đăng ngày: 29.9.2008

ß Trờ về

(Bài viết “giải mã” về vụ Thảm sát tết Mậu Thân Huế. Những chữ in đậm trong bài là để nhấn mạnh của web Hội Tụ. Cảm ơn trước tác giả và mạng lưới Hồn Việt (UK) cho phép chúng tôi đăng lại trọn bộ 11 phần “Ngày Tết,  Kể Chuyện 40 năm trước… Tết Mậu Thân ở Huế…”. web HT)

 

Nguyễn đắc Xuân, "đao phủ tết Mậu Thân Huế 68", người vừa mới nhận được giải thưởng ‘chủ nhân’ có tủ sách xưa quý nhất nhì ở Huế. Khi ở trong nước đầu năm nay (2008), gặp một vài anh trong giới văn nghệ sĩ cho tôi biết, tủ sách này do Xuân “chôm” tại nhà của cụ Phan văn Dật (một thời làm thầy giáo và tòa án) trong Thành Nội sau khi cụ ấy qua đời!

_____________________________________________________________________

Ngày Tết,  Kể Chuyện 40 năm trước… Tết Mậu Thân ở Huế…  

Hoàng Long Hải  

Bài 1  

Tấn Công Bất Ngờ  

            Trước khi bắt đầu niên khóa 1967-68, tôi dọn về ở số 11 đường Phạm Hồng Thái, Huế. Nhà nầy gần ngã tư Nguyễn Tri Phương và Phạm Hồng Thái. Trước mặt nhà tôi là doanh trại của đại đội Cảnh Sát Dã Chiến (CSDC) thuộc Ty Cảnh Sát Thừa Thiên - Huế.  Toàn bộ khu vực nầy, từ phía trước nhà tôi đến đường Duy Tân (An Cựu - cầu Trường Tiền), phía trước trường trung học Nguyễn Tri Phương, phía tòa Khâm Sứ cũ sát bờ sông, là khu quân sự gồm khách sạn Thuận Hóa, tức MAC-V, trại Phan Sào Nam tức tiểu khu Thừa Thiên- Huế, ty Cảnh Sát. Khoảng một năm nay, đây là mục tiêu pháo kích của Việt Cộng. Có điều đáng nói là Việt Cộng pháo kích trúng mục tiêu thì ít mà trật ra ngoài thì nhiều. Đã có vài nhà dân trúng đạn, có người chết, bị thương. Vì vậy, khi thấy tôi dọn về đây, vài người bạn đến chơi, cằn nhằn: “Dọn về đây chi cho nguy hiểm.” Tôi nói đùa: “Khi nào nghe pháo kích khách sạn Thuận Hóa thì tới đưa tao đi nhà thương.”  

            Đêm mồng một tết Mậu Thân, tức là đêm 30 tháng 1 năm 1968, Việt Cộng pháo kích trật mục tiêu thật, và trúng ngay nhà tôi.  

            Tôi đang ngủ với đứa con gái lớn, 6 tuổi, thì giật mình vì những tiếng nổ lớn, hơi xa xa và nghe tiếng đạn đi. Trong phút chốc, tôi nghĩ: “Chết cha! Đạn đang tới ngay mình”. Tôi từng chạy tản cư và có ít nhiều kinh nghiệm về súng đạn, mặc dù hồi ấy tôi mới 10 tuổi. Hễ đạn cà-nông, nghe tiếng đạn đi thì yên tâm. Đạn sẽ nổ ở xa. Còn tiếng đạn súng cối réo bên tai là nổ ngay chính chỗ của mình.   

            Và rồi viên đạn nổ ngay phía ngoài bức tường gạch dưới chân giường tôi. Tiếng nổ làm rung chuyển cả ngôi nhà. Nhà lợp ngói liệt nên khi ngói vỡ, cát từ trên mái tuôn xuống rào rào. Cửa trước bị giựt tung ra, thấy rõ bên ngoài. Ngoài đó đạn vẫn tiếp tục nổ ở sân trước, ngoài đường lộ, chớp sáng lóe lên, cảnh tượng ngoài ấy trông rõ lắm nhưng tắt đi rất nhanh. Điện bị cắt.  

            Tôi ngồi dậy, tung chăn. Đứa con gái tôi cũng dậy. Tôi nói với con: “Con vô hầm đi.” Vì vùng nầy, như đã nói, dễ bị pháo kích nên tôi có làm một cái hầm bằng bao cát ở căn phòng trống giữa phòng khách và nhà bếp. Con tôi chạy đi. Tôi đi qua phía giường vợ tôi, đặt ở phía sau cái tủ đựng áo quần, tủ có kính soi. Tôi nghe có tiếng vợ tôi kêu cứu hơi xa xa, mơ hồ, có lẽ do cát đổ xuống phủ đầy chăn đáp. Thêm nữa, cái tủ đựng áo quần bị hất tung lên, đè lên vợ tôi, lúc ấy đang có bầu khoảng tám tháng, cùng đứa con gái thứ nhì và đứa con trai xuống dưới. Không hiểu sao lúc đó tôi mạnh lắm. Nhờ ánh sáng đạn pháo kích đang nổ nên thấy rõ cảnh vật, tôi cần hai cái chân tủ hất sang một bên, kéo chăn và kéo vợ cùng hai đứa con ra. Chợt ngó lại, tôi thấy đứa con gái đầu thay vì chạy vào hầm, lại đang đứng sát bên chân tôi. Tôi hỏi: “Răng không vô hầm đi?” Con bé trả lời, khá rõ: “Con xệ (sợ) quá!”   

            Vừa khi ấy thì ba đứa ở: Con Thơ lớn nhứt, đã 20 tuổi. Hai đứa kia nhỏ hơn thì một là con Lụt, em ruột con Thơ và con Nguyệt, nhỏ nhứt, ngủ dưới nhà bếp chạy lên. Con Thơ nói: “Con vô hầm rồi, không chộ (thấy) cậu mợ nên chạy ra ni.” Tôi bảo con Thơ dắt mấy đứa nhỏ vào hầm, tôi dẫn vợ tôi chạy theo.  

            Suốt trong thời gian ấy đạn pháo kích vẫn nổ ở sân trước và sân bên hông nhà, không trúng nhà tôi nữa. Vậy mà cả gia đình nhỏ của tôi không ai hề hấn gì, ngồi chen chúc trong cái hầm chật. Tôi ngồi phía ngoài, ngay cửa hầm.  

            Thằng con trai của tôi vẫn cứ khóc lè nhè từ nãy đến giờ. Tôi cứ ngỡ nó đau chân nên khóc. Thằng bé mới hai tuổi, dễ thương và rất đẹp trai. Trước Tết mấy hôm, anh Ky, người cháu của vợ tôi, đang học y khoa ở Huế, đến chơi, thấy thằng bé kháu quá bèn bỏ nó lên xe vélo chở đi lòng vòng. Được một lúc thì thằng bé thọc chân vô căm xe, sưng vù, tôi phải đem đi bệnh viện bó bột và chích thuốc. Từ bữa đó đến giờ, vì cái chân bột nên thằng bé hay khóc. Không ngờ một lúc sau, vợ tôi nói: “Anh! Thằng cu Bảo bị thương, máu chảy sau đầu.” Con Thơ thường nhóm bếp nên bao giờ cũng thủ sẵn một cái bật lửa trong túi, lấy ra bật lên cho vợ tôi xem chỗ thằng bé bị thương. Xong, vợ tôi nói: “Rách một đường sau đầu, hết ra máu rồi, chắc không can chi!” Nghe vợ giải thích, tôi yên tâm.  

            Bây giờ thì hết pháo kích nhưng đạn súng nhỏ nổ rền trời như người ta đang đốt pháo vậy. Tiếng đạn nổ lốp bốp nghe lạ tai, không phải thứ đạn như Garant M-1 mà tôi có bắn thực tập hồi còn học Cao Đẵng Quân Sự. Thỉnh thoảng, tiếng lựu đạn nổ chen vào như người ta đốt pháo giây có kèm theo pháo tống vậy. Lựu đạn nổ gần lắm, ngay phía ngoài cửa trước nhà tôi. Nhờ cái hầm nằm ở căn phòng chếch qua một bên phòng khách nên không can gì, chỉ mỗi khi lựu đạn nổ thì cái hầm nhỏ của tôi rung rinh dữ dội. Sáng ra, tôi mới biết là Việt Cộng núp trong sân nhà tôi, tấn công vào cái “lô-cốt” (blockhaus) của Cảnh Sát Dã Chiến bên kia đường. CSDC phản công, bắn M-79 vào ngay sân nhà tôi mới ra cớ sự như vậy.  

            Súng nổ ran từng chặp rồi nghỉ khoảng nửa tiếng. Nửa giờ sau, có ba phát súng lệnh, súng đạn lại nổ rền, đợt tấn công mới lại bắt đầu. Lựu đạn của CSDC lại bắn vào sân nhà tôi.   

            Sau khoảng vài ba đợt tấn công thì có tiếng tù và thổi.  

            Con Thơ nói:  

            - “Rứa là họ rút lui đó cậu mợ.”  

            - “Răng mi biết?” Tôi hỏi. 

            Con Thơ giải thích: 

            - “Dưới làng con đánh dau (nhau), khi mô thổi tù và hay thổi còi là họ rút lui.” 

            Quả thật Việt Cộng rút. Trời sáng dần, mờ mờ.  

            Tôi bỗng nghe có tiếng người la to phía sân trước, hướng về phía trại CSDC: 

            - “Đừng bắn nữa nhé! Đừng bắn nữa nhé, tôi ra hàng nhé!” 

            Có tiếng mấy người lính CSDC bên kia đường la to, đáp lại: 

            - “Bỏ súng xuống! Bỏ súng xuống.” 

            Tôi cố lắng nghe tiếng người ra hàng để biết họ là người xứ nào. Đây là tiếng Bắc, không rõ tỉnh nào, nhưng ít ra cũng từ Thanh Hóa đổ ra. Sở dĩ tôi chú ý việc nầy vì năm ngoái, quân Việt Cộng tấn công vào thị xã Quảng Trị, thất bại, họ rút lui. Con đường tiến vào và rút lui là con đường hẽm phía sau nhà tôi. Ông anh tôi sợ Việt Cộng leo lên núp trên mái nhà, nghe họ vừa di chuyện vừa nói với nhau. Tôi hỏi:  

            - “Họ nói giọng gì?” 

            Anh tôi cười, trả lời: 

            - “Bùi Xuân Lục.”  

            Bùi Xuân Lục là tên một người rể của dì tôi, quê ở Hà Tĩnh. Bà con bên ngoại tôi thường nhái giọng Hà Tĩnh để ghẹo anh ấy chơi. Tiếng Quảng Trị không nhẹ gì nhưng so với giọng Hà Tĩnh cũng còn đỡ hơn nhiều. 

            Thấy dứt tiếng súng, vợ chồng con cái chúng tôi ra khỏi hầm. 

            Việc trước tiên là vợ tôi ra tủ đựng bông băng lấy nước rửa vết thương cho con, xức thuốc và dán băng keo vào đó. Con Thơ xuống bếp, chuẩn bị nấu ăn. Nó hỏi vợ tôi: “Nước máy không có, nước trong lu dớp (nhớp) lắm. Không có nước a mợ!” 

            Tôi đi xuống bếp, xem lại lu nước. Cát ngói từ trên mái nhà đổ vào lu. Tôi nói: “Gạn nước nầy mà nấu, đừng đi ra ngoài đường nghe không!” Con Thơ nghe lời tôi, gạn nước nấu cơm.  

            Trong khi đó thì vợ tôi lo dọn dẹp nhà cửa. Vì đêm qua đạn nổ, rung rinh căn nhà, nên chén bát, quần áo đổ nhào xuống nền nhà, cái bể, cái dơ, phải gom hết lại. Mấy cái mền (chăn) đắp tối hôm qua phải rủ bụi sạch để dùng lại, chưa giặt được. Cái chăn tôi đắp chung với con gái đầu thủng một lổ ở giữa. Mãnh đạn đi vào giữa hai cha con, không đụng nhằm ai cả. Vợ tôi mừng nói: 

            - “Hú vía anh ơi! Mãnh đạn chui vô vầy mà không ai bị thương.” 

            Cái tủ áo quần có tấm gương soi, thì tấm gương bị bể nát. Có lẽ một miếng kính vỡ bay ra đụng nhằm thằng bé nên nó bị cắt một đường phía sau đầu. Cũng may, vết cắt không sâu. 

