đăng ngày: 23.6.2009
|
|
|
Tuệ Chương hoànglonghải
Nhân vụ Việt Cộng giao cho người Tầu khai thác quặng “Bauxite” ở Cao Nguyên
Người Tầu ở Việt Nam
Trước khi vào bài: Việc cho người Tầu khai thác quặng Bô-Xít ở Việt Nam là do chính quyền Cộng Sản Hà Nội, đứng đầu là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trương. Quả thực đây là một việc làm hết sức dại dột, ai ai cũng phản đối. Tôi không rõ Nguyễn Tấn Dũng có ăn của đút người Tầu hay không mà cho họ làm việc nầy. Tuy nhiên, rõ ràng Nguyễn Tấn Dũng làm tới thủ tướng mà trình độ hiểu biết non kém quá nên mới làm như vậy. Ngày 30 táng Tư năm 1975, Việt Cộng vào tiếp thu quận Kiên Lương, do Nguyễn Văn Thôn, tự Hai Tiếu, bí thư xã Bình An, nguyên là lính nghĩa quân của tiểu khu Kiên Giang thoát ly theo Việt Cộng chỉ huy. Nguyễn Tấn Dũng có mặt trong đám nầy, chức vụ lúc đó của y mới chỉ là “Trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên”. Dũng tiếp thu “Bệnh xá dân-quân y Kiên Lương”. Dũng nguyên là học sinh tiểu học ở Rạch Giá, được cấp bằng tiểu học (Hồi ấy bỏ thi tiểu học), rồi thoát ly làm du kích ở Tà Keo. Việc nầy, tôi có nói tới trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên”, (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng), do Văn Mới xuất bản. Trình độ kém cõi như thế nên Dũng chẳng biết lợi hại trong việc khai quặng nhôm như thế nào, nhắm mắt làm bừa. Quặng nhôm nầy được người Pháp tìm thấy khi thực dân còn đô hộ nước ta. Họ cũng đã dự tính khai thác nhưng không thực hiện được vì Thế giới Chiến tranh thứ hai xảy ra. Thời tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng đã có chương trình khai thác quặng nhôm đó. Ông Ngô Đình Diệm còn dự tính mở một đường xe lửa, từ Đăknông, chạy cặp với quốc lộ 13 để chuyển quặng nhôm ra cảng Vũng Tầu. Có lẽ các vị có góp phần nghiên cứu trong “Chương Trình Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến” của Staley-Thúc biết rõ sự việc nầy. Tuy nhiên, đó chỉ là những dự tính trên giấy tờ. Lý do tại sao không thực hiện, vì chiến tranh hay vì gì khác thì tôi không được biết. Đến bây giờ thì Nguyễn Tấn Dũng gồng mình hay vì không biết gì nên giao cho Tầu làm. Thật ra, không nên quá sợ người Tầu như ông thủ tướng Việt Cộng mà cúi đầu gật bừa. Theo Lỗ Tấn nhận xét, người Tầu của ông chỉ là “Tàn ác như sư tử, xảo quyệt như hồ ly, nhát gan như thỏ đế.” Nhát gan như thỏ đế thì đánh nhau chắc gì giỏi hơn, gan lì hơn người Việt Nam! Tức giận việc làm của Nguyễn Tấn Dũng hại dân hại nước, có người gọi mỉa y là “Dũng bọ-xít.” Tiếng “bọ xít”, đọc cũng na ná như “bauxite” vậy. Con bọ xít, một khi bị đụng tới thì nó tiết ra một chất nước rất hôi, có lấy nước rửa cũng không hết hôi. Có nên lấy tên con vật đó mà gán với tên Nguyễn Tấn Dũng để y có một cái nickname của y là “Dũng bọ-xít” chăng? Cũng xin nói thêm như thế nầy. Tôi chẳng có chút cảm tình, kính mến nào với mấy chú Ba ở Trung Nam Hải, dù họ là Mao, là