đăng ngày: 07.4.08 | và 23.6.2009
|
|
|
Quy Cố Hương Nguyễn Văn Hóa Tôi trở về Việt Nam lần này từ giữa tháng 10 năm 2007. Một tháng sau, trở lại Mỹ trong 10 ngày để làm một vài giấy tờ cần thiết, rồi trở về quê hương vào gần cuối tháng Chạp âm lịch (còn hơn một tuần lễ nữa thì Tết Quý Mão), đầu năm 2008. Lần này có đem về một ít sách vở, đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh và quan trọng nhất là đem về được chiếc máy computer bàn (desktop) đã được trang bị bằng hệ điều hành Vista có license ở Mỹ. Hôm nay, tôi tính sổ đã được 5 tháng rồi, mà trong đầu thì cứ nhắc nhỡ sẽ viết một bài để tự chào mừng “quy cố hương” mà vẫn chưa làm được. Để “hợp thức hóa” chuyến trở về trước khi hồi hương thật sự, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu vấn đề phải thu xếp. Một mái nhà để trú thân. Một phương tiện để di chuyển. Một công việc phải làm gì đó để cho mình còn nhìn thấy một sự hiện diện hữu ích, nếu không thì chỉ có việc ngồi quán cà phê sáng chiều, lâu lâu đi ngao du sơn thủy… Và như thế là tôi phải đối diện với các thủ tục hành chánh rườm rà, lôi thôi đến có lúc mệt mỏi, chán nản pha lẫn chút thất vọng. Nhưng không dè, nó lại là một thử thách, một thách thức để kiểm tra lại xem tôi có thể làm được gì trong xã hội của một quê hương không hề cũ. Với thực tế đó, hầu như tôi không thể ngồi viết một bài văn cần hương vị tình cảm “trở về mái nhà xưa” được (*). Cuối cùng, tôi phải dùng Internet để nghe lại bản nhạc “Come back to Sorrento” của nhà soạn nhạc Ernesto de Curtis đã trở thành bất tử, trong nhiều lần. Bài hát Come back to Sorrento (đúng gốc từ nghĩa của nó là Torna a Surrento, tiếng dialect của người Neapolitan thành Naples) diễn tả nỗi lòng của chàng trai mong ngóng người yêu trở về “mái nhà xưa”, nơi chôn chặt một tình yêu thơ mộng, một thành phố nhỏ bên bờ biển nhưng đẹp nổi tiếng của thế giới. Trong mấy thế kỷ qua, Sorrento đã trở thành một nơi du lịch lừng danh của khách phương xa, đặc biệt có những nghệ sĩ, nhà văn, thi sĩ nổi tiếng như Lord Byron, Goethe, Wagner, Shelly, Keats, Tolstoy, Walter Scott, Lamartine và… đã đến đây trú ngụ trong nhiều lần. Trong thập niên 1950, có hai giọng ca Mỹ vang danh một thời là Dean Martin và Frank Sinatra đã từng hát bài nhạc này bằng tiếng Ý, tôi đã nghe lại nhưng không thấy thích bằng khi nghe hai giọng hát của Mario Lanza và đặc biệt giọng opera của Luciano Pavarotti với ban nhạc hòa âm phối khí Meatloaf, bằng lời Ý với giọng dialect Neapolitan của ông. Bài nhạc ấy được chuyển ngữ sang tiếng Anh như sau: Come back to Sorrento
Sunlight dances on the sea. Tender thoughts occur to me. I have often seen your eyes In the nighttime, when I dream.
When I pass a garden fair, And the scent is in the air In my mind a dream awakes, And my heart begins to break.
But you said good-bye to me. Now all I can do is grieve. Can it be that you forgot? Darling, forget me not!
Please don’t say farewell And leave this heart that’s broken. Come back to Sorrento, So I can mend.
Tôi phỏng dịch :
Xin em hãy trở về
Khi… tia sáng mặt trời nhảy múa trên biển những ý tưởng dịu dàng chợt đến anh…từng nhìn thấy đôi mắt em giữa đêm, trong giấc mộng
Khi… anh bước qua khu vườn với mùa hương hoa cam phảng phất trong hồn anh, giấc mộng đánh thức tim anh tan nát bởi em đã nói lời chia tay anh…chỉ còn là niềm khổ đau.
có thể nào em đã quên?
Nàng ơi, xin đừng quên ta đừng nói lời giã biệt xin nàng hãy trở về cho ta được hồi sinh.