            Được một lúc, ông Hà Nguyên Chi, phó ty Cảnh Sát, nhà phía bên kia ngã tư, mang súng đi bộ qua nhà tôi. Ông ta hỏi: 

            - “Khi hôm nghe bên ni súng nổ dữ lắm. Có ai can chi không?”  

            Tôi cám ơn và trả lời không ai việc gì cả. Trước khi ra về, ông ta còn dặn: 

            - “Đừng ra ngoài đường, Việt Cộng còn ở trên lầu trường Nguyễn Tri Phương.” 

            Một lúc, vợ tôi có việc gì đó, đi ra cái sân bên hông nhà. Khi vào nhà, vợ tôi nói: 

            - “Có miếng thịt mắc nơi cây bông hường.” 

            - “To hay nhỏ?” Tôi hỏi.  

            - “Cỡ hai chục đồng.” Vốn thực tế, vợ tôi nói. 

            Tôi thấy cũng buồn cười nhưng không nói gì. Thịt người chớ có phải thịt heo, bò ở chợ đâu mà ví như thế. 

            Hôm  đó, tôi hơi buồn, cứ thắc mắc: “Mình bị pháo kích như thế nầy mà chẳng thấy anh bạn nào đến thăm cả. Ngoài đường có tiếng người lao xao một lúc, không biết người ta chạy loạn hay bọn trẻ tò mò đạp xe chạy quanh quan sát chơi.  

            Buổi chiều 30 tết, tôi tổ chức ăn tất niên tại nhà. Trước đó một tuần lễ, một anh học trò nhà ở Vĩ Dạ, nói với tôi: 

            - “Năm ni ba em hạ một con bò thui. Thầy muốn mua thì em đem lên nhà cho thầy.” 

            Có bò thui và biết rằng sẽ được thịt ngon, tôi hỏi vợ tôi rồi mua mấy ký, tổ chức ăn tết với bạn bè. Trong các bạn tôi mời, có anh Hoàng Văn X., bạn đồng nhiệp nhưng tôi kính mến như người anh, tôi mời cả hai vợ chồng ông nầy. Vợ chồng anh bạn nối khố từ khi mới lên trung học: Lê Trọng A., hiện làm hiệu trưởng trường trung học Tây Lộc, một bà trung tá, chồng đang du học ở Mỹ, bạn của vợ tôi, và anh Đoàn Công L., trưởng ty Cảnh Sát, quen thân vợ chồng tôi.  

            Tối hôm đó, anh L. đến trễ lắm. Tôi đã tính không chờ nhưng các bạn biểu rán một chút. Ông trưởng ty mà ăn sau thì cũng kỳ! Anh L. tới thì vào bàn ngay. Trước khi cầm đũa, anh ấy xin lỗi đến trễ vì họp với bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 lâu quá - do đại tá Ngô quang Trưởng chủ tọa - Lúc ấy tướng Trưởng còn mang loon đại tá. Anh L. cũng cho biết là có tin Việt Cộng sẽ tấn công, không rõ mục tiêu ở đâu. Nghe vậy thì cũng hay vậy, không ai ngờ tối hôm sau, mồng một tết, Việt Cộng tấn công vào Huế. Ngay khi anh L. nói chuyện đó thì Việt Cộng cũng đã đột nhập vào thành phố đông lắm rồi. Vậy mà không ai biết cả hay sao?! Đánh giặc gì mà kỳ cục vậy. Tình báo ở đâu?! 

            Mới tiệc tùng vui vẻ đó mà bây giờ chẳng thấy ai, tôi nghĩ vậy và cũng hơi buồn. 

            Tối hôm đó, mới tối chúng tôi đã vào hầm, không dám ngủ ở bên ngoài. Trời sập tối một lúc lâu thì lại nghe ba phát súng lệnh, súng nhỏ và lựu đạn nổ rền trời. Khoảng một giờ đồng hồ thì dứt tiếng súng. Rồi lại có ba phát súng lệnh, mở đầu đợt tấn công mới.  

            Lần nầy vì Việt Cộng tấn công từ đầu hôm, không bắt đầu lúc quá nửa khuya như tối hôm trước, trận đánh kéo dài quá  nên tôi lo lắng và thấy bực bội lắm. Suốt đêm ngồi bó rọ trong hầm như thế nầy lại súng đạn rền trời thì chịu đời sao thấu. Tối nay lại có tiếng máy bay bay phía trên và có tiếng súng từ trên máy bay bắn xuống. Đó là loại máy bay Hỏa Long. Máy bay Hỏa Long bắn suốt đêm cho tới sáng bạch, ngay trên lầu trường trung học Nguyễn Tri Phương. Cứ sau đêm tấn công, ban ngày Việt Cộng rút về ẩn núp ở đây. Súng Hỏa Long sáu nòng, bắn dữ dội nên trường Nguyễn Tri Phương bị trốc hết mái.  

            Cũng gần tới sáng, lại có tiếng tù và thổi như đêm trước, tôi thấy khỏe, yên lòng một chút.  

            Trời sáng, chúng tôi lại chui ra khỏi hầm, dọn dẹp nhà cửa.  

            Đêm nay, Việt Cộng không núp trong nhà tôi mà sát ngoài hàng rào phía trước, cách nhà khá xa nên chúng tôi khỏi lâm vào cảnh bị lựu đạn nổ như đêm trước, không còn pháo kích nên nhà cửa cũng không bị hư hại gì thêm. Tôi nói với vợ tôi: 

            - “Mình chạy lánh nạn chỗ khác đi. Đêm nào cũng đánh nhau vậy, chịu không thấu đâu.” 

            Nghe lời tôi, vợ tôi chuẩn bị chạy giặc. Nửa giờ sau, chúng tôi bồng bế nhau ra khỏi nhà.  

            Tôi cõng bé Diễm, 4 tuổi, đứa con gái thứ ba (Kể theo trong Nam) trên lưng, tay dắt đứa thứ hai, chị cả. Vợ tôi có bầu, bụng đã to nhưng tay cũng bế thằng con trai. Con Thơ gánh một gánh đồ ăn đem theo, phòng bị đói. Hai con nhỏ kia, mỗi đứa một ôm mền mùng và quần áo cho cả gia đình.  

            Ra tới sân, thấy cảnh tượng ở đó, vợ tôi níu lấy tôi, không chịu đi, rên rỉ: “Ghê quá anh ơi!” Tôi nói với vợ: “Gắng lên, qua khỏi đây là hết. Không can chi!” Tôi nắm tay vợ, trong khi tay kia đã nắm đứa con nhỏ, cùng đi nhanh. Trong sân, ngay gốc dừa là xác một chiến binh Việt Cộng, mặc quần áo bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì hết. Tôi cũng không để ý có súng hay không. Phía ngoài cổng, sát hàng rào là ba xác chết khác, cũng nằm co quắp, ngoài bộ bà ba đen, không có áo ấm, áo mưa gì cả. Tôi thắc mắc: Bộ đánh giặc nóng lắm hay sao mà không ai mặc áo ấm cả vậy trời. Hay họ không có áo ấm để mặc. Tôi nhớ năm 1947, hồi mới chạy tản cư, thỉnh thoảng, tôi có thấy Vệ Quốc Đoàn mặc áo trấn thủ, đâu có phong phanh cái áo bà ba như mấy anh Việt Cộng nầy. 

            Vừa ra khỏi ngõ, tôi lại thấy có mấy anh lính CSDC đứng bên hông “lô cốt”. Có người nói: 

            - “Thầy có chi cho tụi em ăn với. Hai ngày nay đói lắm.” 

            Sở dĩ họ gọi tôi bằng thầy vì trong số đồng đội của họ, không ít người là học trò cũ của tôi. 

            Vợ tôi nói: 

            - “Có bánh tét, mấy em ăn không?” 

            - “Tốt lắm, tốt lắm cô. Cô cho vài đòn nghe!” Vợ tôi biểu con Thơ bỏ gánh xuống, lấy hai đòn bánh đi tới sát hàng rào, quăng vào cho họ.  

            Dự tính chạy về Chợ Cống, ngoại ô, tá túc nhà mấy người bạn, nên tôi hỏi: 

            - “Về Chợ Cống được không?” 

            - “Không được mô! Việt Cộng chiếm rồi thầy ơi!” Có người trả lời. 

            - “Vô thành nội được không?” Tôi lại hỏi. 

            - “Không được. Việt Cộng cũng chiếm rồi.” Lại có tiếng trả lời.  

            Không kịp suy nghĩ, tôi nói với vợ tôi: “Về Hàng Me.” 

            Đường Hàng Me cách nhà tôi hiện ở không xa, chưa tới nửa cây số. Chúng tôi lúp xúp chạy, đường vằng hoe. Tới ngã tư có đường về sân vận động Tự Do, tôi thấy bên cạnh đường, kế gốc cây là xác hai người lính Việt Nam Cộng Hòa. Sau mới biết rằng hai người nầy về nhà ăn tết, nửa đêm nghe súng nổ, mặc quần áo đi bộ vào trại. Tới ngã tư nầy thì họ bị Việt Cộng bắn chết. Gia đình thân nhân chưa hay biết gì cả nên chưa chôn cất.  

            Tới đường Hàng Me, tôi ghé nhà bác Xưởng, quen biết từ năm trước. Bác cũng có đứa con, học trò trường của tôi chứ không phải học trò tôi. Trước đây một năm, tôi cũng từng ở xóm nầy nên cũng quen biết nhau. Bác ấy làm Công An (Cảnh Sát Đặc Biệt). Khu đường Hàng Me, vì trái đường, xa doanh trại quân đội nên chẳng có đánh chác gì ở đây cả. Vì không đánh nhau, bộ đội chưa tới thì cán bộ Việt Cộng cũng chưa mò tới dây, tình hình khác với chỗ khác là vậy. 

            Vợ bác Xưởng và mấy bà hàng xóm đang ngồi đánh tứ sắc. Thấy chúng tôi tới, họ nghỉ đánh bài, lấy đồ ăn dọn ra cho chúng tôi ăn. Vợ chồng con cái chúng tôi và mấy đứa ở lần lượt thay nhau tắm rửa, thay quần áo, thấy khỏe khoắn và ăn ngon.  

            Nghĩ cũng buồn cười. Hai nơi cách nhau chưa được nửa cây số, nơi của tôi thì đánh nhau liền hai ngày đêm, điện nước không có, lại còn phải chui vào hầm trốn súng đạn suốt cả đêm. Nơi đây thì chẳng có gì hết. Súng đạn chỉ nghe xa xa vọng lại, giống như một xứ sở thanh bình, chẳng biết chiến tranh là gì cả.  

            Quá trưa, bác Xưởng qua nhà bên cạnh, hỏi thuê tạm cho gia đình tôi một chỗ trú chân. Nhà nầy chính là ngôi nhà tôi đã ở năm vừa qua. 

            Nói chuyện với chủ nhà xong, bác Xưởng nói với tôi: 

            - “Tui hỏi giúp anh chị lấy tạm một phòng nhà bên kia. Tối qua bên đó ngủ cho thoải mái.” 

            Được vậy, vợ chồng tôi mừng lắm, bèn mang đồ đạc qua nhà bên đó. Tôi vào hỏi thăm chủ nhà cho phải phép. 

            Vào tới nhà ông, tôi lại thấy buồn cười. Người đứng ra thay mặt chủ nhà cho thuê là ông Hoành, ông nầy làm sở Mỹ nên trông cũng khá gỉa.  

Bài 2  

Tập Trung  

Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy thì trời đã sáng hẵn. Quang cảnh thật yên lặng, có tiếng người ngoài sân nhưng ngoài đường thì vắng. Tôi đi ra sân.   

            Ông cụ Chất, thân sinh của tướng Toàn, nhà ở bên kia hàng rào ximăng, đang kéo một ống giây nylon cho nước dùng qua sân chúng tôi vì cụ thấy bên phía nhà tôi nhiều người đang chéo réo về việc nước máy không có. Ông cụ là người tốt bụng, sinh sống ở đây đã lâu, mọi người đều kính mến.  

            Trong khi nhiều người đang loay hoay lấy nước thì có đứa trẻ nói: “Việt Cộng kìa!” Tay đứa trẻ chỉ lên hướng sau, phía đường Đội Cung, trường Kiểu Mẫu. Người mẹ,  - tôi đoán vậy - rầy đứa con: “Chỉ chỏ nó thấy nó bắn cho bây giờ.”  

