sau ngày 30 tháng 4 1975, chứ thực ra đã bắt nguồn từ ý niệm rút chân ra khỏi cuộc chiến Việt Nam của chính trị Hoa kỳ thời tổng thống Nixon, dàn dựng sơ khởi công khai bằng cuộc ngoại giao bóng bàn năm 1972 hoặc từ những cuộc bàn thảo thậm thụt đi đêm vào nhiều năm trước! Kể về những sự trớ trêu hay đa đoan của lịch sử Việt Nam thì cũng có khá nhiều. Ðặc biệt nhất chỉ xin nhắc lại chuyện Trần Thủ Ðộ đời Trần, nếu nhân vật này sau khi bức tử vua Lý Huệ tông, không có chính sách tàn ác làm cỏ tận diệt họ Lý vào năm 1232 thì lịch sử nước Ðại Hàn làm sao ghi danh hai vị tướng quân lừng lẫy họ Lý và một tổng thống Lý Thừa Vãn qua cuộc dong thuyền đào thoát tỵ nạn khỏi Việt Nam của hoàng tử Lý Long Tường lưu lạc đến xứ xa xôi này! Khúc ruột bị oan uổng cắt lìa ! Một sự trớ trêu lịch sử trứ danh khác mới xẩy ra cách đây hơn một trăm năm là chủ đề của bài viết này: Ðó là chuyện Ba làng người Việt bỗng dưng bị oan uổng lọt sang lãnh thổ của Trung quốc qua những ngòi bút ký kết ngoại giao về biên giới Việt nam giữa Pháp và Trung quốc vào cuối thế kỷ 19. Ðề tài này trước đây vào năm 1996 tôi đã thuyết trình ở Montréal (Canada) dưới nhan đề Khúc ruột bị cắt lìa , và sau đó được đăng nhiều lần trên nhiều báo Việt ngữ hải ngoại. Lần này tôi xin khai triển lại đề tài này với nhiều dữ kiện lịch sử và văn hoá mới được cập nhật hoá do tra cứu thêm, nhắm vào mục đích khuyến khích người Việt mình tạo dịp du lịch thăm những người đồng bào Việt tộc và tìm hiểu tại chỗ những khía cạnh sinh hoạt của họ sau nhiều thế kỷ xa lìa quê hương mẹ có gì thay đổi không về ngôn ngữ, phong tục văn hóa v.v... Biết đâu những chuyến du ngoạn sẽ trở thành một sự du khảo hữu ích trên nhiều phương diện lịch sử và văn hóa. Hoàn cảnh của hậu duệ con cháu của chúng ta lớp người Việt tỵ nạn hiện tha hương về sau này sẽ giống hay khác hoàn cảnh của những người Việt tộc trên đất Trung hoa thế nào? Dù sao thì giữa ta và họ đều có một mẫu số chung về tình cảm đồng bào bàng bạc lưu luyến qua hình ảnh những đứa con quê Việt lận đận lạc loài. Kinh hay Việt tộc Ba làng người Trung hoa gốc Việt tộc đang sinh sống phát triển trong nội địa nước Tầu hiện nay không phải là một điều bí mật hay rất ít người biết nữa như trước đây. Trái lại, nó được chính thức kể như một trong số hơn 50 sắc dân thiểu số tại Trung Hoa, tổng cộng dân số chiếm khoảng 6.6 % toàn thể của dân số của quốc gia này là một tỉ ba nhân khẩu. Riêng về Việt tộc còn gọi chính thức là Kinh tộc (the Jings)- có con số nhân khẩu khiêm tốn gồm khoảng hơn 15 ngàn người, tụ cư sinh sống trong ba hòn đảo nhỏ là Vạn vĩ (Wanwei), Ô đầu (Wutou) và Sơn tâm (Shanxin) trong vùng tỉnh Quảng Tây. Hình ảnh cô gái Việt hay Kinh tộc xinh đẹp với cái nón lá hình chóp đã được tài liệu hay bích chương du lịch của Trung hoa trưng lớn lên như mời mọc du khách quốc tế, chẳng hạn như cuốn China Welcomes you! (Trung hoa hoan nghênh nị!) Edition 1998 để trong những khách sạn 5 sao cho du khách đọc. Sau đây là những điều cụ thể mà tôi đã tra cứu cẩn thận nên trình bày ra để chia xẻ cho những ai đồng chí hướng thích sự ngao du thích thú sưu tầm: Tài liệu về lịch sử và sự phát triển, sinh hoạt của những người Kinh hay Việt tộc (mà tôi tạm dùng chữ Kinh Việt viết tắt là KV trong bài này) được mô tả rất đầy đủ trong những sách của Trung hoa như : - Dân tộc tri thức thủ sách ( Dân tộc Xuất bản xã năm 1982) viết bằng Hoa ngữ ( xin viết tắt là DTTT khi nhắc lại ở sau ) - Trung hoa dân tộc phong tục từ điển ( Giang Tây giáo dục xuất bản xã năm 1988) ( viết tắt là DTPT ) - China s Minority Nationalities (Foreign Language Press năm 1989) bằng Anh ngữ ( viết tắt là CMN ) Qua ba tài liệu trên, chúng ta được đọc khá đầy đủ về Kinh Việt tộc mà tôi trình bầy sau đây cọng với một vài lời bàn hay dẫn giải bình chú của riêng tôi. Những danh từ Hoa ngữ trong bài đọc theo âm Việt sẽ được hài ra bằng Hoa văn ở phần chú thích phụ bản. Nguồn gốc Kinh Việt tộc Ðược coi là một trong những dân thiểu số của Trung hoa, Kinh Việt tộc chủ yếu nằm rải ra ở các địa khu của những dân tộc tự trị ở vùng duyên hải thuộc khu Phòng thành của tỉnh Quảng Tây. Theo thống kê 1982, Kinh Việt tộc có 11 ngàn 995 nhân khẩu. Hồi trước Kinh Việt tộc là một bộ phận của nòi Lạc Việt thời xa xưa, nhưng vào đầu thế kỷ thứ 16, họ là những ngư dân từ vùng Ðồ sơn của Việt nam thuộc vùng ven biển Hải