Chu hay Đặng... Tuy nhiên, đối với người Tầu ở Việt Nam, những người tôi từng gặp họ, biết họ khi tôi còn ở thành phố Quảng Trị, cực Bắc Việt Nam Cộng Hòa, quê hương thơ ấu của tôi, hay những người tôi làm việc với họ, cho họ, trong đời binh nghiệp, lưu lạc về tới chỗ tận cùng đất nước như Rạch Giá, Hà Tiên, hay các bạn học người Tầu của tôi ở học đường, chiến hữu trong quân đội và “tù hữu” trong trại tù cải tạo, thì biết sao, tôi viết lại vậy, rất vô tư. Tuy nhiên, đối với công lao của người Tầu đóng góp cho đất nước Việt Nam nầy, là điều tôi rất quí trọng. Tác giả Hiện nay, nói về nguồn gốc người Việt Nam thì có rất nhiều thuyết khác nhau, nhưng trước đây, khi việc nghiên cứu chưa phát triển thì người ta cho rằng người Việt Nam có nguồn gốc là từ bên Tầu qua. Đó là theo ý kiến của các nhà sử học Pháp như Aurousseau và Henry Maspero. Trong số Bách Việt ở Nam Trung Hoa (Hoa Nam) thì 99 Việt bị người Hán đồng hóa, chỉ có giống Lạc Việt, không chịu sự đồng hóa của người Tầu, theo con chim Lạc mà đi về phương Nam. Người Lạc Việt định cư ở lưu vực sông Nhị Hà, là tổ tiên người Việt ngày nay. (1) Dù đã bỏ chạy về phương Nam, người Lạc Việt vẫn không yên với người Tầu. Người Tầu xâm lăng Lạc Việt, đô hộ một ngàn năm (năm 111 trước Tây Lịch đến năm 939 sau TL). Thời kỳ đô hộ một ngàn năm nầy, được phân chia làm 3, (Bắc thuộc lần thứ 1, thứ 2 và thứ 3) phân cách bằng các cuộc khởi nghĩa của người Lạc Việt. Cuối cùng, Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giết thái tử Hoàng Tháo của vua Nam Hán và lập nền tự chủ từ hồi đó cho tới bây giờ. Trước khi người Tầu đô hộ, người Lạc Việt đã chia làm hai. Số đông tiếp tục sinh sống ở vùng đồng bằng, sau nầy thường gọi là người Kinh. Một số lên sinh sống ở vùng rừng núi, tức người Mường. Người Mường còn giữ được ít nhiều bản chất ngôn ngữ và văn tự của người Lạc Việt. Người Kinh, một phần vì chính sách cai trị đồng hóa của người Tầu, một phần, người Tầu tiếp tục di cư qua Việt Nam, đem theo văn hóa của họ, nên ngôn ngữ, văn hóa, chữ viết chịu ảnh hưởng người Tầu đậm hơn. So ra, ngoài việc gốc tích người Việt là từ bên Tầu qua, tiếp sau thời kỳ định cư của người Lạc Việt, nguời Tầu tiếp tục đi xuống phía nam tìm cách sinh nhai, định cư ở Việt Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau. Đó là những đợt di dân trong thời kỳ Bắc thuộc, sau đó là thời kỳ Mông Cổ (nhà Nguyên) cai trị nước Tầu, thời kỳ người Tầu di dân vì “Phục Minh phản Thanh” và thời kỳ chiến tranh Trung Nhật và trong hoặc sau hai cuộc thế chiến tiền bán thế kỷ 20. Qua những đợt di dân đó, người Tầu đến Việt Nam khá đông. Theo quan điểm một số người thì những người mang họ Hoàng, Trịnh, Trần, Mạc… có gốc là tổ tiên từ bên Tầu sang. Chỉ có những người mang họ Nguyễn mới chính gốc tổ tiên là người Việt. Điều nầy cũng chưa hẵn chính xác. Nói vậy thì người Tầu không có họ Nguyễn hay sao? Hai người Tầu đi lạc vào thiên thai