Bài nhạc này được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng. Trong bản tiếng Anh, ai đó đã lướt bỏ yếu tố “hương hoa cam” mà trong hai bài gốc đều có (Siente sié’ sti sciure’ arancio –tiếng thổ ngữ Neapolitan), và trong tiếng Ý là ‘Senti, senti questi fiori d’arancio’. Mùi hương hoa cam là yếu tố rất quan trọng, vì vùng Sorrento là thổ sản của hai loại cây chanh và cam. Chanh, cam mọc khắp nơi, từ sân vườn cho ra tới đồng hoang. Bởi vậy ở đây còn có một thứ rượu nổi tiếng khác là rượu chanh…, cho nên tôi đã thêm ‘khi…anh bước qua khu vườn, với mùi hương hoa cam phảng phất’. Nội dung của bài nhạc này không liên quan gì đến tâm sự của tôi cả. Tôi không có người yêu nào để phải trở về quê hương gặp nàng. Còn như ví quê hương như một người tình, người yêu xem ra có phần sáo nghĩa. Song, tiếng hát của Luciano Pavarotti đã làm cho tôi xúc động thật sự. Luciano hát bằng linh hồn của mình! Nhờ vậy mà tôi có thể bỏ quên được những điều, những việc chướng tai, gai con mắt…ở cái thành phố có tên cũ rích là ‘Sè gòng’ ngày xưa này; ghi lại một đôi điều, nếu không sẽ quên. Trở về… Huế của mưa lụt tháng Mười Tuần lễ đầu tiên ở Việt Nam, tôi ở trọ nhà người thân hàng xóm của mẹ tôi trước đây thuộc phường 4, Tân Bình chừng một tuần lễ thì tôi lấy vé máy bay đi Huế. Phi trường Phú Bài không có gì thay đổi, nhưng đường phi đạo đã được mở rộng hơn. Trước khi phi cơ đáp, tôi nhìn thấy một dãi nước mênh mông của đầm Cầu Hai và chợt nhớ đến mấy bài viết trong tập san “Nghiên cứu Huế” của mấy ông tiến sĩ, chuyên gia nào đó về kế hoạch chống lũ lụt bắt đầu từ đầm Cầu Hai này –nhưng đến nay 6, 7 năm trôi qua rồi mà kế hoạch vẫn chưa hề nhúch nhích. Có lẽ họ viết để mà trả nợ cho cái ‘titles’ của mình vậy thôi, còn dự án có khả thi hay không, là chuyện của người khác/ của chính quyền chăng? Ở Huế chừng 5 hôm, tôi thuê một chiếc xe lên thăm chùa Trà Am, nơi chôn cất của giòng họ ‘Nguyễn như’ gốc An Xá, Lệ Thủy, Quảng Bình du Nam theo chúa Nguyễn vào đây để mở rộng bờ cõi, từ ông cao tằng, ông nội tôi…và cả trăm ngôi mộ khác. Trong giòng họ “Nguyễn như” của tôi, có người anh con ông bác là Nguyễn Đồng, người tật nguyền do chứng bệnh polio từ bé, nhưng tư chất thông minh, lại là người rất biết chăm lo đến mồ mả của tổ tiên. Trước 1975, Hội Terre des hommes đem anh qua Đức để chữa cái chân có tật nhưng không chữa khỏi hẳn, nay anh qua sống ở Mỹ, tự học để trở thành một đông y sĩ, y sĩ châm cứu đi khắp đó đây để chữa bệnh cho những người nghèo. Cũng như mẹ tôi, anh ấy biết rất rõ về xuất xứ của khu đất mênh mông ngay trong khuôn viên chùa Trà Am này ngày xưa là của ông cố tôi đã hiến tặng cho một vị sư nào đó. Trước đây chỉ là cái “am” nhỏ, nay biến thành ngôi chùa lớn hơn, cảnh trí rất thích hợp cho việc tu học. Đi chung với mấy đứa cháu đến thăm mộ tổ tiên để thắp nhang cho các vong linh quá vãng xong, tôi vào thăm sư trụ trì. Ông là vị sư còn trẻ, pha trà mời khách. Từ chuyện mưa nắng, Phật giáo… chuyển sang đề tài “lịch sử chùa Trà Am”, sư tử tế vào trong mang cho tôi xem một cuốn sách về lịch sử chùa, in từ hơn 30 năm về trước. Lướt qua mục lục và vài đoạn nói về người thành lập chùa, tôi không hề thấy một chi tiết nào đề cập đến việc người đã dâng tặng cái ‘am’ và khoảnh đất để gây dựng nên ngôi chùa ngày hôm nay. Mọi chi tiết chỉ đề cập đến dòng họ “Nguyễn khoa” thôi. Hình ảnh cụ thể nhất về gần 100 ngôi mộ bên cạnh chùa đủ làm bằng chứng về sự thật mà tôi đề cập. Trong tôi dâng lên một chút buồn là điều dễ hiểu. Nếu như lịch sử của một ngôi chùa mà viết thiếu đi một vài chi tiết cần thiết về sự hình thành của nó, thì vài chục năm nữa, lịch sử biết đâu sẽ tạo nên những ‘biện luận ngoan cố’ như biến cố ‘đòi đất tòa Khâm sứ’ của Giáo hội CG ở Hà Nội đã xảy ra. Lịch sử truyền đạo Thiên Chúa vốn gắn liền với quyền lợi của thực dân, nên đã xảy ra nhiều trường