phòng đã lục tục di cư đến địa điểm bây giờ. Ðiạ bàn tụ cư của họ nằm trên ba hòn đảo nhỏ gọi là ba làng là Vạn vĩ, Ô đầu và Sơn Tâm thuộc huyện Giang Bình nên người ta quen gọi là Kinh tộc tam đảo . Rồi trải bao nhiêu thời gian 500 năm , dân Kinh Việt cứ yên thắm sống quây quần riêng rẽ cùng giống với nhau (đồng chủng tụ cư) trong một vùng mà nhà nước Trung hoa gọi là Tự trị khu chen với những sắc dân thiểu số khác đông hơn như Choang, Dao trong tỉnh Quảng Tây. Có lẽ chính vì thế, dân Kinh Việt đã thành lập cho mình một cọng đoàn riêng biệt không đồng hóa với những sắc dân khác và do đó, họ còn giữ tiếng nói và phong tục tập quán từ quê mẹ một phần lớn. Mãi cho đến cuối 1952 nghĩa là hai năm sau 1949 khi chính quyền Trung Cọng chiếm toàn lục địa Trung hoa thì mới bắt đầu cho thành lập ba thôn làng là Vạn vĩ, Ô đầu và Sơn Tâm để rồi 1958 thì ba làng Kinh Việt này hợp cùng các làng khác của dân Choang và Dao để làm thành huyện tự trị Ðông Hưng. Vào cuối năm 1979 thì các huyện tự trị này họp thành trấn Phòng Thành tự trị cho đến nay. Tiếng nói và Văn tự của người Kinh Việt thế nào ? Dân Kinh Việt tộc tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay Việt và có một văn tự gốc gọi là chữ Nôm ( các sách Tàu phiên là Tự Nam ). Ðương nhiên, từ lâu vì sanh sống tiếp xúc với sắc dân láng giềng, họ cũng nói tiếng địa phương vùng Quảng Châu và xử dụng Hán tự như đám người Miên Khmer Cờrom ở Việt nam nói và viết tiếng Việt. * Tiếng nói Kinh Việt Nguồn gốc Kinh ngữ (hay Việt ngữ) theo Dân tộc Từ điển của Thượng hải (1987) có thể thuộc vào hai giả thuyết trên ngữ hệ: thứ nhất là thuộc Hán Tạng ngữ hệ, thứ hai là thuộc Nam A¨ ngữ hệ. Theo sự phân tách của sách này, Kinh (hay Việt) ngữ rất gần tiếng các dân tộc Choang (Tráng) và Ðồng được phân bố tại các huyện tự trị lân cận. Kinh Việt ngữ có 28 thanh mẫu, 106 vận âm. Nguyên âm KV chia thành nguyên âm dài và nguyên âm ngắn. Phụ âm vận ở cuối từ có 6 vận là:(-k), (-m),(-n),(-ng), (-p), (-t), ví dụ như cac(k), nam, man, mang, map, mat. Thanh điệu có 5 bực là : trung bình, đê giáng, khúc triết, cao thăng, đê bình, tức là năm dấu giọng. Về ngữ pháp, dân KV không nói ngược như dân Hán như họ gọi Ông Thôn để chỉ chức trưởng thôn xã, Ông Kiểm để chỉ chức kiểm soát an ninh trật tự. * Chữ nôm của Kinh Việt Viết về chữ Nôm của ba làng KV này, tài liệu Anh ngữ China's Minority Nationalities (CMN) nói thật rõ như sau: Người Kinh có một thứ văn tự ghi chép riêng của họ gọi là Chữ Nôm ( chữ Hoa ghi là Tự Nam, chữ Anh phiên âm là Zinan). Ðược cấu tạo dựa trên căn bản của Hán tự vào cuối thế kỷ 13, chữ Nôm nay được lưu truyền trong những sách thi ca cũ và những bộ kinh tôn giáo Chúng ta chưa thấy tự dạng và cấu trúc của nó ra sao, nhưng chắc chắn nó phải là chữ Nôm của Việt nam vào cuối đời Hậu Lê chắc chắn nó phải thuần cổ và chính thống hơn chữ Nôm của ta từ nhà Nguyễn về sau. Nếu ta sưu tầm được chữ Nôm Kinh Việt này, chúng ta có thể hiểu nhiều tiếng Việt thời cổ hơn. Khi tra cứu về phong tục tập quán của Kinh Việt, tôi thú thực nhiều khi phải bối để phỏng đoán về những từ ngữ mà sách Tầu dùng Hoa văn để phiên âm hay chuyển nghĩa những tiếng nôm Việt. * Phong tục tập quán của dân Kinh Việt Ta thử xem 500 năm qua xa xứ người Kinh Việt còn giữ dấu tích gì của quê hương mẹ không? * Y phục của dân Kinh Việt ra sao ? Y phục của người Kinh rất đơn giản và thực tế cho cuộc sinh sống lao động vì nguồn gốc của họ vốn là ngư dân từ Việt nam. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, trên đầu đội quấn một cái khăn rằn, dưới mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ đeo bông tai. Tóc phụ nữ phần lớn rẽ ngôi ở giữa và tóc xỏa hai bên, phía sau lại dùng vải đen hay khăn đen buộc lại. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và đặc biệt có thắt giải lưng điều hay màu khác. Bây giờ người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số ít bà cụ già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn búi tó và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì đương nhiên ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác. Một điểm về màu sắc là phụ nữ Kinh Việt khoái mầu vàng và mầu nâu non, vì hàng năm vào ngày quốc khánh của Trung quốc thì có đội nữ dân quân Giang Bình chít khăn vàng, mặc áo nâu non, quần đen, vai đeo súng, lưng thắt băng đạn đi diễu binh trước khán đài (àng Việt biên thùy SGGP ngày 20 tháng 8 năm 1995 ). * Ẩm thực của Kinh Việt ra sao ? Dân Kinh Việt ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn cá tôm cua. Ngày Tết, họ thích ăn xôi chè nếp (hỉ hoan cật nhu mễ phạn hòa nhu mễ đường chúc - THDTPTTÐ). Họ làm nước mắm tuyệt ngon để chấm và nêm thức ăn thường xuyên trong bữa ăn mỗi ngày. [ Phong tục từ điển Tầu gọi nước mắm này không phải là tiếng văn chương ngư lộ - nước cam lồ của cá - mà gọi là niệm trấp chữ niệm này viết với bộ Ngư là cá, và chữ Niệm làm tượng thanh như kỷ niệm, có lẽ để phiên âm chữ Nêm của tiếng nôm Việt ? Ðảo Sơn Tâm của Kinh Việt tộc chuyên chế tạo Nước nêm chấm thơm ngon độc đáo nên được phong cho mỹ từ quê hương của nước nêm chấm niệm trấp chi hương ] Một điểm lý thú là dân KV thích ăn hai món sau, ăn hoài không ngán: Ðó là Bánh đa bằng bột gạo có rắc mè nướng trên than hồng mà sách Tầu chép là Phong suy yết bánh phồng do gió thổi! và Bún riêu, bún ốc mà sách Hán tự ghi là Hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc. * Tập quán quan hôn tang tế của người Kinh Việt + Nhà cửa của dân Kinh Việt thì thấp, làm bằng gỗ hay tre đan thành phên. + Tục tang ma thì theo thổ táng nghĩa chôn dưới đất không có gì đáng nói. + Phong tục về luyến ái và hôn nhân của người Kinh Việt có nhiều điểm cần nói. Hôn nhân của họ là một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau. Về sự luyến ái và hôn nhân của dân Kinh Việt, tôi thấy có vài điểm đáng ghi nhận sau: _ Tục đá cát ( kích sa ) và hái lá cành ( thích mộc diệp ) của trai gái lúc lơn và ve vãn nhau. Tục này xảy ra ngày Tết hay vào những đêm liên hoan vào mùa nghỉ lưới cá, các chàng trai lấy mũi chân đá cát hay ném những nhánh cây lá vào người những cô gái mình để ý yêu thương để tỏ tình như tục ném confetti của Tây phương, nếu các nàng khoái ý thì cũng đáp lại như vậy. _ Tục So guốc mộc ( chuyên mộc kịch ) là một đặc thù cổ tục của Kinh Việt: Sau khi trai gái đều chung tình một lòng yêu nhau và lấy nhau thì họ bèn kiếm môi nhân hay người làm mai ( viết chữ nôm là......) để giúp mình. Mỗi bên trai gái phải tự mình nghĩ ra một bản tình ca hay để làm tin cho đối phương nghe, đồng thời làm riêng một chiếc guốc gỗ vẽ trang hoàng hoa lá, hai chiếc này phải so kỹ lại thành một đôi thật khít khao thì hôn sự mới thành, còn nếu không thì bị coi như là không xứng hợp chẳng nên vợ nên chồng. Tuy nhiên, thông thường, do tài khéo léo cố ý tác hợp của bà làm mai , trai gái đều khả dĩ thành đôi lứa cả! Tục này xem ra lý thú vô cùng, nó chứng tỏ dân Kinh Việt toàn là những nhà thơ và ca sĩ bẩm sinh (born poet and songster) cả và có một nền văn hóa rất trữ tình. Tôi xin trích dẫn nguyên văn lời chữ Hán để làm bằng kẻo bạn đọc cho là khó tin: Ðương nam nữ song phương hỗ tương chung tình hậu, phân biệt trảo đáo lam mai (môi nhân), bả tự kỷ tưởng hảo đích nhất thủ tình ca, đại vi truyền xướng cấp đối phương thính, đồng thời tống nhất chích miêu hữu hoa thảo đồ án đích mộc kịch, nhược lưỡng chích hợp thành kháp thị nhất song, hôn nhân tiện thành, phủ tắc tiện bị nhận vi mệnh bất tương hợp. Bất quá, do vu lam mai đích hữu ý toát hợp, nhất ban quân khả thành song. _ Tục Lễ bàn là một nghi lễ hôn nhân do nhà trai nhờ một người có uy vọng trên đảo của mình ở giúp đỡ thiết trí. Ðó là một mâm đồ án hỉ khánh ở giữa bày nào là các loại táo đỏ, táo đen, cau trầu, trà và đường phèn v.v... Thường là sau khi hai đàng trai gái hoàn thành thủ tục so guốc gỗ bèn nhờ người làm mai chọn ngày giờ tốt (giai kỳ) thì tiến hành nghi thức lễ bàn . Nhà trai kiếm một người giỏi ca hát lúc này qua nhà gái. Ðặc điểm đáng lưu ý là suốt cả tiến hành nghi thức tống tiếp này, người ta chỉ lấy tiếng ca thay lời nói, bên ca bên đáp, cho đến lúc nào hai đàng trai gái vui vẻ hài lòng thì ca thủ của bên nhà gái mới tiếp nhận lễ bàn, hôn sự mới chính thức quyết định thi hành. (Xin trích nguyên văn: Chỉnh cá tống tiếp nghi thức quân dĩ ca đại ngôn, nhất xướng nhất đáp, trực đáo song phương tình mãn hứng tận, nữ phương ca thủ tài tiếp quá lễ bàn, hôn sự tài chính thức định thành). Thành ra tục lễ bàn coi như lễ giạm hỏi bây giờ, chỉ đặc biệt là dùng lời ca thay lời nói cầu hôn. _ Tục Nhận thân là hai họ nhìn nhận thân gia: đây là sự hoạt động của hai đàng trai gái mật thiết quan hệ với nhau vào buổi tối của ngày tống lễ bàn . Tân lang