là Lưu Thần và Nguyễn Triệu, thì ông Triệu nầy họ Nguyễn hay cả hai tiếng Nguyễn Triệu chỉ là tên mà không có họ? Xem ra, người Bắc Việt có nhiều họ gốc Tầu như họ Hoàng, họ Hà, họ Trịnh, Trần… Người miền Trung có nhiều họ Nguyễn. Người miền Nam, ngoài các họ thông thường như nói ở trên nhiều người có họ Tô, họ Châu, họ Vương, họ Mã, họ Giang… Đó chỉ là nói một cách tổng quát mà thôi. Theo tục lệ vua chúa thời xưa, người nào có công lớn với Hoàng Triều thì được vua ban cho “quốc tính”, tức là đổi sang họ vua. Xin đơn cử một ví dụ, ông Nguyễn Huỳnh Đức (2). Ông nầy gốc họ Huỳnh, tổ tiên là quan võ bên Tầu “Phản Minh phục Thanh” thất bại mà chạy trốn sang Việt Nam. Nguyễn Huỳnh Đức làm quan có công lớn với triều Nguyễn nên được vua ban cho “quốc tính”, tức là đổi sang họ Nguyễn. Tuy nhiên, ông muốn giữ cái họ Huỳnh cũ của mình nên ông mới lấy tên họ là “Nguyễn Huỳnh Đức. Trong số những người theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam hồi giữa thế kỷ 16, về sau nhờ lập công lớn mà được đổi sang họ Nguyễn khá đông, hoặc là người từ đằng Ngoài vào Nam cũng tự ý đổi ra họ Nguyễn. Cũng có trường hợp như anh em Nguyễn Huệ, gốc họ Hồ nhưng khi khởi nghĩa thì đổi sang họ Nguyễn để được nhiều người đi theo. Khi ông Trần Thủ Độ (3) cướp ngôi nhà Lý cho nhà Trần, đưa Trần Cảnh lên làm vua, và muốn triệt tiêu họ Lý nầy đi, bèn buộc một số tôn thất nhà Lý đổi sang họ Nguyễn. Khi Trương Phụ đem quân qua xâm lăng nước ta dưới danh nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”, một số tôn thất nhà Hồ bỏ chạy vào Thanh Hóa và đổi sang họ Lê, hoặc vì biến cố chính trị trong nước, sau khi ông Trần Tiễn Thành bị mưu hại, một số con cháu ông, sợ Nguyễn Văn Tường và Tô Thất Thuyết mưu hại, bỏ bớt chữ “tiễn” trong họ tên của mình.. (4) Những người Tầu khi di cư qua nước ta, hồi ấy, họ bị Việt hóa rất nhanh vì nhiều lý do. Theo linh mục Nguyễn Phương, Trần Thủ Độ, người sáng lập nhà Trần, qua Việt Nam mới có hai đời. Trường hợp Hồ Quí Ly (5) khá rõ. Sau khi cướp ngôi nhà Trần, ông đặt tên nước là Đại Ngu vì tổ tiên của ông gốc ở nước Ngu bên Tầu. Người Tầu khi tới Việt Nam, phải Việt Nam hóa, địa phương hóa mới dễ sinh nhai. Một phần vì người Việt, do tâm lý bị người Tầu đô hộ một ngàn năm hay vì các cuộc xâm lăng của Trung Hoa mà ghét hoặc kỳ thị người Tầu, nhất là trong dân chúng. Từ nhỏ, tôi đã nghe câu hát mỉa: “Chi-Noa là giống bên Tầu, Đẻ ra con lợn hôi màu cứt heo.” Người Việt có khi gọi người Tầu là “thằng Ngô” (“Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách - Trần Tế Xương). “Chú khách”, có khi gọi là “Khách trú” tức là người ngoài nước, coi như khách đến cư trú. Thông thường người ta gọi là người Tầu, nước Tầu. Cũng có khi gọi là Chệt hay Chú Chệt, cũng gọi là chú Ba, (Chú Bảy là người Ấn Độ), hoặc Ba Tầu. Tầu phù, Tầu ô là tiếng gọi rất thường khi quân Tưởng do Lư Hán và Tiêu Văn sang tước khí giới quân Nhựt sau khi Nhựt