hợp những cơ sở, nhà thờ đạo Thiên Chúa được xây dựng trên những mảnh đất thuận lợi về địa hình, địa cảnh…thậm chí nếu cần chiếm đoạt một ngôi chùa nào đó để xây nhà thờ họ cũng không từ nan. Đến ngay cả ‘nhà thờ Đức Bà’ ở Sài Gòn hiện nay, chùa Lá Vằng (nhà thờ La Vang hiện tại) ở Quảng Trị ngày trước chính là khuôn viên của các ngôi chùa như một vài tư liệu lịch sử đã chứng minh! Ở Huế đến ngày thứ ba, bầu trời Huế bắt đầu kéo mây, một vài luồng gió lạnh từ biển đột ngột xuất hiện, báo hiệu một mùa bão lụt sắp đến. Chiều hôm trước có bà cụ hàng xóm ra đứng trước ngõ, làm quen và trò chuyện với tôi. Bà cụ khuyên lần sau có về thăm Huế nên về vào mùa nắng, về mùa này là mùa mưa lụt. Tôi kính trọng trả lời, thưa cụ cháu biết thế nhưng vẫn muốn về vào mùa này, để tận mắt nhìn lại hình ảnh ngọn nước nguồn chảy siết tràn qua bờ Đập Đá mà ngày trước cháu đạp xe đạp đi học phải đứng lại bên này bờ nhìn cơn nước xoáy hung hãn mà buồn vì không thể đạp xe nốt đoạn đường vào thành nội, ngày hôm đó coi như bỏ học! Bà cụ nhìn tôi cười móm mém, không nói gì thêm. Sáng hôm sau đi ra bờ Đập Đá, quả nhiên nước đã tràn bờ, dù mưa mới chỉ mới dạo đầu. Tôi đứng nhìn những cơn nước dữ, nhảy múa, khiêu khích…người dân sau chiếc rào kẽm gai ai đó đã mang đến dựng từ dầu hôm mà thầm buồn. Một câu hỏi chợt đến: người ta đã bỏ tiền, công sức lao động xây được chiếc cầu bắc qua hai bờ của chợ Cống –dù công trình không lấy gì làm quy mô kỹ thuật, thẩm mỹ cho lắm, tại sao lại không thể giải quyết được nạn nước lũ tràn qua đập Đá trong mùa mưa lụt? Về đến nhà một lát thì nhận được cú phôn của một người lạ là anh VT từ Hà Nội. Sau khi làm quen và trao đổi với nhau một số điều, anh chợt hỏi tôi, “Anh H. đã ra Hà Nội lần nào chưa?”. Như gãi đúng chỗ ngứa của tôi, tôi trả lời ngay, “Chưa, nhưng thích lắm!” Dĩ nhiên, trong ước vọng hồi hương của tôi, không thể không có một chương trình chu du Hà Nội và các tỉnh ở phía Bắc sau này. Đi Hà Nội dự ĐHPG lần thứ VI Về lại Sài gòn chừng vài tuần lễ, tôi nhận được thư mời tham dự ĐH Phật Giáo VN lần thứ Sáu. Tuần lễ đầu tháng 12, tôi và anh MM đáp máy bay đi Hà Nội. Đến Hà Nội thì trời đã tối, từ phi trường Nội Bài đi về thủ đô, hai bên đường công ty và nhà cửa mọc lên sầm uất. Đường trải nhựa thẳng tắp, và hai bờ ‘làn’ (lane) dành cho xe chạy khá rộng, cấp tiêu chuẩn quốc tế. Tiếc là trời tối quá, tôi không quan sát rõ. Có nhiều đoạn đường tôi nghĩ giá như được nhìn thấy vào ban ngày thì khá đẹp. Ô kìa, đi ngang qua một dãy nhà dân kéo dài cho tới khu phố Tây cũ, tự dưng đoạn đường cao hẳn lên, cao đến độ nhìn hai bên chỉ thấy được tầng lầu, có nhà không cất lầu thì chỉ thấy mái. Hỏi anh tài –người bạn lái xe đến đón chúng tôi mới biết đây là đoạn đường “đắp mô” nâng cấp này chính là tác phẩm của bác Kiệt lúc còn làm thủ tưởng. Để cho chắc ăn, bác đã cho xây bờ đê lên thật cao để ngăn mùa lũ sông Hồng. Ngăn lũ nhưng lại để đánh mất luôn cảnh quan, con đường “quốc tế” từ phi trường đến thủ đô? Thật đáng tiếc, nhưng để cho có sự công bằng, chính xác về lờ bình phẩm, thì phải có thì giờ xem xét kỹ thuật ngăn lũ bằng cách cho đắp đường lên thật cao che khuất luôn có nhà dân có thực tế hay không? Mức độ tốn kém ngân sách so với một trong hai giải pháp (khác nhau) và hiệu quả cộng với những ‘hy sinh’ (cảnh quan) xem thử nên chấp nhận giải pháp nào? Xin để dành vào dịp khác. Buổi tối, chúng tôi ở phòng trọ Việt Hoa, gần một cơ quan lớn cạnh một bờ hồ. Hà Nội, đúng như sách vở địa dư, là một nơi thật nhiều hồ. Cơm nước xong, tôi và MM tảo bộ quanh bờ hồ. Thấy một bà cụ ngồi bán nước bên đường, chúng tôi ngồi xuống uống chè xanh và trò chuyện. Tôi hỏi bà cụ hồ này tên là gì, cụ bảo đây là hồ “ha-le”. Tôi thấy hơi ngộ ngĩnh trong cái tên hồ gì mà kỳ cục thế ở một nơi mà đất nước từng tự hào là đất ngàn năm văn vật; một anh chạy xe thồ đứng bên cạnh giải thích thêm, đó là tên của một ông Tây, tôi lại thêm ngờ ngợ nhủ thầm “Ha le” là “thằng Tây” nào mà mình không nhớ tên nhĩ? Mấy ngày sau mua cuốn “1000 Sự Kiện Lịch Sử Đất Thăng Long” mới biết “ha le” chính là tên ông Tây thực dân Halais làm Đốc Lý của thành Hà Nội ngay từ năm 1887 –Hòa ước Patenôtre chỉ mới ký xong trước đó 3 năm thôi, Việt Nam chưa thực sự mất vào tay bọn Pháp. Sáng hôm sau, tôi và anh MM gặp anh VT và chúng tôi đến ngồi uống cà phê, cũng bên một bờ hồ nhỏ hơn hồ Halais. Anh VT còn trẻ, nhân dáng bảnh bao, trông rất “trí thức tiểu tư sản Hànội” giống như những người bạn miền Bắc mà tôi chơi thân trước năm 1975. Bằng sự cởi mở, thân thiện, chúng tôi trao đổi với nhau nhiều chi tiết về ‘hoàn cảnh và sinh hoạt’ của PG trong nước. Tôi thẳng thắn trao đổi những suy nghĩ về những gì mà mình biết được từ nước ngoài. Nhưng tôi biết, những cái biết này có thể giới hạn và thiếu chính xác, vì tôi là người ở nước ngoài lâu năm. Buổi chiều cùng ngày, đi thăm Quốc Tử Giám với Nguyên. Nguyên là một người bạn còn rất trẻ, thế hệ của Việt Nam tương lai, người nhã nhặn, lịch sự, và tôi bắt gặp một cá tính “dễ mến”, rất gần gũi. Nguyên làm việc cho một cơ quan nhà nước, nhưng không có lý do gì để tôi phải e ngại hay dè dặt, dù chỉ gặp lần đầu. Mấy năm trước về nước, đến văn phòng Japan Airlines ở thành phố HCM, tôi gặp một cô bé Việt Nam trao đổi tiếng Anh lưu loát với khách hàng rất đúng bài bản “giao tế nhân sự”, nhưng khả ái và chân thật. Tôi xúc động và vẽ ngay một viễn cảnh một nước Việt Nam tương lai với thế hệ sống động và đầy năng lực này, trong khi thế hệ của tôi là thuộc thế hệ “về vườn”. Quốc Tử Giám Hà nội có đủ tầm mức của một quốc gia, trong khi Văn Miếu Huế quá nhỏ, dù số lượng tiến sĩ khoa bảng đương thời xuất thân từ chức năng khảo thí của nhà Nguyễn, ở Huế cao hơn. Có lẽ mấy ông Vua nhà Nguyễn chuẩn lo sóc cho cái chết của mình nặng hơn cái sống của dân và của chính mình chăng? Từ QTG, tôi được N mời đi ăn kem và bánh tôm chiên ở Hồ Tây. Cảnh hồ thật đẹp. Tôi thích lắm. Mong sao người ta sẽ cho trồng thêm nhiều cây Phong rủ xuống bờ hồ thì mùa thu và đông lại càng thêm lãng mạn. Đối diện bên kia đường có chùa Trấn Quốc, trước một dãi nước hồ mênh mông, mênh mông. Hình như con đường này được mở rộng thêm sau này, trước đây chỉ là con đập, và được đặt tên đường là Thanh Niên. Tôi đề nghị nên dùng nguyên cụm từ “Đường Thanh Niên” để nó được mang thêm ý nghĩa nào đó của “con đường của thanh niên VN”. N. rất muốn được chụp cùng tôi một số tấm hình lưu niệm ở QTG, giờ tôi lại nghĩ cần có một số tấm hình ở đây nữa, nhưng N. lại không có máy hình, tôi lại quên mang theo. Tìm khắp lại không thấy một người chụp hình dạo nào cả, đành chịu thua. Tôi nghĩ những người như N còn nghèo trong nhu cầu tiêu dùng mang tính thời thượng nào đó, có thể còn gặp khó khăn đời sống là khác. Tôi chợt nghĩ tới việc tặng lại chiếc máy hình digital Canon (để có thể phục vụ cho những trường hợp có những vị khách vãng lai được tham quan có những tấm hình lưu niệm) mua từ phi trường Nhật mà chưa hề sử dụng lần nào, nhưng không nói ra. Ngày 11/12/2007 Hôm nay được hai chị D. và… là hai người đang chăm sóc cho một nhà nuôi trẻ mồ côi ở Ninh Thuận về dự đại hội mời đi ăn sáng ở khách sạn Hội Nghị Quốc tế thuộc quận Ba Đình. Hai chị ấy đều là người vui tính, nói nhiều, nên trong câu chuyện đầy những tràn cười làm cho thức ăn sáng rất bình thường nhưng lại rất ngon miệng. Buổi chiều, chúng tôi di chuyển từ khách sạn HNQT về khách sạn Kim Liên, nơi được tổ chức sắp xếp cho các phái đoàn từ khắp nước tụ tập về dự hội nghị. Khách sạn Kim Liên khá rộng lớn, nhưng không may nằm trên con đường giao thông quá nhiều xe gắn máy nên hay bị nạn kẹt xe trước cổng ra vào. Sáng ngày 12.12.2007 đi thăm lăng Bác Hồ Buổi sáng tôi thức dậy sớm, tập thể dục rồi