dưới sự bang trợ bồi bạn của một người bạn giỏi ăn nói và hát ca ( người này theo tiếng Kinh Việt ghi bằng Hán tự là đái trung , không biết đọc ra sao ?) đến nhà đằng gái để làm lễ nhận thân , đặc biệt là suốt quá trình buổi lễ phải ca hát thay lời nói! (toàn quá trình dĩ ca đại ngôn!). Ðể thử tài học và trí huệ của tân lang, ca thủ của bên nhà gái bèn cố ý làm khó, chòng ghẹo tân lang, cho nên vai trò của người đái trung như là một người đội trưởng hay M.C. thời nay- phải có cơ trí mà ứng phó cho thích đáng, nếu không thì dễ khiến ca thủ bên đằng gái cười chọc mắc cở cho đến đỏ mặt tía tai, lúng túng khó khăn. Màn hí kịch nhìn thân gia bằng ca hát huyên náo diễn ra như vậy cho đến lúc gà gáy sáng mới tan. _ Tục Quan tạp là tục khi rước dâu được dàn dựng như sự diễn kịch về ca xướng: Tân lang không ra mặt đi trước mà nhà trai tuyển chọn những người nam nữ ca hát giỏi làm đại diện đi qua nhà gái trước. Nhà gái lại đóng cửa kỹ nhưng trước mặt nhà và lối đi thì kết hoa treo đèn sặc sỡ làm thành ba cổng chào gọi là môn lâu , lại lấy những giải dây màu dăng chặn ba lớp hàng rào gọi là quan tạp , lớp rào đầu thì các mối dây do các nhi đồng giữ, còn hai lớp rào sau thì do các nam nữ thanh niên ca thủ giữ. Phái đoàn ca thủ của đằng trai muốn vượt qua ba lớp cửa ải quan tạp thì phải ứng đối trôi chẩy bằng những bài ca thì đằng gái mới mở từng cửa cho qua. Sau khi mọi người hai họ trai gái vào nhà thì mới chúc tụng và ăn uống tiệc bàn, xong rồi cô dâu lạy cha mẹ ruột mình về nhà chồng. [ Tục quan tạp này, có lẽ là chữ Hán phiên chữ Nôm gì đó tôi chưa rõ? nhưng- đọc âm Hoa Bắc kinh là quan chạ ; tục này chính là tục Ðóng cửa, giăng giây mà Phan Kế Bính có tả trong cuốn Việt Nam Phong tục. Dân làng xóm thường bày ra chuyện giăng giây, bày hương án hay đốt pháo trên đường mục đích để xin tiền. Theo ông Tạ quốc Tuấn (Dallas), tục này còn gọi là lan nhai nghĩa là ngăn đường không cho đám cưới đi qua nếu không trả tiền, nếu chỉ lì xì ít tiền thì bị nói chửi bậy bạ nên ai cũng phải nhường. Vì tục này quá nhũng nhiễu, nên trong luật Hồng Ðức, vua Lê Thánh tông phải ra lệnh cấm]. Về phương diện tôn giáo thì trừ một thiểu số theo đạo Thiên chúa, phần lớn dân Kinh Việt theo Phật giáo, cúng vái đủ thứ thần thánh và sùng bái tổ tiên. _ Ngôi Hát hay Ca Ðình và tục Hát Tết :Ðặc biệt mỗi làng đều có một ngôi đình làm nơi tế tự thần linh, để bản hương ước và làm nơi họp bàn của các hương chức cùng là nơi dân làng tổ chức lễ lạc. Ngôi đình theo tiếng Kinh Việt được dân gọi là Hát Ðình hay Ca Ðình , vì đây chính thức là nơi dân tổ chức một truyền thống dân tộc là hội Hát Tết . Ðình làng cất bằng mộc liệu hảo hạng, kiến trúc nghiêm cẩn, ngoài trông mỹ lệ, nội thất thì rộng rãi, phô bày những nét vẻ riêng của dân tộc. Trong đình thờ đặc biệt thần vị một vị Ca Tiên mà theo truyền thuyết Kinh Việt là người đã cổ động nhân dân phản kháng những cơ cực áp bức, bên cạnh vì dân làng chuyên ngư nghiệp nên còn thờ thần vị Trấn Hải Ðại vương . Ngôi đình có ba công dụng: làm thần miếu, nhà thờ họ và âm nhạc sảnh. Bà Ca Tiên là ai, tôi không thấy Phong tục Từ điển nói đến họ tên mà chỉ thấy trong phần về hội Hát Tết ghi như sau: Tương truyền bảy tám trăm năm về trước vào khoảng thế kỷ 12 dân KinhViệt dưới ách thống trị của phong kiến áp bức bóc lột nên dân chúng khổ sở vô cùng hết nói. Do đó, một vị nữ ca tiên đến với họ, lấy danh là truyền dạy ca hát nhưng cổ động mọi người nổi lên phản kháng. Giọng hát của bà rất du dương nên dân Kinh Việt thích nghe. Từ đó về sau, dân này bèn lập ngôi Hát Ðình để cung phụng thần vị của bà và tổ chức hàng năm ngày hội Hát Tết hay Ca Tết . Hội này tổ chức không nhất định vào ngày nào mà là tùy theo địa phương : hoặc là mồng một tháng sáu âm lịch như ở Ô vĩ và Vu đầu, hoặc ngày mồng 10 tháng tám âl. tại Sơn tâm, hay ngày rằm tháng giêng âl. như tại Hồng khảm thôn ở bờ biển. Nhưng nói chung, cơ bản tổ chức của các nơi đều giống nhau. Trước ngày hội, dân làng phải thu quén việc nhà và nông vụ và trang hoàng ngôi Hát Ðình lại như mới. Thông thường có ba vai trò tối quan trọng cho ngày Hát Tết: -- một vị nam ca thủ gọi là Xướng Ca (anh cả), chuyên chơi đánh đàn hòa tấu -- hai vị nữ ca thủ gọi là Hát Muội luân lưu ca xướng: người ca muội chính đứng hát chính giữa đình, tay cầm hai cái sênh gỗ nhỏ vừa hát vừa nhịp; còn người ca muội kia