đầu hàng. Gọi theo tiếng Tây là người “Xi-Noa”. Tất cả những tiếng gọi ở trên chứng tỏ người Việt kỳ thị hay không ưa người Tầu. Nghiêm chỉnh, đàng hoàng thì gọi là người Hoa, Hoa kiều, gọi là người Trung Hoa, Trung Quốc. Cộng Sản Bắc Việt không bao giờ dám dùng những tiếng thông tục như nói ở trên. Họ gọi một cách nghiêm chỉnh và trân trọng là nước Trung Quốc, người Trung Quốc, thân thiện thì gọi là “đồng chí Trung Quốc.” Chẳng bao giờ dám dùng những tiếng có thể làm xúc phạm Trung Quốc hay Trung Quốc vĩ đại của Mao Xếnh Xáng. Người Tầu thường làm nghề buôn bán, rất giỏi việc buôn bán, việc chiêu đãi, đón chào khách hàng là cần thiết. Nếu họ không tìm cách gần gũi, thân thiết với người địa phương thì sẽ gặp khó khăn, không “mua may bán đắt” được. Họ xã giao khéo léo với người dân đã đành mà với chính quyền, thời Pháp thuộc hay các thời Cộng Hòa ở miền Nam, thì rất biết “lễ nghĩa”, “Xuân Thu nhị kỳ” (đem quà biếu cho quan vào những dịp lễ tết, nhất là các dịp tết âm lịch và tết Trung Thu - nhị kỳ). Có người nói câu nầy: Hễ ở đâu có người thì có người Tầu, có người Tầu là có buôn bán, có buôn bán là có buôn gian bán lận, có đầu cơ tích trữ. Nhận xét ấy có đúng không? Nhưng nói về buôn bán thì cái gì người Tầu cũng buôn được. Đến vua họ cũng buôn được như Lã Bất Vi buôn công tử Dị Nhân hay cái bóng thấp thoáng của John Huang trong cuộc tranh cử tổng thống lần đầu của ông Bill Clinton?! Với cách xã giao khéo léo đó, người ta có thể hiểu phần nào, tại sao khi bị đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, anh em tổng thống Ngô Đình Diệm vào trú ở nhà ong Mã Tuyên, tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa quận 5, Chợ Lớn, hay thời Đệ nhị Cộng Hòa, ông Lý Long Thân thường vô ra dinh Độc Lập dễ như đi chợ. Vã lại, những người bỏ nước ra đi là vì đói khổ hay bị đàn áp, quê hương đối với họ không có gì đẹp. Họ tìm tới vùng đất mới, họ chọn “đất lành chim đậu.” Người Tầu khi đã định cư ở nước ta, sau khi ổn định, làm ăn khá giả lên, ít khi họ ồn ào “Áo gấm về làng” để “mát mặt” với họ hàng như người Việt sau khi đã định cư ở Mỹ, mặc dù, họ vẫn thường thành lập các khu định cư nơi họ đến. Người Tầu thành lập phố Tầu, lập thành từng bang, có nghĩa là bang trợ, chứ không phải tạo thành tình trạng một nước trong một nước. Thời nhà Nguyễn, các triều vua không có chính sách kỳ thị người Tầu, vẫn giang tay cứu giúp họ. Tại triều đình Huế, nhiều người gốc “Phản Thanh phục Minh” nhưng sau khi thi đổ đều được chọn làm quan, có người làm quan to. Đó là trường hợp các ông Lý Văn Phức, (6) tác giả Nhị Thập Tứ Hiếu, Phan Thanh Giản (7) , quê ở Vĩnh Long, người Nam phần đầu tiên đổ tiến sĩ, làm chánh sứ qua Pháp (sau làm Kinh lược Nam Kỳ) xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam phần, hai phó sứ cũng là gốc “Phản Thanh phục Minh” là Ngụy Khắc Đản (8) và Phạm Phú Thứ. (9) Ông Trần Tiễn Thành (10), phụ chính đại thần thời Dục