sau đó theo xe ca đi thăm lăng Hồ Chí Minh. Xem trong các hình ảnh tôi thấy lăng bác Hồ quá to lớn, mà thực tế thì cũng to lớn tương tự. Các phái đoàn đại biểu PG sắp thành hàng một, nối đuôi nhau dài cả hơn trăm thước, tuần tự bước vào cổng chính của lăng. Trước ngôi lăng là một vườn cây cảnh được chăm sóc cắt tỉa cẩn thận. Ở hai bên giữa lối đi vào có trồng hai hàng cây palm vừa tầm mắt, mỗi hàng bên tôi đếm có 9 cây, rất thích hợp với cảnh trí trang nghiêm của nơi thờ tự người quá cố. Vào bên trong lăng, một không gian u tịch và trang nghiêm hiện ra. Hai bên có hai lối đi lên bằng những bậc thang đá hoa cương, trải thảm đỏ. Để cho thảm khỏi bị dơ do quá nhiều người đặt chân lên đó, người ta đã cẩn thận lót thêm một lớp nylon mỏng trong suốt, vô tình tạo nên những tiếng động sột soạt, làm giảm đi sự trang nghiêm tôn kính. Tôi nghĩ, nên dẹp bỏ lớp nylon này đi, vì để như vậy có thể làm cho một số người khách nước ngoài khó chịu, vì sự thiếu tôn trọng khách. Dưới mỗi nấc thang, lẽ ra nên thiết kế một hệ thống đèn mờ mắt mèo (dim light), để tránh cho khách có thể bị vấp ngã khi bước lên cao. Nhục thân của bác Hồ được đặt trong hòm kính trong suốt, ở ngoài nhìn vào thấy rất rõ nét mặt của ông cụ. Nghe người ta đồn, nhục thể của cụ Hồ được ướp bằng một kỹ thuật rất hiện đại. Trong màn tối, đoàn người lặng lẽ bước quanh mắt trông vào hòm kính, có một phụ nữ lớn tuổi đi trước mặt tôi, dừng lại chắp tay kính cẩn lạy như đang lạy trước bàn thờ Phật trong chùa. Trong khoảnh khắc, tôi bất chợt rúng động. Tôi từng có cảm giác nầy, khi những năm đầu ở Mỹ, đọc được cuốn Ho Chi Minh của Jean la Couture nhắc nhỡ tới sự kiện chàng thanh niên Nguyễn tất Thành, trong những năm đầu ở Pháp một hôm đọc được cuốn luận đề của Lê-nin, về “vấn đề giải phóng các quốc gia thuộc…”, ông Nguyễn Ái Quốc đã sung sướng đến phát khóc. Mặc dầu tôi đã từng đọc về Hồ Chí Minh ở trong nước, trong các năm theo học chương trình đại học chuyển tiếp ban sử địa ở đại học sư phạm TPHCM (tốt nghiệp năm 1977), tôi cũng có đọc về tiểu sử HCM, nhưng không rúng động về những giọt nước mắt yêu nước của HCM như khi đọc Jean la Couture. Có lẽ vì nhà sử học này viết theo cung cách của một nhà nghiên cứu, một nhà báo hơn là một nhà tuyên truyền chính trị. Hồ Chí Minh là nhân vật mà tôi đã kính ngưỡng cách mơ hồ từ lúc còn nhỏ tuổi. Trong dòng sử Việt về công cuộc kháng Pháp và đương đầu chiến tranh với Mỹ, từ đầu thập niên của thế kỷ 20 cho đến hiện nay, Hồ Chí Minh là nhân vật kiệt xuất, có một không hai. Ông là một nhà đại ái quốc –điều đó chắc đi rồi. Ông là một nhà đại cách mạng –cũng đúng luôn. Ông là vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh kháng đế -không sai chút nào cả. Nhưng, nếu vì sự tâng bốc mà nói Hồ Chí Minh là vị Bồ Tát, là ông Phật –là một việc tào lao, cưỡng từ ép nghĩa. Có thể nói Gandhi là một vị Bồ Tát của Ấn Độ, và do bởi sự có thể chấp nhận đó, mà lịch sử Ấn Độ trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ thực dân Anh, không hào hùng và không thể nào so sánh được với lịch sử của dân tộc Việt Nam. Nếu ngày xưa mà Trần Hưng Đạo chỉ muốn làm một Bồ Tát trước sức đàn áp khốc liệt của quân Nguyên, thì dân tộc Việt Nam chỉ có thể được an vui trở thành một tỉnh của đế quốc Trung Hoa ngày nay thôi. Sự khí phách của dân tộc Việt Nam hiện hữu và tồn tại mãi mãi, vì lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam được trả giá bằng máu để đi tới sự thắng lợi. Dũng cảm của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã được thể hiện ở tuổi dậy thì khi can đảm tình nguyện đứng ra làm thông ngôn đối chất với quân Pháp, bênh vực cho nông dân chống thuế bóc lột lúc ông còn học ở Quốc Học Huế; ông đã bí mật tham gia các phong trào chống Pháp lúc ấy. Và sau này, để tạo cơ sở hoạt động cách mạng, những ngày ở trên đất Pháp, ông đã gia nhập đảng Xã