thì ngồi một bên gõ phách tre, cùng hát phụ họa những bản ca nông khúc trong tiếng đàn bằng những giọng trong trẻo ngọt ngào. Trong khi đó thì tiến hành cuộc tế lễ thần thánh, tổ tiên và đẩu ngưu thần một cách đại qui mô trong bầu không khí nghiêm trang. Những người Hán, Choang ở các vùng phụ cận cũng đến tham dự lễ bái, làm ngôi đình thường ngày u tĩnh trở nên náo nhiệt lạ thường. -- Sưu tầm sự tích bà Ca Tiên của dân Kinh Việt: Tôi không thấy các sách Tầu nói họ tên của bà này, nhưng qua lời truyền thuyết là một vị nữ anh hùng vào thế kỷ 12 dùng lời ca tiếng hát phấn khích dân chúng nổi lên chống ách thống trị của phong kiến bóc lột. Như vậy : Sinh hoạt văn hóa và văn nghệ Kinh tộc ra sao ? Dân tộc Kinh rất ưa thích lối hát đối đáp giao tình giữ trai gái (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ngoài Bắc ta bây giờ! (Tài liệu Anh ngữ CMN của Trung hoa về Kinh tộc đã dùng chữ rất đúng để dịch chữ hát đối hay hát đúm vì Antiphon là lối hát chia thành nhiều phần đối đáp và xen kẽ luân phiên _ Antiphon is a hymn, psalm etc...chanted or sung in responsive and alternating parts Webster s New World Dictionary). Lối hát đúm hát đối này thường được dân Kinh long trọng diễn vào ngày Tết của họ mà họ gọi là Hát Tết ( viết theo chữ nôm của họ là .......). Hát đúm, hát đối là do những cô gái gọi là Hát muội (Muội là em gái!). Tài liệu Hoa ngữ DTTT về Kinh tộc trang 91 đã đặc biệt khen rằng: Người Kinh trên phương diện sinh hoạt phấn đấu trường kỳ đã sáng tạo một nền văn hóa rực rỡ muôn màu, nội dung của nền văn học truyền khẩu thật phong phú, ca khúc và khúc điệu đạt đến 30 loại Ðàn bầu là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôỴ Phê bình về âm nhạc và dân ca của Kinh tộc, sách Hoa ngữ nói rằng : lời ca thuần phác, khúc điệu bình dị ít biến hóa Về chuyện ca hát thì dân Kinh Việt cũng có chèo theo những vở tuồng với nội dung bao quát những bài thơ tự sự, thơ triết lý, lại cũng có những vở ca tụng những anh hùng dân tộc hay những tình cảm bằng hữu và luyến ái trữ tình giữa trai gái. Về phương diện nghệ thuật, tài liệu Anh ngữ CMN nói thêm thật rõ về Kinh tộc như sau: Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống, cồng và cây độc huyền cầm (single-stringed fiddle) là cây đàn đặc thù của họ. Những truyện dân gian và cổ tích của họ rất nhiều. Những điệu múa ưa chuộng của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa (Xin mở trong dấu ngoặc là cụ học giả thông thái Nguyễn Khắc Kham có gửi cho tôi một phóng ảnh nhỏ về màn hát Tết của người Kinh phụ đề bằng Nhật ngữ có hình một điệu vũ nhẩy giữa những thanh tre dập nhịp nhàng . Hình này rất tiếc đã thất lạc khi tôi dọn nhà, mong rằng sẽ lục kiếm ra). Theo sách Dân tự trị thủ sách của Trung hoa, câu chuyện cổ tích mà dân Kinh hay kể là Truyện chàng Thạch sanh (mà cái tên Lý Thông phản phúc trong truyện được gọi và cải lại là Nguyễn Thông!). Ðàn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa trên hang mà về! Cái đàn tích tịch tình tang gẩy bằng que tre chính là cây đàn bầu nói trên Hoàn cảnh địa lý và Sinh hoạt kinh tế của ba làng Kinh Việt Dân Kinh Việt sống trong một vùng bán nhiệt đới, có mưa nhiều và lắm tài nguyên khoáng sản. Vịnh Bắc bộ ở phía nam là một nơi lý tưởng cho ngư nghiệp. Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch nhiều Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệu. Nước biển của vịnh Bắc bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ,và kê. Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất nhiều. Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da. Dân Kinh Việt sinh nhai chính bằng ngư nghiệp, còn nông nghiệp là thứ yếu, ví dụ ở làng Sơn Tâm thì 70% lợi tức của làng do ngư nghiệp, 27% do nông nghiệp còn lại 3% do các hoạt động khác. Trước đây, ngư nghiệp không phát đạt vì trang bị của ngư dân còn nghèo, phương pháp còn vụng về chậm tiến và nhất là không thể đánh cá ở biển sâu. Nông nghiệp cũng kém, mỗi mẫu tây chỉ thâu hoạch 750 kg thóc, chỉ đủ dự trữ ăn trong 3, 4 tháng. Do đó, dân Kinh Việt phải sống chật vật, đổi cá lấy gạo và các thứ nhật dụng hoặc làm thêm thủ công nghệ như đan đát tre hay nghề mộc. Hiện nay, tình trạng thay đổi nhiều trên ba làng dân Kinh Việt. Dự án ý nghĩa nhất để chuyên trị những cù lao đất bồi nghèo nàn là xây đắp 11 con đê để lấn đất ra biển và nối các hòn cù lao