            Thật ra, cũng không đáng lo như vậy. Tên Việt Cộng đang lom khom bò trên nóc dãy nhà dài hơi xa sân nhà tôi. Đó là dãy nhà cho thuê, ngó ra đường Đội Cung. Tên Việt Cộng bò ra tới cuối nóc nhà thì ngừng lại. Có lẽ từ chỗ đó y quan sát phía bờ sông, chỗ bến cảng mới của lính Mỹ. Bỗng có tiếng súng lớn từ phía bờ sông bắn lên, có cả đạn lửa nên tôi thấy rõ đạn đạo bay về phía tên Việt Cộng. Anh ta vội vàng chạy tháo lui. Không rõ anh ta đi dò thám lính Mỹ hay thất lạc đơn vị.   

            Sau khi ăn sáng xong, tôi nói với vợ tôi: 

            - “Để coi yên yên, anh về nhà lấy cái TV.” 

            Vợ tôi hốt hoảng: 

            - “Thôi anh! Nguy hiểm lắm, không đi được đâu!” 

            - “Để chút nữa coi tình hình ra sao!” Tôi nói. “Nếu có người ta đi thì mình đi. Còn như đường vắng lắm thì thôi.” Ngưng một chút, tôi nói: “Về lấy cái TV cho con nó coi. Nhà không cửa nẻo gì hết, người ta lấy mất thì biết bao giờ mới mua lại được.”  

            Cách đây mấy tháng, khi Huế bắt đầu có đài TV, tôi cùng vợ đi mua một cái TV hiệu Denon, 20 inches, về cho các con coi. Lương thầy giáo như tôi, với cái TV giá 4 chục ngàn là to lắm. Vợ tôi phải tiết kiệm lắm mới mua được. Vừa mua cái xe Vespa, lại mua thêm cái TV, tình hình tài chính chúng tôi kẹt lắm. Vã lại, từ khi có TV, không khí trong gia đình cũng vui. Tối lại, cơm nước xong, chuẩn bị giưòng chiếu rồi cả nhà xúm nhau lại ở phòng khách mà coi TV. Chương trình tuy không dài vì đài TV mới có, cũng đủ cho cả nhà giải trí mỗi đêm. Bên cạnh đó, thằng con trai hai tuổi của tôi rất mê TV. Hễ thấy trời tối thì thằng bé trèo lên ghế xalông ngồi, miệng nói: “Mở Vi choi”. (Mở TV coi). Có những buổi tối, hai vợ chồng tôi đi vắng, mấy đứa nhỏ cùng mấy con ở coi TV với nhau. Anh Khôi, người chúng tôi cho thuê một phòng ở phía ngoài, đi chơi về thấy mấy đứa con tôi ngồi coi TV, anh rất vui. Có lần anh ấy nói: “Về thấy mấy đứa nhỏ ngồi xalông coi TV chăm chú, tôi có cảm tưởng như cảnh bên Tây. Đời sống văn minh hiện đại sướng thật!”  

            Tôi kể lại chuyện “Mở V choi” cho vợ nghe, để thuyết phục cô ấy để tôi về nhà lấy cái TV đem theo kẻo sợ bị lấy mất.   

            Tới trưa, thấy ngoài đường có người đi lại, nói với vợ xong, tôi bèn gọi con Thơ đi theo tôi lấy cái TV về. Nó cầm theo cây đòn gánh. Thấy vậy, tôi hỏi: 

           - “Mi cầm theo đòn gánh làm chi?” 

            - “Dạ, con gánh TV về.” Con Thơ trả lời. 

            Tôi nói: 

            - “Cầm theo cái đòn gánh, lính tráng hay Việt Cộng ở xa xa, nó tưởng mầy cầm cây súng, ria cho một băng là xong đời. Ngu! Đem cất đi.”  

            Nó đi theo tôi về nhà. Nhà trống hoắc, không cửa nẻo gì cả vì hôm đầu tiên đạn pháo kích làm bung cửa hết cả rồi. Cũng may, hôm dọn dẹp nhà cửa sau đêm đầu tiên Việt Cộng tấn công, vợ tôi đã tháo 4 cái chân TV, còn cái TV thì lấy mền bọc lại. Tôi chỉ việc buộc giây rồi lấy cây tre thọc ngang. Con Thơ phía trước, tôi phía sau, khiêng cái TV về.   

            Ra tới ngõ, tôi tránh không đụng nhằm mấy “cục xà bông” nằm ngay giữa ngõ. Thật ra, đó không phải là xa-bông mà chính là chất nổ, có màu hơi vàng như xa-bông cục, mềm. Có một miếng bị bánh xe đạp cán lên, xà-bông lòi ra. Có khoảng ba bốn tấm xà-bông như vậy, mỗi tấm dài khoảng 3 tấc vuông, dày cở 4 phân, bên ngoài bọc nylon màu xanh. Mỗi tấm được chia làm bốn phần bằng nhau, mỗi phần có một ngòi nổ. Ngòi nổ lớn bằng đầu đũa, dài gần ngón tay. Bên cạnh đó, lại có thêm 2 xác Việt Cộng nữa, vừa chết đêm qua. Tôi đoán thầm là mấy tên nầy dự tính đem chất nổ đến phá cái lô-cốt bên kia đường. Chưa kịp xung phong thị họ đã bị CSDC bắn chết ở đây. Mấy tấm xà-bông nầy mà nổ được thì cái lô-cốt kia coi như không còn gì, những ngôi nhà quanh đầy không sập thì cũng đổ vách, nứt tường, không ít người chết, bị thương. Chuyện mới xảy ra tối qua, khi gia đình tôi đã chạy khỏi đây rồi. Hú vía!  

            Sau biến cố, tôi bỏ nhà nầy, không dọn về ở nữa. Tôi biết vợ tôi vốn nhát gan, thấy cảnh Việt Cộng chết nằm đầy ngoài sân, bên gốc dừa, ngay cửa ngõ, bên lề đường như vậy thì đêm nào cũng có ác mộng, không thể có sự bình an tâm lý được, nên phải kiếm nhà khác mà ở vậy.  

            Những gia đình trong khu vực, sau khi tình hình yên ổn, lục tục kéo về. Bấy giờ hệ thống nước máy bị hỏng chưa sửa chữa kịp, nhiều nhà dùng nước mưa. Nước hứng từ mái nhà bà cụ già ở ngay chính giữa thấy có mùi hôi, không dùng được. Để tìm hiểu, người ta mới trèo lên mái nhà xem. Té ra có xác một anh Việt Cộng nằm chết ở đấy, giữa hai mái nhà trước và nhà sau gặp nhau, chỗ nầy có cái máng xối. Đạn trúng ngay đầu anh ta. Có lẽ anh ta trèo lên mái nhà để bắn sang phía bên kia đường. Bên kia bắn lại, đạn trúng ngay đầu khiến anh ta chết ngay tại chỗ. Gia chủ phải thuê người dọn xác, đem chôn.  

            Tôi về tới nhà trọ mới được một lúc thì có máy bay bay trên không, phát thanh lời kêu gọi của tướng Lãm, yêu cầu đồng bào hãy tập trung về trường Kiểu Mẫu để được quân đội bảo vệ.   

            Thế là ai nấy ùn ùn kéo nhau đi. Tất cả dân chúng ở xóm tôi đi lên trường Kiểu Mẫu, không ai dám đi theo đường bờ sông (đường Lê Lợi). Việt Cộng ở bên kia sông, (đường Trần Hưng Đạo) hễ thấy bóng người bên nầy, không phân biệt là ai, họ bắn qua. Có lẽ binh lính Việt Cộng không ai có bằng xạ thủ nên may mắn không ai trúng đạn, chết hay bị thương cả.  

            Vậy nên dân chúng đi con đường trong, con đường đi vào Ty Cảnh Sát, tôi không nhớ tên đường nầy. Ty Cảnh Sát phải đập vỡ một khúc tường phía sau để đồng bào sau khi vào Ty Cảnh Sát thì theo chỗ tường vỡ đó mà qua trường Kiểu Mẫu. Khi đi ngang cái vọng gác ngay cổng ty, chúng tôi thấy có một tên Việt Cộng nằm chết trong đó. Tình thật, tôi nói: “Thằng Việt Cộng mập dữ.”  Vợ tôi trả lời ngay: “Chết mấy ngày sình lên chớ mập chi!”  

            Vào tới trường Kiểu Mẫu, lúc ấy, trường thì rộng, người chưa đông, nên dễ kiếm chỗ nghỉ. Chúng tôi chọn một lớp học ở tầng lầu hai, vào dọn chỗ nghỉ ở đó. Mấy người quen cũng dần dần kéo vào, càng lúc càng đông. Người đi tới, kẻ đi lui, nói chuyện, náo nhiệt.  

            Tôi dặn cả nhà cứ ở trong phòng, đừng ra ngoài, đề phòng Việt Cộng ở bên sông bắn qua hay pháo kích. Chiều lại, con Thơ cùng một đứa nhỏ khác theo giúp, xuống giếng, - Cái giếng cũ, khá lớn, đào từ hồi Tây còn đô hộ - lấy nước, vo gạo, nấu cơm. Cũng may, khi chạy giặc, phòng xa, vợ tôi có biểu mấy con ở đem theo một cái lò nấu bằng dầu hôi.  

            Chiều lại, cơm nước xong, trời tối dần. Người đi lại đã thưa, rồi im lặng hẵn, ai nấy đã đi ngủ. Bình yên.  

            Sau nửa khuya, tôi nghe một tiếng nổ rất lớn, hơi xa, không biết là chuyện gì. Một lát sau, có tiếng người ngoài hành lang nói: “Cầu Trường Tiền sập rồi.”  (Đây là đề tài để sau nầy nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác bài hát “Chuyện một cây cầu đã gãy.”) 

Tôi đi ra hành lang, thấy có mấy người đang đứng ở đó, nhìn về hướng cây cầu trên sông Hương. Tuy trời tối, nhưng cũng trông thấy được: Cầu Trường tiền có sáu vài, hai vài giữa, chỗ nối nhau đã rơi xuống sông. Tôi nghĩ thầm, mai mốt lấy chi mà hai bên qua lại.   

            Năm 1946, khi Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến, cầu đã bị giật sập một lần, cũng chính là hai vài cầu ấy. Sau khi Tây chiếm lại thành phố Huế, hai vài sập được bắt tạm bằng cầu sắt Eiffel, hẹp hơn, lót ván, xe cộ qua lại hai chiều không được, phải chờ nhau ở đầu vài cầu hẹp. Khoảng năm 1953, cầu đã được sửa chữa lại, bằng hai vài cầu mới, rộng như cũ, đúc ximăng. Việc giao thông trở lại bình thường. Bấy giờ cầu được đặt tên mới là cầu Nguyễn Hoàng. Phần đông người Huế biết ông Nguyễn Hoàng là ai nhưng chẳng ai gọi nó là cầu Nguyễn Hoàng. Người ta cứ tên cũ: Trường Tiền mà gọi.   

            Nếu kể xưa hơn nữa thì hồi trận bão năm Thìn (1902), cầu Trường Tiền hồi đó không biết làm bằng gì mà bão thổi bay mất, sau làm mới như bây giờ, đúc sàn bằng ximăng. Vì vậy, sau trận bão năm ấy, Huế có câu ca dao:  

                        Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại,  

                        Cầu Trường Tiền đúc lại ximăng.   

            Chợ Đông Ba ngày xưa nằm phía ngoài cửa Đông Ba, chỗ sau nầy gọi là vườn hoa Đông Ba. Sau trận bão ấy, chợ dời ra ở ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè. Còn chuyện “đúc lại ximăng” thì như trên, tôi đã kể.  

            Khi thấy cầu sập, đám người đang đứng ở hành lang lúc ấy, bàn chuyện và tỏ ý buồn. Tuy nhiên, có ai đó nói một câu được coi như an ủi, làm phấn chấn. Người ấy nói: “Việt Cộng thua rồi.”  

            Nghe câu nói ấy, tôi cũng thấy vui một chút vì “Việt cộng thua.” Tôi thấy được cái lý lẽ của câu nói. Một lúc sau, đi ngủ lại, tôi nằm bên vợ tôi. Vợ tôi hỏi: “Chi vậy anh?”  

            - “Cầu Trường Tiền sập rồi!” Tôi nói. 

            Vợ tôi chưng hững: 

            - “Cái gì? Cầu Trường Tiền sập? Việt Cộng giựt sập?” 

            Tôi an ủi vợ: 

            - “Việt Cộng giựt sập. Họ cũng sắp thua, chắc họ rút sớm thôi!” 

            Vợ tôi hỏi tới: 

            - “Răng anh biết?” 

            Tôi giải thích cho vợ nghe: 

            - “Nếu họ trên đà chiến thắng, họ giựt sập cầu làm chi! Giựt sập cầu là sợ quân mình bên nầy tiến qua.” 

            Nghe tôi nói có lý, vợ tôi làm thinh, ngủ tiếp.  

            Gần sáng thì người đi lại xôn xao ngoài hành lang, bàn tán ồn ào về chuyện cầu Trường Tiền bị sập.  

            Con Thơ lại thức dậy, xuống giếng lấy nước đem lên cho các con tôi rửa mặt, rồi nấu mì gói cho cả nhà. Trong khi đó thì vợ tôi lo thay quần áo cho các con.  

            Đến gần trưa, vợ tôi nói: 

            - “Mình về thôi anh. Ở đây phức tạp quá!” 

            Tôi không đồng ý, hỏi: 

            - “Tối lại thì sao?” 

            - “Nếu êm thì mình ngủ ở nhà, thấy không êm thì mình lại vô đây.”  

            Chiều ý vợ, chúng tôi xếp đặt đồ đạc, ra về.   

            Lần nầy, chúng tôi về bằng đường bờ sông (đường Lê lợi) không đi đường qua ty Cảnh Sát như trước. Bây giờ, đường nầy người đi lại cũng đã đông. Khi đi ngang bến tàu của Mỹ, có chiếc trực thăng đang bay phía trên đầu, bắn hỏa tiển vào vị trí Việt Cộng bên kia sông, chỗ ngôi miếu ngay ngã ba sông Hương và sông đào Hàng Bè, bên phía Gia Hội. Tiếng hỏa tiển xịt lửa ngay trên đầu đã thấy ghê mà tiếng nổ ở bên sông rất dữ dội. Vợ tôi kinh hãi quá, níu lấy tôi, rên rỉ: “Sợ quá anh ới! Ghê quá anh ới!” Tôi quan sát và thấy việc trực thăng bắn hỏa tiển bên sông, không ảnh hưởng gì tới bên nầy, bèn an ủi vợ: “Họ bắn bên sông, có can gì tới mình đâu!” Rồi tôi đưa cả gia đình tôi về ngôi nhà mới thuê. Chiều hôm đó, thấy không yên tâm ngủ ở ngoài nầy, chúng tôi lại vào trường Kiểu Mẫu, trở lại chỗ cũ.  

iả, thoải mái. Khi tôi tới, ông đang ngồi ở sa-lông chơi với đứa con trai, miệng ngậm ống vố, hút thuốc Seventy-Nine thơm lừng. Tôi tự trách thầm. Học hành như ông nầy, chẳng tới đâu mà sướng vậy. Còn như mình, làm thầy giáo, chẳng bao giờ giàu, chỉ đủ ăn, giặc giã chạy loạn, tay dắt tay ôm, sao mà khổ thế!  

            Cũng vì ý nghĩ đó nên sau Mậu Thân, nhập ngũ rồi, ra đơn vị, tôi cũng học thói mỗi khi có thì giờ thì ngồi vếch đốc củ tỏi mà hút ông vố, thuốc Seventy-Nine thơm phức cho khỏe với đời một chút vậy!  

            Tối hôm đó, tôi ngủ ngon, mặc dù vẫn còn nghe súng nổ ở phía nhà cũ. Súng nổ xa, biết đạn sẽ không tới chỗ mình nên yên giấc suốt đêm.  

Bài 3  

Phản công  

Tôi không rõ lực lượng Viêt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh bắt đầu phản công từ lúc nào.  

            Thật ra, ngày đầu tiên khi gia đình chúng tôi chạy tới đường Hàng Me thì lính Mỹ đã từ Phú Bài kéo về tăng cường phòng thủ Huế, căn bản là giữ khu vực khách sạn Thuận Hóa.   

            Bên phía Hữu Ngạn, Mỹ chỉ giữ được khu vực khách sạn Thuận Hóa. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì cũng chỉ giữ được tiểu khu Thừa Thiên - Huế, (tức bản doanh Phan Sào Nam), ty Cảnh Sát Thừa Thiên, - Huế và đài phát thanh Huế. Ngay doanh trại CSDC trước mặt nhà tôi, chỗ có cái lô-cốt đánh nhau dữ dội, mấy ngày sau khi gia đình tôi chạy rồi, lính CSDC ở đây cũng rút về ty, bỏ trống doanh trại nầy. Ngoài ra, toàn bộ quận Hữu Ngạn đều bị Việt Cộng chiếm hết.   

            Trong thành nội, nghe nói còn giữ được thành Mang Cá, gồm bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 và quân y viện Nguyễn Tri Phương.  

            Ngay hôm đầu, vài tên du kích Việt Cộng đã vào được trường Đại Học Khoa học (Khách sạn Morin cũ). Chúng xuất hiện tại vài cửa sổ trên lầu khu đại học nầy, phía đường Duy Tân, bắn xuống tiểu khu. Quân phòng thủ tiểu khu bắn trả dữ dội bằng nhiều loại súng, đại liên 30 đặt trên bờ thành cao, sát trường Kiểu Mẫu, và cả M-79, nên bọn chúng hốt hoảng rút lui, không dám xuất hiện bắn lén nữa.   

            Có lẽ lực lượng vào được Morin quá ít, nên chúng không tấn công, bắn phá gì nhiều. Ngay cả đài phát thanh, ngang với khách sạn Morin, bên kia đường Lê Lợi, cũng không bị Việt Cộng khuấy rối. Phần đông, Việt Cộng chiếm đóng Kho Bạc (Ty Ngân Khố) và Bưu Điện, lẻ tẻ một ít tên ở ty Y-Tế. Có người nói rằng Việt Cộng tưởng ty Y Tế có nhiều thuốc nên tính vào đó lấy thuốc. Chúng không biết rằng ở đó chỉ là bộ phần hành chánh, chỉ toàn giấy tờ mà thôi. Anh Đoàn Công L. trưởng ty Cảnh Sát, hôm tôi chạy lên trường Kiểu Mẫu, gặp tôi, anh cũng cho biết hai hôm đầu, anh ở tại đài phát thanh Huế, sau đó, tình hình khá hơn, anh về lại trụ sở ty cùng với các anh em khác hiện đang phòng thủ ở đó. Thấy tình cảnh gia đình tôi đang chạy giặc, anh sai lính mang đến cho một bao gạo năm chục ký. Nhờ vậy nên trong những ngày đầu chạy giặc, tôi khỏi lo gạo ăn.  

            Khi đồng bào được lệnh tập trung về trường Kiểu Mẫu, vài xe tăng Mỹ, loại M-24/ Chaffee, trí súng canon Beauford 75 ly có sức tàn phá dữ dội, từng nổi tiếng trong thế giới chiến tranh thứ hai xuất hiện ở ngã tư Duy Tân - Lê Lợi, ngay đầu cầu Trường Tiền.   

            Hôm sau, trên đường Lê Lợi, hai chiếc tank M-24, một chiếc phía trái, một chiếc phía phải yễm trợ nhau, có bộ binh tùng thiết, dọc theo đường Lê Lợi mà tiến dần lên phía ga. Để ý, một hai ngày đầu, không hiểu vì thiếu lực lượng hay vì lý do gì, buổi sáng thì xe tăng và bộ binh Mỹ từ từ tiến lên, cứ nhắm vào cửa sổ những ngôi nhà lầu hai bên đường như nha Công Chánh, ty Y Tế, bắn phá ầm ầm. Bộ binh núp sau xe tăng tiến theo. Cứ đại bác bắn phá dữ dội như vậy, Việt Cộng nào chịu nỗi mà không rút lui. Tuy nhiên, những ngày đầu, tôi có cảm tưởng lính Mỹ đi đánh giặc mà giống như công chức đi làm việc: Sáng tiến lên, chiều rút về, tập trung phòng thủ ở vườn hoa bên bờ sông, ngang tòa Khâm Sứ cũ. Cứ mỗi sáng tiến lên là bắn phá vào những ngôi nhà cao hai bên đường, nhà cửa nào mà còn, lại hao hụt lính tráng chết hoặc bị thương. Chỉ mấy ngày sau, mới thấy họ tiến đi luôn, tối không rút về nữa.   

            Tôi chỉ quan sát được bên phía bờ sông, còn phía trong, phía trường trung học đệ nhị cấp Bán Công, Kho Bạc, nhà Giây Thép thì không rõ tình hình như thế nào.   

            Có điều đáng buồn là khi quân Mỹ tấn công theo đường Hoàng Hoa Thám, ngang trường tiểu học Lê Lợi thì họ bắn sập hoàn toàn lớp mẫu giáo mới xây của ngôi trường nầy. Đây là lớp học của con gái đầu lòng của tôi. Vì vậy, sau khi yên giặc, đưa con đi học lại, không bao giờ tôi đi ngang quan chỗ lớp mẫu giáo đó. Tôi sợ khung cảnh ấy sẽ gây nên một ấn tượng buồn bã trong tâm hồn trẻ thơ của con tôi. Có ai vui gì khi thấy lớp học đầu tiên trong đời mình đã bị chiến tranh tàn phá đổ nát, tan hoang như vậy. Nhìn chung, dù con tôi hay những đứa trẻ khác, chiến tranh là nỗi kinh hoàng của trẻ thơ Việt Nam, ở ngoài Bắc hay trong Nam cũng vậy thôi. Có điều khác, tôi chỉ muốn tránh cho con tôi thấy khung cảnh chiến tranh tàn phá ấy chớ không dạy cho con lòng hận thù những người phe bên ầy hay phe bên kia! Những người cầm súng chiến đấu, xông pha tên đạn, chết chóc hay bị thương, ai cũng đáng thương cả. Đáng trách, chính là ở những người hậu phương yên bình nhưng chính là người gây ra chiến tranh, là người xô đẩy người khác đem thân vào cảnh chết chóc ấy, ngụy trang bằng những mỹ từ thật hay.  

            Quân Mỹ giải tỏa tới đâu, đồng bào ở đó bồng bế nhau chạy về tập trung ở trường Kiểu Mẫu. Ban đầu là dân chúng ở khu vực nha Công Chánh, khu bến Trảng Hề, khu nhà lao động phía sau Kho Bạc, rồi dần tới khu bệnh viện Trung Ương Huế.   

            Bệnh viện chiếm tầng dưới của một tòa nhà trường Kiểu Mẫu để dời bệnh nhân về đó. Toàn bộ nhân viên, bác sĩ, y tá cũng về đây. Ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự được giải tỏa, đồng bào lũ lượt kéo về tập trung ở khu vực nầy.   

            Thật ra, mấy ngày hôm trước, đồng bào có nghe được lời kêu gọi của tướng Lãm phát trên máy bay, nhưng không ai thoát ra khỏi khu vực được vì Việt Cộng cấm không cho ai đi đâu cả. Trong số đồng bào chạy về lánh nạn ở đây, người ta nói có em gái Hoàng Phủ Ngọc Tường, cô nầy đang làm giáo viên trường tiểu học Bến Ngự, các em gái của Trịnh Công Sơn. Dân chúng không thích những người nầy vì anh em Tường, Phan thì theo Việt Cộng, Sơn thì viết nhạc phản chiến, (lúc ấy người ta chưa rõ lắm chuyện người Huế bị giết oan hay những hành động tàn ác của Việt Cộng cũng như đám Tường, Phan khi Việt Cộng chiếm thành phố Huế gần một tháng trời). Vì không thích, vì không ưa, không muốn thấy mặt họ nên mới có chuyện bàn tán trong dân chúng về sự có mặt của họ trong khu vực những người chạy nạn Cộng Sản. Theo Cộng Sản để rồi chạy nạn Cộng Sản. Điều người ta muốn nói là ở chỗ đó. Cõng rắn cắn gà nhà, mà em út mình bị rắn cắn trước!  

            Trong số đồng bào từ Bến Ngự chạy về, tôi gặp một vài người bạn rất thân. Lại gặp nhau, lại mừng rỡ và chuyện trò.   