Hội Pháp, kế đến ông gia nhập đảng Cộng sản Quốc tế, rồi khéo léo thoát ra khỏi áp lực của Đệ tam Quốc tế, ông trở về lãnh đạo công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Trước sau, Hồ Chí Minh đã chọn lựa một con đường cách mạng thực tiễn, và phương tiện nào thực hiện cách mạng thực tiễn đó, bằng trí tuệ. Hồ Chí Minh không thể là một vị Bồ Tát qua khái niệm từ nghĩa cũng như nội dung và hành trạng của triết học Phật Giáo. Có những đảng viên cao cấp của Đảng CSVN khi ra nước ngoài đã đem HCM để so sánh với nhân vật Ngô Đình Diệm, lại càng lố bịch thêm nữa. Như tôi đã trình bày vì HCM là một nhân vật “có một không hai”, nên không thể đem ông để làm bản so sánh với bất cứ một ai khác, huống gì ông NĐD không thể xứng đáng làm một “đối thủ” với HCM, dù chỉ là một đối thủ trên phương diện hành động chính trị. Vì vậy, khi đọc được những bài tham luận hay sách vỡ chứa đựng những lời lẽ, lập luận tâng bốc Hồ Chí Minh của vài cá nhân (có kẻ tôi có quen biết) một cách lố bịch, tôi đâm ra bất mãn. Giận cá chém thớt, dưới vài bút hiệu tôi đã viết vài bài báo nhằm chỉ trích, mỉa mai sự lố bịch này, đâm ra tôi đã làm điều thất lễ với nhân vật HCM. Bút sa gà chết, tôi đã lỡ viết ra rồi, không có gì lấy lại được. Tôi biết có nhiều người trong nước đã theo dõi, đã đọc. Thế mà, khi về nước tôi tự cảm nhận ra không có ai ghét gì tôi về điều đó cả! Tôi đang có sự tự do để làm việc và viết lách. Theo tôi, ngoài tính cách của một nhà cách mạng lớn, cụ Hồ còn là một nhà lãnh tụ chính trị thiên bẩm (charismatic leader). Vì vậy, có dịp được biết thêm về sinh hoạt, thói quen của cụ Hồ trong lúc ông còn sống, tôi rất thích thú. Trong dịp này, tôi thích thú được đi xem ngôi nhà sàn lưu niệm của cụ Hồ. Tầng trên của nhà sàn, có hai phòng: một để làm việc, một để nghỉ trưa. Trên bàn có chiếc radio nhỏ, chắc hẳn là để cụ nghe tin tức trong và ngoài nước. Phòng làm việc (theo ghi chú là từ năm 1954-1958) có chỗ dành để tiếp khách với hai chiếc ghế bọc da. Trên bệ đá có tượng Khổng phu tử. Trong thư phòng của cụ, có hai kệ đầy sách. Tôi cúi xuống, cố mở đôi mắt lớn lên để đọc cho được tên các tựa sách là gì. Nhìn từ phía ngoài vào trong qua khung kiếng cửa đã mờ, nên tôi chỉ đọc được vài chỗ. Thấy có cuốn, “Les voyages vers d’ Omnitant” (?) , “Union Soviétique”. Đa số là sách tiếng Pháp, ngoài ra có một chồng sách Tàu; không nhìn thấy được cụ có cuốn sách nào về hay của hai tác giả Karl Marx và Lénin. Nhưng, thấy có hình của K. Marx và một tượng của Lénin. Ngoài ra, có một nhà trưng bày hai chiếc xe của cụ Hồ dùng để đi làm việc và đưa đón các quốc khách (?). Một chiếc hiệu Peugot 404 có 4 cửa trông rất nhỏ nhắn, và một chiếc Simca (?), trên đầu máy có in chữ M-20 màu xanh lam, trông giống như chiếc xe của ông Trần Q Thuận cho PG mượn để đưa thầy Quảng Đức đến địa điểm tự thiêu vào tháng 8/1963, thời Ngô Đ. Diệm. Đó là hình ảnh về cuộc sống và phương tiện của một vị lãnh tụ một nước. Đơn sơ và nghèo nàn. Ở nước ngoài trong vài năm trở lại đây đang có phong trào “nói xấu” cụ Hồ. Có một số điều đã cũ rích, đã nhàm tai không ai muốn nghe, nên họ đành chuyển qua đề tài cuộc sống tình cảm và chăn gối của cụ Hồ. Nhưng có một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới mà không có chuyện chăn gối nhỉ? Nhà cách mạng cần phải có đời sống tâm sinh lý quân bình. Có sự quân bình này, họ mới có thể ý thức tới hạnh phúc đời thường của toàn dân, của đất nước. Nếu nói ông Ngô Đình Diệm ‘đạo đức’ vì ông là một người độc thân, không màng đến chuyện vợ con chăn gối, thì điều đó càng tố cáo đó là thứ đạo đức mất quân bình, là yếu tố tạo nên một nhân cách độc tài, độc tôn, độc đoán, độc trị. Sự thực thì ông Diệm là một người hủ nho, được xào nấu thêm với giáo lý của đạo Thiên Chúa, càng dễ tạo ra ông là con người bất bình thường, nửa Nho nửa Tây, hay nói cách khác là nửa