với đất liền. Một diện tích khoảng 400 mẫu đất được tạo dựng tương đương với 4 lần diện tích đất canh tác cũ. Nhờ vậy, dân Kinh Việt thường thiếu thóc ăn, bây giờ sản xuất dư để bán cho nhà nước (sic) như tài liệu Anh ngữ sách China's Minority Nationalities đã khoe trên trang 399. Về ngư nghiệp, những ghe thuyền gắn động cơ và nhiều dụng cụ đánh cá mới trang bị làm tăng gia sự có thể đánh cá ở biển sâu. Ngành nuôi ngọc trai đã thành một kỹ nghệ phát triển từ năm 1958 khi những trại nuôi trai sản xuất ngọc được thiết lập vào những vũng biển nước sâu lý tưởng cho loài trai tăng trưởng. Cũng từ năm 1958, cây cối được trồng trên một diện tích 433 mẫu đã tạo thành một bờ đai hàng rào chắn gió và cát di chuyển. Qua nhiều năm, trái cây như chuối, đu đủ, dừa, nhãn di thực từ vùng khác đã mọc sum xuê trên các vùng hải đảo. Làm sao thực hiện một chuyến du lịch vào vùng Kinh Việt Tam đảo ? Trước đây, Trung quốc đã có chánh sách đóng kín bức màn tre nên chuyện du lịch Trung Hoa là một vấn đề khó khăn thiên nan vạn nan với bao thủ tục và gần như mạo hiểm như chúng ta có thể phối kiểm những bài viết du khảo về Trung Quốc của Nguyệt san tạp chí National Geographic của Mỹ. Nhưng cho đến cuối tháng giêng năm 1986, thì 244 đô thị của Trung quốc được mở ra để du khách ngoại quốc có thể thăm với thông hành có chiếu khán và giấy phép hợp lể Kể từ đó, cơ quan Dịch vụ Du lịch Quốc tế của Trung hoa China International Travel Service viết tắt là CITS cùng nhiều công ty khác đã phối hợp chặt chẽ với công ty China Focus Inc.(viết tắt là CFI) hay Ritz Tours... tổ chức thường xuyên nhiều chuyến tuần du Trung quốc với giá cả tương đối rẻ bao gồm bao nhiêu thứ nào là vé phi cơ, vé xe lửa, vé xe buýt, vé thăm thắng cảnh, vé coi show cùng với những bữa ăn... Ðiều này chứng tỏ Chính quyền Trung quốc rất hoan nghênh sự thăm viếng của du khách để thâu ngoại tệ. Riêng về du lịch vùng Kinh Việt Tam đảo ở tỉnh Quảng Tây thì tôi chưa thấy phổ biến rộng rãi mặc dù trên nhiều tài liệu và bích chương du lịch của Trung hoa thường in hình cô gái Kinh Việt đội nón lá rất tươi với dáng vẻ mời mọc. Tôi nghĩ họ đang cần quảng cáo cho nhiều đô thị hay thắng cảnh nổi danh trước đã, để thu vào nhiều lợi từ khách quốc tế mà họ gọi là nguồn lợi big spenders Tuy nhiên, theo sự dọ hỏi của tôi với vài hướng dẫn viên du lịch địa phương ở Trung hoa thì công ty của họ sẵn lòng phối hợp với China Focus tổ chức những chuyến du lịch nhỏ kiếm ăn kiểu cò con phụ thêm (extension trip) vào những tours chính mà chỉ cần trả phụ trội một phí tổn tương ứng. Ví dụ chúng tôi vừa đi một chuyến 15 ngày du lịch trả khoảng 1550 Mỹ kim để đi một vòng qua các nơi như Bắc Kinh, Tây An, Quế lâm. Nam kinh, Hàng, Tô châu, Thượng hải, nhưng lại muốn đi thăm hai ngày ở Hàng Châu (gần Thượng Hải) nên chỉ trả thêm mỗi người 350 Mỹ kim thôỴ Tính ra mỗi ngày chỉ trả 150 Mỹ kim. Vùng Kinh Việt tam đảo thuộc tỉnh Quảng Tây nên tôi nghĩ có thể dàn xếp với công ty du lịch cho chúng ta thăm phụ thêm khi cái tour chính của chúng ta đi qua gần đấy như thăm Quế lâm, Quảng Châu hay Hồng kông miễn là chúng ta có ít nhất là 10 người cùng đi. Diễn biến quá trình định cư của dân Kinh Việt Tổ tiên người Kinh di cư từ Việt nam sang Trung quốc vào khoảng đầu thế kỷ 16. Thuở ban đầu thì họ định cư trên ba hòn đảo không người ở vì các vùng lân cận đã có người Hán và người Choang ( Trang tộc) chiếm cứ sinh sống rồi. Tuy sống chen vai thích cánh với người Hán và người Choang, người Kinh đã tạo dựng nên một khu lãnh giới riêng cho mình nhưng qua nhiều thế kỷ, họ đã hàn chặt nhiều mối liên lạc mật thiết với dân tộc láng giềng. Theo tài liệu Hương ước viết bằng chữ Nôm mà người Kinh còn lưu giữ trong ngôi đình của hai làng Ô - Vĩ, tổ tiên của Việt tộc tam đảo đã từ bãi Ðồ sơn (tỉnh Hải phòng - Việt nam) đến vùng đất này vào năm thứ ba đời Hồng Thuận. Tôi tra cứu cuốn Việt nam Sử lược của Trần trọng Kim thì biết rằng Hồng thuận là niên hiệu của vua Lê Tương Dực (1510 1516) vào cuối đời Hậu Lê như vậy dân Kinh hay Việt tộc đã bắt đầu chính thức di cư sinh sống lập nghiệp trên đất Trung Hoa vào năm 1512. Chúng ta thử phân tách tìm hiểu nguyên nhân nào thúc đẩy dân Kinh Việt này lại di cư qua đất Trung hoa? Nguyên nhân khả tín nhất có thể là do áp bức cai trị và sự đói kém chăng? Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, vào cuối đời Hậu Lê, nền chính trị suy đồi nên xảy ra nhiều giặc giã. Vua Lê Uy Mục (1505 1509), ham mê tửu sắc, giết nên quyền chính trị về tay kẻ cường thần, công thần thì bị đánh đuổi, dân sự bị hà hiếp, lòng người ta oán, thiên hạ mất cả lòng trông cậy, triều thần có nhiều người bỏ quan trốn đi. Vua này tính tình cực kỳ hung ác, ngồi uống rượu với cung nhân, lúc say thì đem họ chém đầu, lại có khi bắt quân sĩ lấy gậy đánh nhau để làm trò chơi đến nỗi sứ Tàu sang làm thơ gọi Uy Mục là Quỷ vương. Rồi đến vua Lê Tương Dực nổi lên vây kinh đô để giết Uy mục để tự lên ngôi vua, lấy niên hiệu Hồng Thuận trị vì từ 1510 đến 1516. Vua Tương Dực tính hay chơi bời và xa xỉ, xây cái điện 100 nóc, xây cái Cửu trùng đài, hao tốn tiền của, chết hại nhiều người. Rồi lại đóng chiến thuyền bắt đàn bà chèo chơi trên hồ Tây, lại hoang dâm tư thông với những cung nhân đời tiền triều, nên sứ Tàu cho rằng Tương Dực có tướng lợn hay Trư vương. Khắp nơi càng xảy ra nhiều giặc giã loạn lạc, dân tình càng đói kém khổ sở. Sách Ðại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái tả về giai đoạn vua Lê Tương Dực này như sau: Ðem binh vây bức đô kỳ, Quỷ vương khuất mặt, quyền về Trư vương. Lại càng dâm ngược, kiêu hoang, Trăm gian nghìn nóc, cung tường xa hoa. Lại càng bác tước (bóc lột) họ nhà Cành vàng lá ngọc đều là điêu linh. Do tình trạng trên, dân đánh cá bãi biển Ðồ sơn ở Hải Phòng mới có cảnh rủ nhau đi lánh nạn và mưu sinh. Sách Trung hoa dân tộc phong tục từ điển viết nguyên văn là : Việt tộc Kinh tộc chi cựu xưng. Cứ tải, Kinh tộc tổ tiên ước vu 16 thế ký sơ, do Việt Nam Ðồ Sơn đẳng địa lục tục thiên di đáo ngã quốc nam bộ địa khu... Như vậy cuộc di cư này không phải ồ ạt nhất thời hay ngắn hạn như cuộc vượt biên của dân tỵ nạn Việt nam bây giờ mà có tính cách lai rai kéo dài nhiều lớp, liền nối không dứt (như định nghĩa của Hán Việt Tự điển của Thiều Chửu về chữ lục tục ). Vì vùng đất của họ nằm gần như sát biên thùy Việt Hoa tức là huyện Móng Cáy tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam ngó qua Ðông Hưng của Trung Hoa, nên chúng ta có thể phóng đoán rằng ngày xưa giữa Trung hoa và Việt Nam không có con đường phân định rõ ràng về biên giới có tọa độ rõ ràng. Do đó, đám người Kinh Việt cứ thấy vùng nào đất trống không có ai ở thì tới cắm dùi lập nghiệp sinh sống, chẳng chính quyền nào kiểm soát. Vả lại vùng đất mà dân này đến cắm dùi sinh sống nguyên thuở 500 năm xưa là ba hòn hoang đảo khá gần bờ. Từ đất liền có nhiều mũi đất phù sa phóng ra nên tạo ra một khu đầm phá sình lầy có rừng tràm mọc rậm rạp, không ai thèm ở trừ dân đánh cá Ðồ sơn chọn làm chỗ dung thân. [Ðương nhiên hiện nay vùng này đã trở nên trù phú vì theo thời gian, vật đổi sao dời những mũi đất ngày xưa cứ mỗi ngày được phù sa ở giang khẩu mỗi bồi đắp thêm và được người ta đắp những đập kè để nối những hòn đảo với đất liền như ta thấy tả ở trên. Mũi đất Cà Mau và vùng Ðồng Tháp hoang vu hiện nay ở miền Nam vào nhiều thế kỷ sau chắc cũng phát triển tương tự !} Dân của ba làng đánh cá Việt tộc trải bao tuế nguyệt chắc đã sống thơ thới tự do ngoài vòng kiềm tỏa như chim trời cá nước! Chuyện hoạch định biên giới Hoa Việt phải đợi đến bốn trăm năm sau mới được sơ khởi nêu lên và bàn đến chính thức trong Hiệp ước giữa người Pháp và Thanh triều Trung Quốc gọi là Hiệp ước Fournier ngày 18 tháng 4 năm Giáp thân (11 5 1884). Theo Việt Nam Pháp thuộc sử (1884 -) của Phan Khoang, đây là hiệp-ước Trung hoa-Pháp đầu tiên về việc Bắc kỳ. Nguyên do là từ trước đến giờ, Trung Hoa vẫn nói rằng nước Nam là thuộc quốc của mình và lấy danh nghĩa này đem quân qua Bắc kỳ. Quân Pháp vào lúc đó đã làm chủ cả miền trung châu Bắc kỳ nhưng quân Tầu còn đóng ở Lạng sơn, Cao bằng và Lào-kay nên có sự trở ngại tắc nghẽn về sự giao thiệp giữa hai nước. Thế rồi, một sự kiện tình cờ xảy ra: Bấy giờ ở Trung hoa, có hai người Âu gặp nhau ở Hương cảng bàn chuyện gẫu qua cốc rượu về việc Bắc kỳ, đó là Trung tá Hải Quân Pháp tên Fournier, làm hạm trưởng tàu Le Volta gặp ông Ủy viên Quan thuế người Ðức ở Quảng đông tên là Détring. Cả hai đều quen Lý Hồng Chương của Thanh triều. Détring nói có thể điều đình với Lý-Hồng-Chương để giải tỏa tắc nghẽn giữa hai nước Pháp và Tàu nên Fournier cũng đồng ý. Détring nhờ viên Tổng đốc Quảng đông trình ý này cho Lý Hồng Chương, ông này bèn điện cho Thiếu tướng Lespès chỉ-huy hạm đội Pháp ở Trung quốc hải cho phép Trung tá Fournier đến Thiên tân thương thuyết với mình. Vì được chính phủ Pháp giao toàn quyền, Lespès ủy quyền cho Fournier đi phó hội. Do đó, mới có Hiệp ước mang tên Fournier , một nhà ngoại giao tình cờ!