            Trong số những người chạy từ bệnh viện về, tôi gặp hai vợ chồng anh Đào Hải. Cả hai vợ chồng đều là y tá bệnh viện. Vợ anh là bà con bên vợ tôi. Anh Hải cùng vợ đang làm việc ở bệnh viện thì trận giặc xảy ra. Sợ pháo kích, hai vợ chồng về núp ở một cái hầm xây ximăng rất lớn, phía sau ty Bưu Điện. Hầm nầy được xây từ thời Nhựt để nhân viên và gia đình Bưu Điện núp máy bay Mỹ. Khi lính Mỹ bắt đầu phản công, có hai cán binh Việt Cọng hớt hãi chạy vào núp ở hầm nầy với đồng bào. Được môt buổi, hai cán binh đem súng B-40 dấu ngoài hàng rào, cởi bỏ quần áo bộ đội, xin áo quần của dân chúng mặc vào, cùng chạy giặc với đồng bào. Tuy nhiên, khi về tới trường Kiểu Mẫu, hai anh cán binh nầy biến mất. Người ta nói là hai anh cán binh nầy sợ bị đồng bào tố giác.   

            Lính Mỹ phản công hai mặt. Mặt tiến lên hướng tây, giải tỏa từ ty Y Tế lên dần tới Bến Ngự, Nam Giao, ga Huế… Một mặt, tiến về hướng đông, xuống sân vận động Tự Do, chợ Cống. Suốt ngày đem súng nổ ì xèo, vợ chồng con cái tôi, ngày thì về nhà ăn uống, tắm rửa ở nhà. Tối lại thì kéo nhau lên trường Kiểu Mẫu ngủ cho an toàn.   

            Ngay bữa đầu tiên mới về nhà, anh Vĩnh Nghị, học trò cũ của tôi, hiện là CSDC đến thăm. Anh ta nói: 

            - “Mấy hôm đầu, Việt Cộng tấn công. Em núp trong lô-cốt, bắn M-79 vào nhà thầy.”  

            Tôi cười, nói đùa: 

            - “Cám ơn anh. Hèn chi nhà tôi cửa nẻo vách tường, chẳng cái nào còn nguyên.” 

            Nghị nói, sôi nổi: 

            - “Tại vì có ba bốn thằng núp ngay đó. Hai đêm liền như vậy. Không bắn vào đó là không yên với chúng. Chúng núp trong nhà thầy bắn ra chính xác lắm.” 

            Tôi cũng lại đùa: 

            - “Tụi nó bắn chính xác đâu không thấy nhưng anh bắn cũng không dở lắm đâu. Năm sáu cái xác Việt Cộng nằm ngay trong sân nhà tôi.” 

            Một chốc, tôi hỏi tiếp: 

            - “Cái thằng “Tôi ra hàng nhé” đâu rồi?” 

            Nghị đáp. mặt khá tĩnh: 

            - “Chết rồi!” 

            - “Sao vậy?” Tôi hỏi. 

            - “Bọn em giải giao cho tiểu khu.” Nghị nói. “Bên đó có thằng lính vừa nghe tin anh nó bị Việt Cộng giết, nổi sùng, nó bèn lấy rựa chém chết thằng Việt Cộng.” 

            Tôi bàng hoàng: 

            - “Ác vậy! Nguời ta đầu hàng thì thôi. Ai lại vác rựa chém chết. Làm như vậy là vi phạm luật pháp quốc tế đó.” 

            - “Ai cũng nói như thầy.” Nghị giải thích. “Nhưng nếu như có ai có người anh bị Việt Cộng giết như nó, chắc cũng làm như nó thôi. Máu chảy ruột mềm. Thầy làm nghề dạy văn chương, luân lý, hay nói lý thuyết. Thực tế, nhiều khi trái ngược.” 

            Tôi làm thinh, cũng thấy thông cảm phần nào cho người lính có anh bị giết.  

            Một lúc, để tránh sự im lặng nặng nề, tôi lãng sang chuyện khác: 

            - “Ông” đi đâu mà bữa nay mang súng Garant? M-16 đâu rồi?” 

            - “Súng nầy bắn được xa. Thấy mấy thằng Việt Cộng chạy lui chạy tới bên đường Trần Hưng Đạo mà ngứa mắt. Em ở bên nầy sông, thấy thằng  nào, em ngắm súng Garant thiệt kỹ, nả cho một phát, nó biến mất. Mười thằng như một!” 

            Tôi nói đùa: 

            - “Chắc nó đi gãi ngứa chớ gì?” 

            - “Không đâu!” Nghị cười. “Tụi nó về chầu tổ Mác Lê hết.” 

            Ngồi chuyện vãn với tôi một lúc, vợ tôi dọn cơm cho Nghị ăn. Đang ăn, Nghị khen: 

            - “Cơm ngon quá, mấy bữa nay, em không về Vĩ Dạ được, ăn uống tào lao không!” 

            Nghị là Hoàng phái, cha mẹ ở Vĩ Dạ, xóm của mấy ông hoàng, bà chúa. Tôi hỏi: 

            - “Hai đòn bánh tét, anh có ăn không?” 

            Nghị nói, hào hứng: 

            - “Ngon quá! Ngon quá! Em chưa bao giờ ăn bánh tét ngon như bữa đó.” 

            - “Tại “ông” đói chớ gì? 

            - “Vừa đói lại vừa ai làm bánh ngon quá.” Bỗng Nghi hỏi vợ tôi: “Cô mua hay cô tự nấu?” 

            Vợ tôi chỉ cười mà không nói. Tôi trả lời thế cho vợ: 

            - “Cô nấu đấy. Năm nào cô cũng nấu. Nhà có bao nhiêu người đâu, nhưng cô ưa nấu, đãi bạn bè ăn chơi. Cô chẳng học nghề ai cả mà nấu cũng ngon. Tài không?”  

            - “Ngon thiệt! Em thiệt tình, không nịnh cô đâu!” 

            Nói xong, anh ta cười, tôi cũng cười theo! 

            Chiều hôm đó, có một toán Thủy Quân Lục Chiến của ta đến khu vực tôi. Vài người vào khu nhà tôi. Hình như có một tiểu đoàn vừa từ Saigon ra tăng cường cho Huế. Một anh đang lui cui bên hè nhà. Tôi đứng hỏi chuyện anh. Bỗng anh ta hỏi: 

            - “Có nước sôi cho xin một ca.” 

            Tôi vào lấy nước sôi cho anh ta. Anh mở bao sạo sấy, đổ nước vào, chuẩn bị ăn tối. Thấy vậy, tôi đi vào nhà hỏi vợ tôi có gì thì “tiếp tế” cho anh lính môt ít. Khi tôi cầm gói bánh chưng đi ra chỗ anh thì thấy anh ta đang cột bao gạo sấy lại, bỏ vào ba-lô. Tôi ngạc nhiên hỏi: 

            - “Sao không ăn?” 

            Anh ta trả lời: 

            - “Có lệnh di chuyển gấp, không ăn kịp.” 

            Tôi đưa cái bánh chưng cho anh ta. Nghe chuyện người lính chưa kịp ăn đã đi, ai ai cũng xót xa. Từ trước đến nay, chiến tranh diễn ra ở thôn quê, ở rừng già, người dân thành phố chỉ nghe nói chứ chưa thấy tận mắt. Nay thì rõ. Từ sáng đến giờ chưa ăn gì - như anh ta vừa nói - Bao gạo sấy chưa kịp ăn thì đã mang súng đạn lên vai, nặng nhọc bước đi. Ai không khỏi xúc động. “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” chỉ là cái hay trong văn chương. Việc ấy xưa quá, xa quá. Bây giờ, ở đây là đời thực, là hình ảnh người lính chưa kịp ăn, phải bỏ bao gạo sấy vào ba-lô mà lên đường hành quân. Điều nầy rõ ràng là rất đau xót, không thi vị một chút nào, không thi phú một chút nào. 

            Anh cùng đồng đội tiến ra phía bờ sông, đi về hướng Vĩ Dạ. Tôi chợt thấy đại úy Ngộ, một người bạn học cũ, ở lớp Đệ Tứ, là cấp chỉ huy đơn vị. Tôi kêu tên anh ta, thảng thốt. Anh quay lại nhìn tôi và cũng nhận ra tôi. Tôi chạy ra, vừa kịp nắm tay thì Ngộ bảo: 

            - “Tao đi gấp, phải đem đơn vị qua Mang Cá gấp.” 

            Vì ngã cửa Thượng Tứ và Đông Ba chưa giải tỏa được nên tôi đoán hướng đi của đơn vị, hỏi: 

            - “Đi ngã Cồn Hến?” 

            Ngộ chỉ ừ rồi tất tả bỏ tôi, theo đoàn quân của anh. 

            Có lẽ toán quân của anh vượt sông Hương ở Vĩ Dạ, tàu Hải Quân sẽ đưa thẳng qua Bao Vinh rồi vào ngã cửa Trài của thành Mang Cá.  

            Đó là lần cuối cùng tôi gặp Ngộ, không biết về sau, cuộc đời chinh chiến của Ngộ như thế nào!  

            “Những người chinh chiến bấy lâu…”               

            Mấy hôm đó trời Huế mưa dầm nhưng ít có gió bấc nên trời không lạnh lắm. Buổi trưa, tôi ra đầu đường Hàng Me, chỗ ngã ba với đường Lê Lợi, ngồi bên cột đèn ximăng, ngó qua cột cờ Ngọ Môn bên kia sông. Trời mưa và không có gió nên “ngọn cờ nửa đỏ nửa xanh” rủ xuống, buồn thảm. Hình ảnh ấy làm tôi nhớ tới mấy câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất Định Thắng”:  

Tôi bước đi  

 không thấy phố  

không thấy nhà  

Chỉ thấy mưa sa  

trên màu cờ đỏ                          

            Đó là ngôn cờ trừ ma, là ngọn cờ ở Hà Nội, còn ở đây, Ngọ Môn, ngọn cờ ấy là ngọn cờ ma. Ma Việt Cộng, ma quỷ ám thành phố nầy trong những tết Mậu Thân.

            Mấy hôm sau, đại bác từ Trường Bia bắn qua phố Trần Hưng, qua thượng thành, hai bên cửa Thượng Tứ để yễm trợ cho tiểu đoàn 2/3 (?) của thiếu tá Đính (?) đang giải tỏa khu vực nầy. Chiều lại, hai chiếc máy bay Phantom của Mỹ bay ngang thật thấp bên phía nầy, bắng hỏa tiển và bỏ bom lên cửa Đông Ba. Cụ Chất (bố của tướng Toàn, như tôi có nói ở bài 1), thấy vậy, lầu bầu: “Bắt con chí mà phải cạo trọc cái đầu.”  

            Tiếp theo đơn vị Thủy Quân Lục Chiến của bạn tôi đã di chuyển, nhiều người dân ở phố Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo chạy thoát qua phía bên nầy sông được. Bên ấy, tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân của đại úy Võ Vàng (1) đang đụng nhau với Việt Cộng dữ dội ở chùa Áo Vàng, kế bên đường Võ Tánh (Ô Hồ), rồi sau đó cũng đơn vị ấy đánh bật quân Việt Cộng ra khỏi phi trường Tây Lộc. Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân ghi được những thắng lợi vẻ vang trong những ngày phản công chiếm lại thành phố Huế, là một đơn vị nổi tiếng, ai ai cũng biết và khen ngợi.  

            Tình hình phía bờ sông bên kia, - đường Trần Hưng Đạo - dần dần được yên. Quân Việt Cộng bị đánh đuổi ra khỏi khu vực bờ sông tả ngạn, ngoại trừ khu Gia Hội.   

            Hai ngày sau khi đơn vị Thủy Quân Lục Chiến rút đi, có một chiếc xe tăng có 6 nòng đại bác, mỗi bên 3 nòng. Chiếc xe tăng chỉ lớn hơn chiéc xe Jeep chút đỉnh mà có tới 6 nòng đại bác. Chiếc xe lục cục chạy ra bờ sông, phía dười bên cảng lính Mỹ một chút, gần ranh giới khách sạn Hương Giang của ông Cẩn. Chiếc xe tăng quay về hướng nhà thờ Gia Hội và lần lượt hết nòng súng nầy đến nòng súng khác, nổ từng phát về phía đó. Tôi tò mò đứng ở phía bên nầy đương coi thử xe tăng bắn cái gì. Một chốc, cái tháp chuông nhà thờ Gia Hội không còn nữa. Như vậy có nghĩa là quân Việt Cộng núp ở tháp chuông bên ấy, bắn lén sang bên nầy, hay chỉ điểm cho Việt Cộng pháo kích bên nầy. Khi đạn nổ ngay vào tháp chuông, không biết ông cha nhà thờ bên ấy lo lắng sợ hãi ra làm sao. Mới năm trước, vì chuyện ứng cử của liên danh Sư Tử Cầm Bút, tôi có qua gặp ông linh mục ấy để nhờ môt chuyện. Linh mục rất tử tế, niềm nở chuyện trò với tôi. Ấn tượng gặp gỡ ấy làm cho tôi lo lắng cho ông khi thấy xe tăng Mỹ nhắm bắn sập tháp chuông nhà thờ ben ấy. Rồi còn đồng bào ở đường Trung Bộ - con đường chạy ngang trước nhà thờ - nữa chi. Ở đó, tôi có biết bao nhiêu người quen biết.  