người nửa ngợm, không giống ai. Mục tiêu của sự đánh bóng nhân vật họ Ngô, có thể là một nhu cầu về ý đồ chính trị dài hơi. Điều đó vô nghĩa và đã mất thời gian tính từ lâu rồi. Trải qua chiều dài kháng chiến, những đồ đệ thân cận đi theo cụ Hồ đã coi HCM như cha ruột của mình. Không một người con Việt nào mà không biết thương kính và hy sinh cho cha mình, kể cả mạng sống. Từ tình cảm đó, có thể họ đã “gìn giữ, bảo trọng” cụ Hồ ở mức quá sự cần thiết, cho nên có một số việc mà cụ Hồ không thể biết ở phía sau và từ phía dưới. Ngược lại, có người cha nào mà lại không thương yêu, tha thứ cho những người con hiếu thảo làm sai chỉ vì thương kính mình! Nhân cơ hội được thăm viếng những di tích của con người Hồ Chí Minh, càng tô đậm thêm sự giải tỏa những suy nghĩ của tôi trên đây, trước một số người xuất thân từ đảng Cộng Sản VN đi ra ngoài nói xấu, hạ bệ uy danh của HCM sau này. Tôi nghĩ, không đáng gì để đặt thành vấn đề thêm nữa. Một vài nhận xét về ba ngày ĐHPGVN kỳ VI. Tôi có được vinh dự làm một người khách Phật tử tham quan trong mấy ngày Đại hội. Thật tình cờ mà đúng vào thời điểm tôi muốn hồi hương về nước. Ở nước ngoài, tôi không nắm hết sự việc và nhân sự của Phật Giáo VN trong nước, cho nên tôi không thể biết nhiều, do đó tôi không thể đóng góp ý kiến gì nằm ngoài sự hiểu biết của mình. Nhìn chung, thì tổ chức của đại hội như vậy là quá sức thành công. Sự chu đáo về tổ chức ăn ở, chương trình nghị hội, phương tiện vận chuyển đưa đón… cho trên mấy ngàn người tham dự, không thể là một chuyện nhỏ. Và, để cho tổ chức được quy cũ, hoàn hảo, sự thành công nầy cần phải có một số phí tổn lớn. Đại Hội đã thực hiện được điều đó, tôi thấy không còn hãnh diện nào hơn cho ngôi nhà Phật Giáo VN. Theo tôi, điều quan trọng là các nhân sự điều hành, lãnh đạo mới sẽ làm được những gì, hoặc bằng, hoặc hơn cho nhiệm kỳ quá khứ với trọng trách của mỗi người. Vấn đề không phải ai là người nắm giữ các chức danh, mà mỗi cá thể trong ngôi nhà chung của đất nước, mỗi người sẽ đóng góp được những gì, dù lớn hay nhỏ. Người Việt mình vốn có thói quen đầy khuyết điểm là vấn đề giờ giấc. Có khi đại hội đã vào chương trình đến cả nửa tiếng rồi, mà vẫn còn có vài người của các đoàn thể lề mề kéo nhau vào để tìm chỗ ngồi, gây những động tác và âm thanh làm phiền cho các vị đang theo dõi nghe tham luận, chia trí hay đánh mất dòng suy nghĩ mà cử tọa đang nhen nhúm trong đầu. Đó là một cố tật hầu như ở đâu cũng gặp phải (tôi muốn nói ở nước ngoài cũng vậy!) Khi đứng ở trong hàng, nối đuôi nhau để vào thăm lăng cụ Hồ, tôi thấy bên phía phải của minh, có một vài vị sư còn trẻ, tay cầm chiếc máy chụp hình digital camera bấm chớp lia lịa vào các người thân quen trong đoàn đại biểu địa phương, nói cười thoải mái; tôi còn nghe thấy có một vị nói lớn lên “ráng chụp cho hết kẻo uổng” –như nhắc nhỡ các bà, các cô chịu khó ‘làm mẫu’ thêm chút nữa, để chụp cho hết số lượng memory mà máy cho sẵn; làm tôi chợt nhớ chỉ mới trong ngày hôm qua thôi (ngày cuối của đại hội), có một Phật tử Việt kiều tại Đức đóng góp tham luận là giáo sư Thái Kim Lan đã nêu ra một triết lý về sự hội nhập giữa Phật giáo và dòng sống của kỹ thuật hiện đại. Không biết có ai quan tâm đến ý nghĩa của bài tham luận nặng phần triết học này hay không. Sự tác động của sản phẩm kỹ thuật hiện đại vào dòng sống xã hội là điều không thể tránh khỏi, kể cả những người “thoát tục”, nhưng cung cách sử dụng các phương tiện hiện đại đó phải như thế nào (đối với các tu sĩ Phật giáo), là điều cần phải đặt ra. Liệu những người tu sĩ trẻ có đủ ý thức đừng để “cơ tâm” phát sinh từ “cơ kỹ” (‘cơ giới’ tức là máy móc, máy móc gồm cả những kỹ thuật tân tiến…) ? Triết lý Phật giáo có khả năng thích ứng điều hòa một nền kinh tế tư bản (hay nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.) “Kinh tế thị trường