ø Hiệp ước gồm 4 khoản trên tinh thần chủ yếu về sự tương nhượng của hai nước. Ðại ý là Khoản 1 là: Nước Pháp chịu kính nể và bảo hộ biên thùy phía Nam nước Tàu giáp Bắc kỳ, chống với mọi sự xâm lăng và Khoản 2 là Trung quốc chịu rút quân ở Bắc kỳ ngay ra khỏi biên giới . Thế nhưng rồi chiến sự giữa Tầu và Pháp vẫn chưa ổn định vì nhiều biến cố khác. Sau khi hòa ước Fournier thành lập, thì Pháp tưởng là rảnh tay đối phó với Tầu bèn ép uổng Triều đình Việt Nam qua Hiệp ước Patenôtre ký ngày 6 tháng 6 năm 1884 (ngày 13 tháng 5 Giáp thân) phải nhận sự bảo trợ của Pháp ( nguyên chữ của Pháp là bảo hộ nhưng ông Nguyễn văn Tường cương quyết xin đổi là bảo trợ ). Hòa ước Patenôtre năm Giáp thân đã công nhận nước Pháp là chủ nhân ông của nước Việt Nam. (Một chi tiết rất nhỏ nhưng rất đặc biệt là trong khoản 8 của hòa ước, Pháp lập dây điện báo trên đường Saigòn _ Hànội do nhân viên Pháp khai trưng mà tôi sẽ đề cập ở sau). Ngay trong buổi ký kết, Patenôtre bắt nước ta từ nay chịu sự bảo trợ của Pháp và không còn là phiên thuộc của Trung hoa thì cái ấn Thanh triều phong cho vua Việt Nam khắc sáu chữ Việt Nam Quốc vương chi ấn phải giao cho họ giữ đem về Pháp. Nhưng ông Nguyễn văn Tường xin đem nấu chẩy phá nó đi. Thanh triều nghe thế rất giận cho là xúc phạm danh dự của nước Tầu cho rằng Pháp đã làm trái với hiệp ước Thiên tân và ra lệnh cho quân Tầu ở Bắc kỳ tiếp tục đánh Pháp. Sau đó thì chiến sự tiếp diễn với máu đổ nhiều qua những biến cố sau: Tầu đánh bại Pháp ở Bắc lệ, Pháp đánh Phúc châu và phong tảo Ðài loan, Pháp chiếm thành Lạng sơn, Tầu vây hãm Tuyên quang và Pháp đánh giải vây, Tàu chiếm lại Lạng sơn. Sự thể trên ở Bắc kỳ đã làm nội các Ferry đổ. Hai bên Pháp và Tâu thấy cuộc chiến tranh kéo dài, không có lợi bèn ký kết một hiệp ước khác ở Thiên tân giữa Patenôtre phía Pháp và Lý Hồng Chương phía Tầu vào ngày 19 tháng 6 1885. Qua hiệp ước này Tây đã phải nhượng bộ xì dầu hậu hĩnh cho Tầu làm sở hữu chủ mỏ đồng Tụ Long ở Bắc kỳ. Ðặc biệt là sáu tháng sau khi ký hòa ước này, hai nước sẽ phái người đến khám nhận biên giới Bắc kỳ và Tàu; chỗ nào cần thì họ sẽ trồng những mốc giới cho dễ trông thấy. Như thế, kể từ người Pháp can dự vào Việt Nam, có hai sự kiện đã phản ánh trong văn chương truyền khẩu của ta, đó là dăng giây thép điện báo và họa bản đồ nước ta hoạch định biên giới, đo đạc đất đai như trong câu hò sau: Mưa trên trời rơi xuống, Gió ngoài biển thổi vô Từ ngày quân ta thất trận đế đô, Tây qua giăng giây thép, lấy họa đồ nước Nam. Tôi nghĩ câu này không phải phát xuất từ cửa miệng bình dân chất phác, mà chắc chắn phải từ một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế mà làm ra một cách sâu sắc. Tuy rằng hiệp ước Thiên tân ký ngày 19 tháng 6 1885 có bàn luận về biên giới Hoa Việt nhưng phải chờ 12 năm sau, kể từ tháng 6 dl năm 1897, mới chính thức hoạch định ranh giới như hiện nay. Lằn biên giới hoạch định này chạy dọc theo kinh tuyến 108 độ 3 phút 13 giây, vùng nào về phía tây của kinh tuyến thuộc về Việt nam, còn vùng nào ở phía đông kinh tuyến thì thuộc về lãnh thổ Trung hoa. Do đó, vùng đất mà dân Kinh Việt chiếm cứ định cư trong bao nhiêu thế kỷ bỗng nằm lọt vào lãnh thổ Trung quốc. Rồi trải bao nhiêu thời gian, dân Kinh Việt cứ yên thắm sống trong vùng mà nhà nước Trung hoa gọi là Tự trị khu chung với những sắc dân thiểu số như Choang, Dao trong tỉnh Quảng Tây. Cho đến cuối 1952 nghĩa là hai năm sau 1949 khi chính quyền Trung Cọng chiếm toàn lục địa Trung hoa thì mới bắt đầu thành lập ba thôn làng là Vạn vĩ, Ô đầu và Sơn Tâm để rồi 1958 thì ba làng Kinh Việt này hợp cùng các làng khác của dân Choang và Dao để làm thành huyện tự trị Ðông Hưng. Vào cuối năm 1979 thì các huyện tự trị này họp thành trấn Phòng Thành tự trị cho đến nay. Bài viết có thể chấm dứt ở đây, nhưng nay thì lại xẩy ra một biến cố thời sự là Nhà nước Cọng sản Việt Nam mới tự nguyện cắt đất và cắt biển cho Trung Quốc. Chúng ta không biết gọi nó là gì, một tội lịch sử của người Cọng sản Việt Nam chăng? LÊ VĂN LÂN
© copyright giaodiem.us | 2006
|
© copyright giaodiem.us | 2009