(1) Đến 3 tháng Tư – 1975, ông là trung tá, bị Việt Cộng xử bắn ở Quảng Ngãi. Ông nổi tiếng là sĩ quan tài ba thuộc binh chủng Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông là học trò và cũng là chồng của chị Nguyễn Thị Đường, nhà ở dốc Nam Giao. Chị là bạn học của tôi năm Đệ Nhất (1957-58), tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và có thời gian làm hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. 

Bài 4  

Chết chóc  

Từ ngày mồng 9 Tết, khu vực Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế lần lượt được giải tỏa, đồng bào trên đó chạy về. Bấy giờ thì trường Kiểu Mẫu đông nghẹt, phòng nào phòng nấy đầy ắp người, kẻ đi tới, người đi lui, chuyện trò, trao đổi, v.v…ồn ào ngày đêm không dứt. Mãi tới khuya lắm, mọi người đều đi ngủ thì mới yên lặng được một chút.  

            Vì quân Mỹ đang phản công, quân Việt Cộng cố giữ nên hai bên đánh nhau rất căng, phía Chợ Cống, Sân Vận Động, súng nổ ran, bất kể ngày đêm. Vì vậy, gia đình nhỏ của tôi, không dám về nhà, ngày đêm đều ở lại trường.  

            Buổi chiều ngày mồng 10 tết, con Thơ ra giếng kéo nước rửa chén bát. Giếng lúc đó hết sức đông, đứng lớp trong lớp ngoài, kẻ kéo nước, kẻ chờ. Trời sắp tối, một người lính thuộc Tiểu Khu lên ca gác, leo lên một cái chòi canh cao. Anh ta thử cây súng trung liên, bỗng súng cướp cò, nổ một phát đạn. Trong khi thử súng, anh ta vô ý chỉa ngay nòng súng về phía đám đông đứng quanh giếng. Phát đạn nổ ghim ngay vào đầu con Thơ.   

            Tôi đang ngồi bên cạnh vợ và các con thì có một cô gái nhỏ chạy tới nói: “Thầy cô ơi! Chị người làm của thầy cô bị trúng đạn ngoài giếng, đưa vô bệnh viện rồi.”   

            Tôi hốt hoảng chạy qua gian lầu được xử dụng tạm làm bệnh viện. Tình hình bệnh viện chạy loạn cũng lộn xộn không kém gì dân chúng. Tôi đi từ phòng này qua phòng kia tìm nhưng không biết người ta để con Thơ ở đâu. Cuối cùng, anh Đào Hải, y tá ở bệnh viện, bà con bên vợ tôi, tìm gặp tôi, nói: 

            - “Anh ở đây nhưng em mới qua gặp chị. Chị biểu đi kiếm anh. Chị vật vã khóc dữ.” 

            Tôi hỏi: 

            - “Con Thơ bị nặng không?” 

            - “Không sống nỗi đâu! Đạn vô đầu.” 

            Tôi cũng thấy tuyệt vọng khi nghe nói đạn vào đầu. Anh Hải dẫn tôi vào phòng cấp cứu nhưng con Thơ đã được đưa ra nằm ngoài hành lang. Chúng tôi đi ra hành lang, thấy có một cái cáng đặt bên chân cầu thang. Hải nói: “Nó đây!” Người ta đắp lên mình con Thơ một cái mền bằng giấy, loại mền nầy do Mỹ viện trợ để dùng tạm, xài xong bỏ. Cái mền đắp kín mặt. Như thế, có nghĩa là nó đã chết. Hải kéo cái mền giấy xuống khỏi mặt. Tôi thấy con Thơ còn thở ngáp, hỏi: 

            - “Chú Hải, còn thở ngáp mà!” 

            Hải nói: 

            - “Bác sĩ giải thích máu chưa tràn ra khắp não bộ nên còn thở ngáp. Vài chục phút sau là chết hẵn. Có lẽ trong phòng chật quá, có rất nhiều người bị thương nên người ta đem ra đây những ai không còn hy vọng gì.”  

            Tôi đứng nhìn vào xác con Thơ, trầm ngâm không biết nói gì, không kịp suy nghĩ gì, chỉ thấy lòng tôi đau khổ dữ dội, thấy tôi nghiệp cho con nhỏ và cả cho cả mấy đứa nhỏ, kể cả ba đứa con của tôi. Sự việc diễn biến quá mau lẹ và hết sức xúc động nên tưởng như trí óc mình tê dại hẵn đi. Mới chiều ba mươi tết, bạn bè tập trung tại nhà tôi, ăn tất niên; tiệc tùng vui vẻ, con Thơ lăng xăng giúp vợ tôi lo công việc. Thế mà nay nó chết rồi! Tôi nghĩ tới lời mẹ nó, một người đàn bà tôi chưa từng gặp, nói với mẹ tôi khi cho con Thơ làm con ở cho vợ chồng tôi: “Cho con lên tỉnh ở để tránh súng đạn.” Ở thôn quê, hai bên thường đánh nau dữ dội, bom đạn dữ dội. Ở thành phố yên lành hơn nên cho con đi ở để tìm chỗ yên lành hơn là cho con đi kiếm tiền đem về cho mình. Tội nghiệp cho người đàn bà thương con. Tôi cũng nghĩ đến mẹ tôi, rất thương con. Có lẽ mai đây, khi mẹ tôi gặp mẹ nó, nói tới cái chết của con Thơ, mẹ tôi cũng nghẹn ngào, thương xót người mẹ mất con nên không nói được chi! Trong tình mẹ thương con, không có ranh giới giữa hai người đàn bà đó, những người đàn bà khốn khổ mất con vì chiến tranh. Cách đây gần 20 năm, mẹ tôi cũng từng khóc anh cả tôi khi anh ấy, vừa 20 tuổi như tuổi con Thơ bây giờ, bị Tây bắt và thủ tiêu vì tội “làm Việt Minh.” Những người làm mẹ, có lẽ biết thế nào là lòng thương con. Ai sinh con ra mà không nuôi, không thương, thì không thể nào hiểu được lòng mẹ thương con như thế nào!  

            Thấy tôi đứng lâu mà không nói gì, anh Hải nói: 

- “Không có cách nào nữa đâu. Thôi tối rồi, đứng ngoài nầy nguy hiểm, anh về đi.” 

- “Rồi việc chôn cất làm sao?” Tôi hỏi. 

- “Anh đừng lo. Mọi việc bệnh viện lo.” Hải nói. 

- “Chôn ở đâu?” Tôi lại hỏi. 

- “Chôn tạm phía bờ tường sát tiểu khu. Bây giờ không đi ra ngoài được. Chỗ nào cũng đánh nhau.” Hải giải thích. 

- “Không có hòm chi hết.” Tôi lại hỏi.  

- “Không! Bọc cái mền giấy mà chôn. Ai cũng vậy. Hôm kia mới chôn ông Thiếu tá Bào, tiểu khu phó, cũng vậy.” Hải nói.  

Tôi bỏ đi về dãy lầu gia đình tôi đang tạm trú. Đi một đỗi, tôi mới chợt nhớ quên chào Hải.  

Sau Tết Mậu thân, tôi nhập ngủ. Tôi không thể nào chịu nỗi cảnh tượng vào lớp thấy cả một nửa số học trò mang băng tang, nhà nào cũng có người chết: Cha chú, anh em hoặc cậu mợ… Người thì bị đạn lạc, người bị lính Mỹ, Đại Hàn, lính Quân Đội Cộng Hòa bắn, người bị Việt Cộng giết, chôn sống, nhất là chôn sống, tàn nhẫn quá, người mất tích. Người mất tích cũng coi như chết, ít thấy ai được tha hay trốn về được.  

Vào lớp học nào tôi cũng thấy bọn học trò để tang. Một nửa lớp để tang: Con trai thì mang băng đen ở ngực; con gái không ít đứa 15, 17 tuổi quấn khăn tang ngang đầu. Câu thơ của Xuân Diệu: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực, đó là một hình ảnh hết sức đau lòng.  

Trước ngày lên đường nhập ngủ, tôi ra sân trường Kiểu Mẫu thắp nhang cho con Thơ, cầu nguyện như câu mẹ tôi thường khấn: “Sống khôn thác thiêng”, xin nó phù hộ cho người còn sống.  

Một năm sau, tôi về phép. Nhằm lúc đó có thông báo chính quyền yêu cầu thân nhân dời những ngôi mộ ở sân trường Kiểu Mẫu đi nơi khác. Tôi nhờ mẹ tôi nhắn về làng cho mẹ con Thơ lên bốc mộ, đem về làng chôn. Hai hôm sau, tôi đưa mẹ con Thơ cùng hai người bốc mộ ra chỗ ngôi mộ. Bà đem theo một cái hòm bằng thiếc để đựng hài cốt con. Vừa thấy mộ con, bà ấy cất tiếng khóc thật ai oán: “Con ơi! Mạ cho con đi tránh súng tránh đạn, ai ngờ chừ con ra nằm một chắc một mình nơi ni... Biết rứa mạ để con ở già (nhà) với mạ để mạ con hôm sớm có dau (nhau)...”   

Tôi nghiêng mặt qua một bên, cắn chặt môi để cầm nước mắt khi nghe tiếng khóc thê thảm ấy, với một cảm giác mơ hồ như tôi có trách nhiệm trong cái chết ấy, một sự gởi gắm không chính thức của người mẹ mà tôi đã không làm tròn.   

Trong cuộc chiến tàn bạo nhứt chưa từng có trong lịch sử dân tộc nầy, quả thật không có nơi nào là chốn bình yên cho những người muốn trốn chạy nó...   

*  

Ba ngày sau, khi tôi đi lang thang trong khuôn viên trường Kiểu Mẫu thì gặp anh Càng, nhà vợ anh phía sau nhà tôi ở Quảng Trị. Càng là tài xế của trung tá Đô. Thời gian ấy, ông Đô du học ở Mỹ, anh ta ở nhà lái xe cho bà vợ ông, là người hôm ba mươi Tết, đến ăn tiệc ở nhà tôi. Càng nói: 

- “Anh Niệm chết rồi!”  

Nghe tin, tôi tưởng như đất dưới chân tôi sụp xuống, hai chân tôi run rẩy, đứng không vững. Niệm là em rể tôi. Niệm hiện đang giữ nhiệm vụ thường vụ đơn vị, - Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh, - đóng tại Trường Bia, sát dưới chân phía nam núi Ngự Bình.  

Hôm 29 Tết, tôi về Quảng Trị một mình. Niệm đến thăm vợ chồng tôi. Vợ và 4 đứa con của Niệm đang ở Qui Nhơn, không về Huế ăn Tết với chồng, thấy Niệm cu ki một mình nên vợ tôi biểu Niệm ở lại đón giao thừa và ăn Tết với vợ chồng tôi. Đang làm thường vụ, Niệm không thể bỏ đơn vị được. Chiều 29 Tết, Niệm về đơn vị.  