định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa” là một tham vọng hướng về nhân bản, về giai cấp lao động nghèo khổ, thua thiệt từ khuyết điểm do nền kinh tế khách quan ấy tạo ra. Do đó, vai trò của triết lý Phật giáo mang tính “đồng chủ đạo” với triết học Mác-xít, chứ không phải là kể bị động do sự “bất toàn” của một cơ chế kinh tế thị trường. Sự giàu có đến từ ‘lợi nhuận’ tích lũy. Lợi nhuận phát sinh lòng tham lũy tiến, sự tham nhũng, hối lộ và những điều xấu khác. Ai là kẻ điều hòa, tiết chế những khuyết điểm đó? –chính là nhà nước với pháp chế, và tôn giáo với đạo đức tinh thần. * * * Ngày “quy cố hương” của tôi không đơn giản như tôi nghĩ. Bên cạnh những thụ hưởng cảnh đẹp của quê hương và tiện nghi đời sống công cộng sau gần hai thập niên đổi mới, tôi còn gặp phải rất nhiều điều trăn trở khác. Hình ảnh phát triển trong hỗn độn ở ngay thành phố mang tên Bác, hay ở một vài nơi khác chưa hẳn là dấu hiệu của văn minh. Có lúc tôi nghĩ, nếu bác Hồ còn sống chưa chắc là Bác vui với hiện trạng ô nhiễm môi trường sống, tệ nạn kẹt xe, cơ ngơi mọc lên bừa bãi, người lái xe (mọi loại) trên đường phố bất chấp luật lệ lưu thông chen lấn, giành giật nhau để đi như nơi một chợ trời hỗn loạn (nhưng có thật sự có luật lệ lưu thông và phương tiện bảo toàn luật lệ lưu thông chỉnh đốn chưa?) Văn minh biểu hiện ở thể cách ứng xử của người dân trong xã hội mà họ đang sống, chứ không phải chỉ là “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. (Trong thập niên 70's, các nhà kinh tế học Pháp thời danh đều đưa ra hai yếu tố hổ tương để đo lường sự phát triển của một nền kinh tế: 'mức sống' (niveau de vie) và 'cách sống' (mode de vie); nếu chỉ thấy trưng bày yếu tố 'niveau de vie' không thôi, thì đó là sự phát triển giả tạo.) Tôi không biết, giả như không có lực lượng công an để bảo vệ cho đời sống của người dân, thì thành phố Sài gòn nầy có thể biến thành một ‘đô thị loạn’ của một hành tinh nào đó. Tôi nhớ ngày tôi làm đơn từ chức nhiệm vụ ở Ty Giáo dục tỉnh Tiền Giang (nay đã nâng cấp thành Sở Giáo dục) tìm đường vượt biển để ra nước ngoài chỉ sau khi Trung quốc tấn công ở biên giới phía Bắc, tôi có để lại một lá thư nhờ vợ tôi lúc đó tìm cách gửi cho chính quyền, tôi hứa hãy để cho vợ con tôi ra đi đoàn tụ, rồi có ngày tôi sẽ trở về…nhưng chính quyền đã không đáp ứng điều đó. Hơn 10 năm sau gia đình chúng tôi mới được gặp nhau ở Mỹ thì mọi chuyện đã vỡ lỡ. Tôi ra đi trong ước vọng thầm kín là tôi muốn nước Việt Nam phải có khả năng thủ đắc vũ khí nguyên tử; nhưng giờ đây tôi đã trở về với tay không, ước vọng của tôi là một con số không to tướng. ‘Quy cố hương’ còn có nghĩa là để được sống an hưởng những ngày còn lại trên quê hương. Có nhà thơ nào đó đã viết, ‘tôi yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của em tôi’; tôi không có diễm phúc lãng mạn chiến đấu đến vậy; nếu nói quê hương là “người yêu” của mình theo tinh thần ‘Come back to Sorrento’ của Ernesto de Curtis đâm ra tôi quá kiêu căng. Tôi cần có quê hương hơn là quê hương cần tới tôi. Lý lẽ tôi trở về có thể tìm thấy một kẻ đồng hành đây rồi. Ông Nguyễn Tường Bách trả lời trong bài phỏng vấn cuối tuần của tờ “Doanh nhân SG cuối tuần” mới đây nói ông trở về quê hương, vì “…Đúng là quê hương của mình, ăn món ăn của mình, nói tiếng nói của mình, có những người thân thiết sẵn lòng chia sẻ niềm vui, suy nghĩ và cả những ưu tư…” (nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần 27/2/08) thì đúng một phần tâm trạng của tôi, và tôi đang hưởng thực sự hạnh phúc âm thầm nhưng to lớn này. Tôi trở về quê hương để tôi được hồi sinh. Nguyễn văn Hóa Monday, April 07, 2008 (*) 'Come back to Sorrento' đã được một nhạc sĩ nào đó (hình như Phạm Duy ?) phổ nhạc qua tựa đề "Trở về mái nhà xưa." Tuy nhiên, nội dung của bản nhạc "TVMNX" không phản ánh đúng với nội dung tinh thần của Ernesto de Curtis.
|