Đức, cũng là người làng “Minh Hương” (làng của người Minh, từ bên Tầu sang) như các quan nói trên. Ở Huế, một số người họ Âu, họ Lâm, họ Phù là người Minh Hương. Với hàng tướng tá cựu nhà Minh khi qua Việt Nam xin cư trú, như Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, (11) các chúa Nguyễn cho vào ở vùng đất xưa gọi là Sai Côn (Saigon sau nầy). Mạc Cửu, (12) vào trấn thủ Hà Tiên, chức tổng binh, sau được phong làm “khai quốc công thần.” Vụ “nạn kiều” xảy ra năm 1978, 79 chính là một chính sách kỳ thị và đàn áp người Tầu của đảng Cộng Sản Việt Nam, đứng đầu là Lê Duẫn, người rất ghét người Tầu. Tổng thống Ngô Đình Diệm khôn khéo và nhân đạo hơn. Sau khi làm tổng thống, ông Ngô Đình Diệm có chính sách “Việt hóa” người Tầu, cấm 11 nghề, không cho người ngoại quốc được làm. Người Tầu ở Việt Nam, muốn làm 11 nghề ấy, phải xin nhập Việt tịch. Thật ra, xét cho kỹ, ngoài những người có công như nói ở trên, người Tầu khi đến định cư ở nước ta, đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển xứ sở nầy, tương tự như người Tây Ban Nha ở vùng viễn tây Hoa Kỳ vậy. Những người gốc Tầu như tôi trình bày ở trên, đều có công lớn. Chẳng hạn như khi Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch đến Sài Côn thì nơi nầy còn có tên là Bến Nghé. Rạch Bến Nghé có môt nhánh, nay là đường Hàm Nghi, vào tận chợ Bến Thành. Buổi trưa, các con sấu bò lên bờ, kêu như con trâu nghé nên mới có tên gọi là Bến Nghé. Từ cái tên Bến Nghé, rồi thành Sài Côn, Sài Gòn, sau được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông, không phải là không có công đóng góp của người Tầu, mà lại đóng góp rất lớn. Chợ Lớn, khu thương mại và công nghiệp nổi tiếng chính là do người Tầu dựng nên, còn như Quách Đàm, Bá Hộ Xường, chú Hỏa là những người có công đối với việc phát triển vùng nầy. Độc giả có thể đọc “Saigon năm xưa” của Vương Hồng Sển để thấy cái công lớn của người Tầu ở Saigon, Chợ Lớn và đất Nam Bộ, và cũng biết thêm câu “Nhứt sĩ, nhì Phương, Tam Xường, tứ Hỏa” là nói tới ai và nói cái gì (13) Về công nghiệp, người Tầu tập trung ở Chợ Lớn. Việc khai khẩn đất ruộng thì ở miền Tây Nam Bộ. Rất nhiều người Tầu là chủ điền, còn gọi là điền chủ, không gọi là địa chủ như ở ngoài Bắc, nhưng với Việt Cộng “tội trạng” thì cũng như nhau. Ở những tỉnh như Rạch Giá (cũ), Sóc Trăng (cũ), Bạc Liệu (cũ), Long Xuyên… rất nhiều người Tầu là điền chủ. Độc giả có thể gặp những điều tôi nói nầy trong các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Còn ở thị xã hay thành phố vùng nầy, người Tầu buôn bán lớn và rất nổi tiếng. Ở những nơi người Tầu đông và mới đến định cư trong khoảng một trăm năm trở lại đây, người Tầu còn giữ lại ngôn ngữ, phong tục, tập quán, trang phục của họ. Ở miền Trung và Bắc, và ngay tại Sàigon, (không kể Chợ lớn) cũng khó phân biệt người Tầu, người Việt, ngoài cái họ chứng tỏ gốc tích của họ. Trong những năm quân Nhựt chiếm đóng Đông