Tối mồng 1 Tết, Việt Cộng tấn công vào Thiết Đoàn 7 nhưng không ăn nhằm gì cả. Đơn vị của Niệm chẳng ai chết hay bị thương. Việt Cộng bèn đổi chiến thuật. Thay vì tấn công vào đơn vị, chúng tấn công vào trại gia binh để gây lo lắng cho binh lính trong doanh trại. Đêm đó, Niệm trèo lên một chiếc xe tăng M-41, dùng súng đại liên 50, bắn liên tục vào vòng rào trại gia binh để ngăn chặn chúng. Bắn hết bốn, năm thùng đạn gì đó, Niệm nghỉ, nhưng vẫn ngồi trên xe tăng. Sáng sớm, trung tá Chí, thiết đoàn trưởng, được lệnh tướng Trưởng (lúc đó là đại tá) chỉ huy lực lương thiết giáp của thiết đoàn sang tiếp cứu bộ tư lệnh sư đoàn ở Mang Cá. Niệm được ở lại, không đi theo xếp. Khi trời sáng hẵn, anh ta ôm súng đi ra phía trại gia binh để kiểm soát xem đêm qua có ai bị thương hay chết chóc gì không. Khi vừa tới một góc nhà, Niệm bị một tên Việt Cộng núp ở đó bắn một bang AK vào người. Niệm bị thương ở bụng dưới. Binh sĩ xông ra đánh đuổi tên Việt Cộng và đưa Niệm vào đơn vị. Y tá chỉ băng bó nhưng không di tản thương binh được: Không xin được trực thăng tải thương, đường từ đơn vị đi Phú Bài vẫn chưa khai thông được. Niệm chỉ nằm chờ chết. Máu và nước tiểu cứ chảy ra hoài, y tá không cầm được, trong khi Niệm vẫn còn tỉnh. tới chiều hôm đó thì Niệm kiệt sức và qua đời.   

Đơn vị đánh điện vào Qui Nhơn báo tin cho vợ Niệm biết. Hai hôm sau, em gái tôi xin được máy bay quân đọi Mỹ, ra Phú Bài rồi xin xe về Trường Bia. Bấy giờ thì đơn vị đã ra cửa hàng bán quan tài bên cạnh quốc lộ 1, kế đơn vị, mua quan tài về tẩm liệm cho Niệm. Em gái tôi cùng mấy anh em trong đơn vị an táng Niệm ở phía ngoài vòng rào đơn vị. Tình hình lúc ấy còn nặng nề, không dám đem đi chôn ở nghĩa trang, xa doanh trại.  

Chôn cất chồng xong, em gái xin dùng máy truyền tin của đơn vị, liên lạc với bà trung tá Đô, nhờ nhắn gởi lời thăm hỏi vợ chồng tôi. Lúc đó, đường đi vào Huế còn rất căng thẳng, nguy hiểm. Quân Việt Cộng còn phục kích ở An Cựu, tấn công các xe hơi của binh lính Mỹ tiến vào thành phố./ 

Bài 5  

Khủng bố, Tàn sát  

            Quân Việt Cộng tiến trước, xong chỗ nào thì giao khu vực đó lại cho đám cán bộ chính trị theo sau. Bộ đội chỉ lo đánh nhau. Cán bộ chính trị tới thì việc trước tiên là tìm bắt hoặc giết công chức, quân nhân làm việc cho quốc gia, trước hết là những người có chức phận.  

            Chúng vào ngay nhà ông Thị, phó tỉnh trưởng (hay thị trưởng?) Thừa Thiên - Huế. Ông Thị trốn sau nhà. Chờ khi Việt Cộng rút ra khỏi nhà thì ông Thị chạy trốn bằng xe Honda. Ông bị chúng bắn chết ngay tại ngã tư đường Nguyễn Huệ ngay trước nhà ông. Vợ ông Thị cũng chạy về tập trung ở chung lớp học với gia đình tôi. Lúc đó, bà vẫn còn hy vọng chồng bà chạy thoát được, còn sống.  

            Bên cạnh vườn hoa Bến Ngự là một dãy nhà ba căn, căn giữa và bên trái là nơi cư ngụ gia đình của hai giáo sư, bên phải là nơi ông Võ Phú, Cảnh Sát trưởng quận Thành Nội, ở cùng gia đình. Ngay sáng mồng 2 Tết, có một cậu học trò khoảng 14, 15 tuổi, mặc áo may-ô trắng dẫn hai cán bộ Cộng Sản đến ngay nhà ông Võ Phú để bắt ông ta. May mắn, ông ta đề phòng trước nên leo vách tường qua trốn ở nhà sau ông giáo sư bên cạnh, thoát chết.   

            Không bắt được ông Võ Phú, hai tên cán bộ đi theo tên học sinh mặc áo may-ô ra đường. Chợt thấy có chiếc xe hơi Peugeot 203 màu trắng đậu bên đường, tên cán bộ hỏi, giọng Bắc kỳ:  

            - “Ô-tô con nầy của ai?” 

            Tên học sinh trả lời: 

            - “Em không biết.” 

            - “Nhà bên cạnh nầy là nhà ai?” Một tên cán bộ hỏi. 

            - “Nhà hai ông nầy là giáo sư.” 

            Tên cán bộ hỏi, gay gắt: 

            - “Giáo sư?” 

            - “Dạ, họ dạy học.” Thằng bé trả lời.  

            Hai tên cán bộ bỏ đi.  

Cứ như chuyện kể như trên thì trước khi vào thành phố, ta có thể đoán biết rằng Việt Cộng đã có sẵn danh sách, chức vụ và địa chỉ những người phục vụ cho chính quyền Quốc Gia. Chúng chỉ việc đi theo đám giao liên tới từng nhà bắt người và xử lý. Riêng đám giao liên nầy đã được tổ chức từ lâu, phần đông là sinh viên, học sinh. Không ít bọn chúng được thầy giáo tuyên truyền và tổ chức. Các thầy giáo theo Việt Cộng đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha, Vĩnh Linh, v.v… do Hoàng Phủ Ngọc Phan là tên sắt máu nhứt, làm bí thư chi bộ thanh niên sinh viên học sinh thành phố Huế.  Sau Mậu Thân, nhiều giao liên bị lộ, bị bắt, hoặc trốn lên chiến khu. Có đứa chưa bị lộ, hiện định cư không ít ở Hoa Kỳ. Mặt mày và tên tuổi chúng hiện giờ, tôi cũng biết. Chúng tuy “hồi chánh” nhưng cũng còn chân trong chân ngoài vì háo danh, muốn “phục vụ cách mạng” lần nữa.   

Như đã nói ở trên, khi chiếm Gia Hội xong rồi, Cộng Sản cũng thành lập những cái gọi là Lực lượng Tranh Đấu giống như thời kỳ Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc.   

Sau đây là một buổi họp điển hình đầu tiên của cái gọi là “Lực Lượng Giáo Chức Tranh Đấu” do Việt Cộng tổ chức. Một người bạn tôi kể lại.

Theo lệnh gọi, tất cả các giáo chức phải có mặt tại trường Trung Học Gia Hội, đây là ngôi trường mới xây thời Đệ Nhứt Cọng Hòa. Buổi họp được tổ chức trong một lớp học, các giáo chức ngồi trên băng ghế học sinh, phần đông họ đều còn trẻ và cố ngồi gần ông Cao Xuân Duẫn, giáo sư Anh Văn, bậc thầy của các ông thầy trẻ nầy, để được an tâm vì ai cũng lo, không biết rồi ra sẽ như thế nào. Có nhiều người không phải là giáo chức trà trộn vào đây, không phải họ là cán bộ Cọng Sản mà phần đông là sĩ quan, phục vụ xa Huế, về nghỉ phép Tết, giả tham gia vào lực lượng giáo chức hơn là lực lượng sĩ quan để tránh Cọng Sản để ý. Trên bàn thầy giáo, một cán bộ mặt mày nghiêm nghị, mang kiếng đen, đang đọc sách báo gì đó.  

Bỗng có một du kích dẫn một thanh niên mặc áo màu lam, tay bị trói giật cánh khuỷu, đi ngang lớp học, vào cửa trước ra cửa sau, trước bàn thầy giáo và trước mặt mọi người. Khoảng 5 phút sau, nghe phía vườn sau có 3 tiếng súng AK nổ. Xong, người du kích lúc nãy quay trở vào, đưa nắm tay chào anh cán bộ đang ngồi tại bàn thầy giáo, nói: 

- “Báo cáo đồng chí, thi hành xong.” 

Tên cán bộ nói:  

- “Ra xem lại y đã chết chưa?” 

Anh du kích đi ra vườn sau, một chốc quay vào nói:  

- “Báo cáo đồng chí, chết rồi.” 

Trước quang cảnh như thế, ai nấy đều lạnh mình. 

Bấy giờ, tên cán bộ đứng lên tuyên bố lý do buổi họp và bầu ban chấp hành. Danh sách đã soạn sẵn, cán bộ đọc: 

- “Anh Nguyễn văn A... chủ tịch, Anh Lê văn B... phó chủ tịch, v,v...   

Kêu đến tên ai thì người đó đứng lên cúi đầu vâng dạ, chẳng ai dám có ý kiến gì.  

Ban chấp hành các đoàn thể hằng ngày đến “làm việc” - có nghĩa là đến trình diện và nhận chỉ thị từ các cán bộ Việt Cộng - Ai ai cũng được cấp “giấy chứng nhận” rồi được ra về thong thả, bình an vô sự, chẳng ai bị bắt, bị điều tra, hành tỏi gì cả. Việc làm ấy cùng với việc làm của mấy tên hoạt đầu theo cách mạng lập công như quận Cán (Nguyễn Văn Cán, ngạch quận trưởng Cảnh Sát) ngày ngày cầm loa đi tuyên truyền khắp các đường phố lớn nhỏ kêu gọi công chức, cán bộ, sĩ quan binh lính Việt Nam Cộng Hòa “trình diện cách mạng” . Vậy là người ta lũ lượt tủ nhau đi để nhận một tấm giấy chứng nhận cho được yên thân.   

Mấy ngày sau, sau khi việc trình diện “Chính quyền Cách Mạng” coi như hoàn tất, Việt Cộng nắm vững ai đâu chỗ đó rồi, kiểm soát được phần nào dân chúng mới có sự kiện một số người bị Việt Cộng đưa ra cái gọi là “tòa án nhân dân” ở Bãi Dâu, ở trường Trung Học Gia Hội để xét xử. Hầu hết người bị ra tòa bị tuyên án tử hình và án thi hành ngay tại chỗ, không có kháng án hay xin ân xá gì cả. “Quyết định của nhân dân là tối hậu.” Có điều “nhân dân” nầy là người của Việt Cộng, là người được (hay bị) Việt Cộng gọi tới. Nhân dân nầy rất ngoan ngoản, luôn luôn “nhất trí” với “Cách Mạng” chẳng ai dám có ý kiến hay ho he gì khác.  

Anh Trần Mậu Tý là lãnh tụ sinh viên tranh đấu thời kỳ Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc. Năm 1966, khi “Quân Thiệu Kỳ” ra Huế dẹp bàn thờ, cái “Hội Đồng” nầy như ong vở tổ, với nhiều loại ong khác nhau, nhiều nhất là ong vò vẻ Việt Cộng như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” hai con ong nầy trốn lên rừng theo Việt Cộng. Có ong thì tự họ trốn vô Saigon, có ong thì leo lên Air America (Máy bay của Xịa) mà đi. Cũng có ong được “Đơ dèm buya rô” (deuxième bureau – Phòng Nhì, cơ quan tình báo Pháp) đưa đi, coi bộ cũng “vui” lắm. Chỉ tội nghiệp cho “đồng bào Phật tử ngây thơ”. Còn ong Trần Mậu Tý thì bình an dạo phố, uống càphê, ăn bún bò, đi học ở trường Luật, đi dạy… Té ra, ong nầy là đảng viên đảng Đại Việt chui vô tổ chức sinh viên “nằm vùng”.   