Dương, người Tầu ở Việt Nam ít nhiều tham gia phong trào kháng Nhật, như người Tầu bên chính quốc. Nhạc sĩ La Hối, tác giả bài hát “Xuân và tuổi trẻ”, quê ở Hội An, bị hiến binh Nhựt bắt giết vì hoạt động nầy. Trong sự tranh chấp giữa nước Tầu, thời Tưởng Giới Thạch còn ở lục địa hay khi Cộng Sản Tầu đã đuổi Tưởng chạy ra Đài Loan, nhiều người vẫn sợ người Tầu ở Việt Nam sẽ là đạo quân thứ năm, là lực lượng theo Tầu, chống Việt Nam ngay từ trong nước Việt. Sự lo lắng nầy không phải là không có lý. Tâm lý đó đưa tới vụ “Nạn kiều” năm 1978, 79 như nói ở trên, sau khi người Tầu bị “đánh tư sản” - do Đỗ Mười trục tiếp chỉ huy - khiến 17 người Tầu Chợ Lớn tự tử vì mất hết tài sản một cách oan ức. Việc tự tử nầy, Nayan Chanda có nói trong cuốn “Brother Enemy” (14) của ông. Tuy nhiên, cũng không hẵn người Tầu ở nước ta sẽ theo Tầu. Không ít người Tầu chung thủy, cám ơn nơi đã cho họ “đất lành chim đậu”. Các vua nhà Trần, Hồ Quí Ly, tuy gốc Tầu, cũng chống Trung Hoa xâm lược rất tích cực, không thua gì người Việt “chính cống”. Nước Singapor, chín mươi phần trăm gốc Tầu, nhưng quốc gia nầy không biến thành một lãnh thổ của Tầu. Có liên hệ với chính quốc nhưng làm nô lệ cho chính quốc là điều họ không muốn bao giờ. Tuy nhiên, một điều cần nên nhớ, những người Tầu sang Việt Nam từ xưa đến giờ, phần đông là kẻ tha phương cầu thực, việc bỏ quê hương đất nước ra đi của họ là do tự phát, ở không được nên phải quang gánh ra đi. Những người Tầu đến Việt Nam hiện nay làm việc trong các công trường từ Bắc chí Nam, đặc biệt là những người Tầu đến khai mỏ quặng ở Tân Rai và Đăknông là ở trong chính sách của chính phủ Cộng Sản Bắc Kinh. Hiện tại, họ đến Việt Nam là để “làm ăn” - nói theo cách thông tục - là phát triển và giải tỏa kinh tế đang gây áp lực ở bên Tầu. Đó cũng là cách giảm bớt áp lực thất nghiệp ở nước họ. Sau nầy, chính những người Tầu nầy sẽ là đạo quân thứ năm, theo đúng chiến lược của người Tầu Cộng Sản. Tình hình quốc tế hiện tại, việc một nước lớn đem quân đánh một nước nhỏ là rất khó khăn, sẽ bị cả thế giới lên án, như việc ông Bush đem quân đánh Irăq hay người Tầu đem quân đánh sáu tỉnh dọc biên giới Việt Trung hồi năm 1979 vậy. Hồi ấy, Đặng Tiểu Bình phải nói rõ “dạy cho Việt Nam một bài học” nhưng “có giới hạn không gian và thời gian” vì ông Đặng thấy rét lắm, mỗi khi nhớ lại rằng, sau lưng nước Tầu, dọc theo Hắc Long Giang có 40 sư đoàn quân đội Liên Xô đang hờm sẵn ở đó, chờ lệnh vượt tuyến xuất phát không biết lúc nào. Dù gì thì mấy tay Cộng Sản ở Trung Nam Hải chưa dám tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, nhưng nếu như họ gài một số người Tầu ở Cao Nguyên, cái nóc nhà của Đông Dương, thì từ trên nóc nhà ấy, người Tầu dễ dàng tuột xuống các vùng chung quanh, như “Tầm ăn dâu” vậy. “Tàm thực” là một sách lược cổ điển, nhưng ai có thể cho rằng ngày nay nó không còn tác dụng, khi người Tầu chưa lập được “Bắc Thuộc, lần thứ 4”.
hoànglonghải
(1) Năm 1905, cụ Phan bội Châu qua Nhựt, gặp Bá tước Đại-Ôi và thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị, xin Nhựt giúp đỡ chống Pháp. Sau buổi nói chuyện với cụ Phan, hai ông Nhựt nói trên gặp Tôn Văn, nhà cách mạng Tầu, hỏi Tôn Văn có nên giúp người Việt Nam hay không! Tôn Văn bảo người Việt Nam hèn nhát, bất tài, không nên giúp làm gì. Khuyển Dưỡng Nghị nói: “Nhưng chính họ là Lạc Việt còn lại, sau khi 99 giống Việt kia đã bị người Tầu đồng hóa.” Tôn Văn ngượng, không trả lời nữa, bởi tổ tiên Tôn Văn chính là một giống Bách Việt đã thành người Tầu. (2) Nguyễn Huỳnh Đức, quê tại giồng Cái Én, xã Trường Khánh,tổng Hưng Nhượng, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An) Xuất thân trong một gia đình quan võ. Ông nội là Huỳnh Châu, cha là Huỳnh Lương đều theo phò chúa Nguyễn. Cuộc đời ông gắn chặt với Nguyễn Ánh, gian khổ cùng chia, đắng cay cùng chịu, nhất là khi Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi đến Định Tường và bị sa lầy. Thế rồi, chỉ mỗi một mình ông dám quay ngựa, xông thẳng về phía đối phương hô to những lời thách thức. Lúc ấy trời vừa chạng vạng tối, quân Tây Sơn sợ bị mai phục nên rút lui. Trong đêm đó, vì quá mõi mệt, Nguyễn Phúc Ánh đã gối đầu lên đùi ông ngủ mê man. Tờ mờ sáng hôm sau, khi tỉnh vậy, chúa Nguyễn thấy Huỳnh Đức vẫn còn đang lấy áo đuổi muỗi cho mình. Cảm động, Nguyễn Phúc Ánh ban cho ông “quốc tính” và ông càng được chúa Nguyễn tin yêu, xem như người trong hoàng tộc. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua (Gia Long), Nguyễn Huỳnh Đức được phong Quận công. Năm 1810, ông được làm Tổng trấn Bắc thành kiêm Khâm sai Chưởng tiền quân. Năm 1816, ông trở về Nam làm Tổng trấn Gia Định cùng với Hiệp Tổng trấn Trịnh Hoài Đức, cai quản cả miền Nam. Ngày 9 tháng 9 năm Kỷ Mão (1819), ông mất khi đang tại chức, thọ 71 tuổi, an táng tại nơi quê nhà và được thờ tại miếu Trung hưng công thần tại kinh đô Huế. (3) Trần Thủ Độ 1194-1264) sinh tại làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Vua Huệ Tông và vợ, tức chị họ ông, là Trần Thị Dung chỉ có 1 con gái tên là Phật Kim, được phong là công chúa Chiêu Thánh. Ông ép Huệ Tông bỏ ngôi lên làm thái thượng hoàng để nhường ngôi cho Phật Kim, tức là Lý Chiêu Hoàng, khi đó mới lên 7 tuổi. Sau đó ông đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông), mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Nhà Trần thành lập, ông được phong là Thống quốc thái sư, lo toan mọi việc cho triều đình nhà Trần. (4) Trước tết Mậu Thân, một hôm tôi và ông Lê Vĩnh Kiến (lúc đó là giáo sư trường Quốc Học, sau nầy là Thượng Nghị Sĩ Đệ Nhị Cộng Hòa), ngồi ở văn phòng trường tôi đang dạy, ông Giáo Ảnh, công chức, đến trường có việc riêng. Ông Giáo Ảnh là người nổi tiếng coi chữ ký hay ở Huế. Ông Lê Vĩnh Kiến bèn nhờ ông Giáo Ảnh xem giúp chữ ký của ông. Nễ tình thầy giáo, ông Giáo Ảnh nhận lời. Ông Gáo Ảnh nói với ông Lê Vĩnh Kiến, có tôi ngồi bên cạnh: “Thầy không phải họ Lê.” Sau đó, ông Lê Vĩnh Kiến cho tôi biết tổ tiên thuộc dòng dõi Hồ Quí Ly. Khi người Tầu xâm lăng thời nhà Hồ, tổ tiên ông sợ chạy trốn vào Thanh Hóa và đổi sang họ Lê. Khi ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lộng quyền ở Huế, giết ông Trần Tiễn Thành, con cháu ông Thành sợ chạy trốn. Có người bỏ mất chữ “tiễn” để đánh lạc hướng hai ông Tường và Thuyết. Ông Trần Đinh, nguyên chủ sự phòng Học Vụ viện đại học Huế, em là ông Trần Điền, nguyên là tỉnh trưởng Quảng Trị, Thượng nghị sĩ Đệ nhị Cộng hòa, tên thiếu mất chữ “tiễn” là vì lý do đó. Con cụ Trần Đinh, sau nầy, lại lấy lại chữ “tiễn” trong tên mình. Đó là bác sĩ Trần Tiễn Huyến ở Cali và bác sĩ Trần Tiễn Tiến ở Đức. (5) Hồ Quí Ly: Tổ tiên là người nước Ngu bên Tầu, cướp ngôi nhà Trần lên làm vua (1400). Được một năm, bắt chước nhà Trần, ông lên làm Thái thượng hòang, trao ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương. Thấy nước ta có loạn, nhà Minh bên Tầu cho Trương Phụ đem quân xâm lăng, dứt nhà Hồ, đặt nền đô họ. Hai cha con Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thguơng bị bắt đưa về Tầu. (6) Lý Văn Phức (1785–1849) là một danh thần triều nhà Nguyễn, làm quan trải qua ba đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Tương truyền, ông là người đấu tranh với triều đình nhà Thanh đòi bỏ chữ "di" (man di, mọi rợ) trong các công văn chính thức của Trung Quốc. Ông là tác giả “Nhị Thập Tứ Hiếu.” (7) Phan Thanh Giản xuất thân trong một gia đình nghèo khổ. Tương truyền tổ phụ Phan Thanh Giản là Phan Thanh Tập, hiệu Ngẫu Cừ, sống thời nhà Minh. Sau khi nhà Minh bị nhà Mãn Thanh tiêu diệt, Phan Thanh Tập di cư sang Việt Nam Năm ông lên 7 (1802), mẹ ruột qua đời; cha cưới bà Trần Thị Dưỡng để có người chăm sóc con. May mắn, ông không những được mẹ kế hết mực thương yêu mà còn cho ông đi học với vị sư Nguyễn Văn Noa ở chùa làng Phú Ngãi. Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đậu đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam bộ. Khi liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng rồi lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Ông Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn. Ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang nước Pháp để điều đình về việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông (1863) nhưng không có kết quả. Ngày 20 đến 24 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863) rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi. Khi sang Âu Châu thương nghị với phía Pháp, tận mắt chứng kiến sự hùng mạnh của người Tây, ông đã viết bài Tự Thán Từ ngày đi sứ tới Tây kinh, Thấy việc Âu châu phải giật mình. Kêu gọi đồng bang mau kịp bước, Hết lời năn nỉ chẳng ai tin… (8) Ngụy Khắc Đản (1817–1873) là danh sĩ đời Tự Đức, nhà Nguyễn. Ông sinh ra và lớn lên tại huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. (9) Phạm Phú Thứ Ông tên thật là Phạm Hào, người làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, đỗ Giải nguyên năm 1842 khi mới 22 tuổi, thi Hội đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Quý Mão (1843). Ông được cử làm phó sứ trong phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp chuộc 3 tỉnh miền đông Nam kỳ. Trong khi ở Pháp ông còn đi thăm các nước châu Âu khác như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. (10) Trần Tiễn Thành (1813-1883), người làng Minh Hương, xã Hương Vinh huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên-Huế, đỗ tiến sĩ năm Mậu Tuất (1838), là quan Phụ chính đại thần nhà Nguyễn năm 1883. (11) Dương Ngạn Địch (? - 1688), nguyên là tổng binh của nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Trung Quốc. Năm 1679, ông sang thần phục chúa Nguyễn và trở thành người có công trong việc phát triển vùng đất Mỹ Tho thuộc Tiền Giang, Việt Nam. (12) Mạc Cửu (hay Mạc Kính Cửu: 1655 - 1735), là một thương gia người Hoa có công khai phá, hình thành vùng đất Hà Tiên (Kiên Giang) vào khoảng đầu thế kỷ 18 ở Việt Nam. (13) “Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”: Nhứt là Huyện Sĩ, tên thật là Lê Phát Đạt, khi Pháp xâm lược Nam phần, theo Pháp làm thông ngôn. Dựa vào thế lực Pháp, ông cướp nhiều đất ruộng của dân chúng nên giàu có. Ông bỏ tài sản ra xây nhà thờ Huyện Sĩ ở Saigon. Nhì là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, gốc làm quan triều đình Huế, bỏ theo Tây khi Tây xâm lược Nam kỳ, trở nên giàu có và thế lực hồi bấy giờ. Ba là Bá Hộ Xường, nhờ buôn bán nên giàu có, bố vợ trung tướng Trần văn Đôn. Bốn là chú Hỏa, chủ công ty Hui Bon Hoa, nổi tiếng giàu có ở Saigon. (14) “Brother Enemy”, chiến tranh Đông Dương lần thứ ba. Tôi đã dịch “Anh Em Thù Địch”, chưa xuất bản.
|
© copyright giaodiem.us | 2009