Đó là mối hận của Nguyễn Đắc Xuân. Vì vậy, sau khi chiếm thành phố Huế, Xuân tới nhà Trần Mậu Tý để bắt Tý hỏi tội “Phản Cách Mạng”. Có điều buồn cười. Tý theo đảng Đại Việt, có theo Cộng Sản hồi nào đâu mà bị kết tội “Phản Cách Mạng”. Phản hay không phản, lọt vô tay cách mạng rồi là đời coi như xong. Ngay khi còn hoạt động trong “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”, Xuân đã ghét Tý vì Tý dám coi thường Xuân, trong khi Xuân, ngoài việc theo Việt Cộng nhưng còn dấu kín, lại còn là “đệ tử của quí thầy trên chùa”. Bắt được Tý trong tết Mậu Thân, Xuân trả mối hận hai năm trước, 1966 bằng cách lấy búa đánh bể hai xương bánh chè nơi chân Tý, sau đó mới tuyên án tử hình, bắn chết, không cần tới cả việc ngụy trang bằng cái gọi là “Tòa Án Nhân Dân”  

Những sự việc tôi kể ở trên chỉ xảy ra ở khu vực Gia Hội, các nơi khác, “Chính quyền Cách mạng” chưa có nên không có việc triệu tập cái gọi là “Tòa Án Nhân Dân.” Trong thành nội chẳng hạn, bọn cán bộ Việt Cộng đặt trụ sở tại trường Bồ Đề Huế, có đám Việt Cộng nằm vùng đến “nhận công tác”, có nghĩa là đến làm tay sai cho đám ở trong rừng mới ra như nhận lệnh đi bắt người nầy, bắt người kia đem về xử tội. Đám mẫn cán nhất gồm có cha con ông Nguyễn Đóa (Thường gọi là “đạo hữu” Nguyễn Đóa, vì ông là “phật tử thuần thành”, sau khi về hưu dạy Pháp văn ở trường Bồ Đề Huế. Các bạn học của tôi nhiều người biết ông vì ông nguyên là giáo học, làm tổng giám thị trường “Khải Định Nhỏ”, sau nầy có tên là Nguyễn Tri Phương. Rể ông Nguyễn Đóa là ông Tôn Thất Dương Tiềm, dạy Việt Văn cũng ở trường Bồ Đề Huế. (Ông nầy là anh em ruột hay chú bác (?) với ông Tôn Thất Dương Kỵ, dạy sử ở trường “Khải Định Lớn”, sau nầy có tên là Quốc Học, người bị tướng Nguyễn Chánh Thi đưa qua cầu Hiền Lương cho ra bắc “thăm bác Hồ” cùng với bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến (Bố đẻ bà Ngô Bá Thành) và nhà báo Cao Minh Chiếm. “Ấn tượng” nhứt, theo người ta kể lại là cô Trinh (Nguyễn thị Ngọc Trinh), con gái ông Nguyễn Đóa, những hôm tết đó, lưng mang súng lục, đi lui đi tới, thiên hạ ai cũng ngán. Dĩ nhiên đám nầy cũng “Ngưu tầm ngưu, mã tấm mã”, lên núi như đám Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân hai năm trước đó vậy.  

Tên chỉ huy tổng quát, có quyền sinh sát mọi người ở đây là Sáu Kính. Đây là bí danh. Dân chúng không rõ y là ai. Sinh sát, ai được sống, ai phải chết là do tên nầy.  

Tuy có biết nhà thơ Đỗ Tấn từ hơn chục năm trước, nhưng sau tết Mậu Thân tôi không gặp ông, vì tết qua chưa bao lâu thì tôi đã nhập ngủ. Một người bạn tôi, cũng quen Đỗ Tấn, được nhà thơ kể lại là Nguyễn Đắc Xuân có đến tìm Đỗ Tấn tại nhà, hai dãy nhà công chức ở hai bên đường Mai Thúc Loan (Đường cửa Đông Ba) phía trong cửa nầy. Đỗ Tấn đề phòng trước, nên khi nghe gõ cửa, ông trèo lên trần nhà nên thoát nạn. Khu vực cửa Đông Ba nầy, chưa bị Việt Cộng chiếm trọn vì gần Mang Cá, nên Nguyễn Đắc Xuân không dám bén mảng đến “thăm” Đỗ Tấn lần thứ hai.  

Khi chiếm được thành phố Huế, đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Mặt Trận Gải Phóng Miền Nam, rêu rao là dân Huế đã nổi dậy giành chính quyền, hoan hô và tham gia thành lập chính quyền cách mạng. Trong thực tế, dân Huế hoan hô và tham gia bằng cách như vậy đấy, hèn chi ai lọt vào tay Cọng Sản thì chỉ có một đường chết mà thôi.  

Việc trình diện rồi ai đâu yên đó là một cái bẫy lớn, tương tự như thông cáo gọi đi học tập đem theo mười hay mười lăm ngày  lương thực sau 30 tháng Tư/ 1975 vậy.  

Trước sức phản công của quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là do tình báo Mỹ phát hiện được bộ tư lệnh mặt trận của Việt Cộng đóng ở khu rừng phía tây làng La-Chữ, bèn cho một đơn vị tấn công ngay vào đầu não của chúng nên Việt Cộng rút lui.  

Phía hữu ngạn, quân Việt Cộng rút chạy về hướng tây, qua ngã Bến Ngự, Nam Giao, hướng tây nam Huế… Khi mới chiếm khu vực nầy, như tôi có kể ở phần đầu, Việt Cộng có sẵn danh sách những nhân vật, người, công chức, sĩ quan, quân nhân, … Việt Cộng cứ theo danh sách đó mà đến từng nhà, bắt người và… xử lý. Dân chúng ở khu vực nầy, dù có làm gì hay không, đều chạy vào trốn ở nhà thờ. Đông nhứt là ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Dân ở làng Phước Quả (thường gọi là Phú Cam) thì vào trú ẩn ở nhà thờ Phú Cam. Khi chúng vào từng nhà mà không gặp, chúng sẽ tới nhà thờ tìm kiếm. Ở đây, chúng bắt hầu hết thanh niên, sinh viên cũng như người lớn tuổi ngồi sắp hàng để chúng hỏi tên, tìm kiếm người đã có tên sẵn trong danh sách của chúng. Theo cách làm đó, chúng bắt được ông Trần Điền tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế.  

Tôi biết ông Trần Điền từ lâu lắm vì ông là một trong 2 người Hướng Đạo Việt Nam đầu tiên có bằng Băng Rừng, bằng cao nhất của Hướng Đạo Quốc Tế. Người kia là ông Tạ Quang Bửu, tác giả cuốn “Trai Nước Nam Làm Gì”, sau 1945 theo Việt Minh, từng giữ các chức vụ thứ trưởng, bộ trưởng trong chính phủ liên hiệp Hồ Chí Minh. Cũng thời kỳ sinh hoạt hướng đạo trước 1945, ông Trần Điền là người chủ trương tờ báo Bạn Đường của hướng đạo hồi bấy giờ. Ông cũng từng làm tỉnh trưởng Quảng Trị năm 1954-55, chống ông Ngô Đình Diệm, có dính líu tới vụ Ba Lòng năm 1955 vì ông là lãnh tụ đảng Đại Việt. Ông bị tù vì tội chống nhà Ngô, bị đưa ra tòa, nhưng sau đó được tha, làm giáo sư tại trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế. Khi tôi vào dạy ở trường nầy năm 1959, lại gặp ông ấy. Tôi nói lại gặp vì trước đó, tôi đã từng gặp ông khi sinh hoạt hướng đạo. Khi ông Ngô Đình Cẩn mua và chỉnh đốn trường Trung Học Bình Minh, dời về địa điểm mới là trường Hồ Đắc Hàm cũ, qua một người rất gần gủi ông giúp đỡ, ông được ông Ngô Đình Cẩn mời làm hiệu trưởng trường nầy. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, bầu cử quốc hội Đệ Nhị Cộng Hòa, ông đắc cử vào Thượng Nghị Viện. Ông bị Việt Cộng bắt khi đang giữ chức vụ đó. Dĩ nhiên, ông không thể được tha và cũng không thể sống. Hình như cho tới bây giờ, thân nhân của ông cũng chưa tìm được hài cốt ông ở chỗ nào.  

Khi Việt Cộng đột nhập vào nhà thờ Phú Cam, chúng bắt đi hầu hết đàn ông lớn nhỏ trong nhà thờ nầy. Sau nầy người ta tìm thấy khoảng bốn trăm xác chết ở khe Đá Mài, gần lăng Gia Long. Họ thuộc thành phần gì, tội gì mà bị bắt đem đi đông thế, bị giết tập thể, bằng búa đập vào đầu một cách tàn ác vì Việt Cộng “tiết kiệm đạn dược”. Họ có một tội chung đấy. Ấy là tội theo đạo Thiên Chúa. Việt Cộng không bao giờ chấp nhận, không bao giờ hết căm ghét và thù hận những người theo đạo Thiên Chúa - Ngay bây giờ ở trong nước cũng vậy thôi! - Cho nên Việt Cộng giết tất, chẳng chừa một ai, nếu xui xẻo người theo đạo Thiên Chúa lọt vào tay chúng.  

Sau khi rút lui, Việt Cộng dẫn dám người bị bắt nầy lòng vòng đi nhiều nơi, rồi cuối cùng là giết tất cả vì nhiều lý do: Giữ bí mật cho mật khu, cho hoạt động, sinh hoạt của chúng, cho tổ chức của chúng, để họ rơi vào tay “địch” thì nguy hiểm, và nhất là với lòng thù hận, ghét người theo dạo Thiên Chúa nên Việt Cộng giết họ đi. Đã vì thù hận rồi thì sá gì cách giết dã man hay không dã man. Thậm chí giết một cách dã man, lấy cuốc đập vào đầu rồi đạp xuống vực khe sâu, Việt Cộng thấy “sướng” hơn là bằng cách xiết cò súng.   

Người ta thấy “lạ” vì tại sao Việt Cộng giết dân làng Phước Quả một cách bừa bãi và dã man như thế, nhưng với riêng tôi thì tôi chẳng thấy gì là “lạ”. Những ai biết hay từng có dịp nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyên Đắc Xuân sẽ không “lạ” gì khi thấy Việt Cộng giết dân làng Phước Quả bằng cách như thế.  

Việt Cộng giết người bừa bãi cũng vì lý do đặc biệt khác của họ. Ví dụ như các vụ giết người ở Gia Hội hay Bãi Dâu chẳng hạn.   

Khi bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa phản công, ở Gia Hội Việt Cộng bị tấn công ba mặt: Phía cầu Gia Hội, cầu Đông Ba, phía sông Hương. Chúng chỉ còn một đường rút lui: Bãi Dâu. Ở đó, chúng có thể vượt sông Hương, qua bên kia sông, hy vọng thoát. Đó là con đường quân Việt Mỹ để cho chúng rút đi, không phải đi trong bình an mà có thể bị trực thăng xạ kích, bị pháo binh và tàu hải quân “chiếu cố.” Do đó, Việt Cộng không thể nào đem người bị chúng bắt - Không thể gọi là tù binh bởi vì những người bị Việt Cộng bắt thuộc đủ hạng: Sĩ quan, quân nhân, công chức, cán bộ, dân sự, buôn bán… Khi chúng lục tục kéo về Bãi Dâu để vượt sông và thấy tình hình khó khăn lắm, bản thân chúng chưa chắc đã thoát huống gì người bị bắt. Do đó, Bãi Dâu trở nên “pháp trường”, giết bao nhiêu hay bấy nhiêu, nhất định không cho ai chạy thoát. Vì vậy Trịnh Công Sơn mới có bài hát “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người”. Ông ta thấy trong những người bị giết đó có bạn bè ông, những người sau nầy Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi là những con rắn độc (1)  

Ngay tại trường Trung Học Gia Hội, chỗ Việt Cộng đặt bộ chỉ huy dân sự cũng vậy. Nhiều người bị bắt đem về đến đó rồi bị giết khi Việt Cộng thấy chúng không thể mang họ theo.  

Những ngày cuối cùng Việt Cộng chiếm Gia Hội, vì súng nổ dữ dội nhiều phía, nhất là đại bác ở Trường Bia bắn liên tục vào khu vực Gia Hội, dân chúng ở đó đoán chừng quân ta đang phản công và sắp “tới rồi.” Họ khấp khởi mừng thầm và hy vọng, chen lẫn với lo lắng rằng Việt Cộng sẽ làm một “cái gì đó” trước khi chúng rút chạy.   

Và “cái gì đó” đến thật: 

Những đêm chúng sắp rút đi, chúng gọi những người đã trình diện trước kia nay phải “có mặt”. Ai dại dột ngây thơ “có mặt” thì bị chúng bắt đi hay giết ngay tại chỗ. Ai bị bắt đi ở trường Gia Hội thì cũng bị giết ở Bãi Dâu. Dĩ nhiên, có người không dại gì trình diện. Không trình diện thì chúng đến nhà, bắt và giết ngay tại chỗ như ông Trần Văn Cư, nguyên trưởng ty Cảnh Sát, ông Rớt (chồng mụ Rớt, chủ quán bún bò Huế nổi tiếng ở đường Ngự Viên). Hình như ông nầy là đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng - tôi nghe nói vậy – Cũng như trước đó là ông Nộn ở đường Phan Bội Châu, chủ tiệm sửa xe gắn máy - Hình như ông nầy là đảng viên Đại Việt - tôi cũng nghe nói thế. Anh Nguyễn Thanh Đăng, công chức, cựu quận trưởng Trung Lương, trốn trên rầm nhà, chúng xét nhà nhưng không thấy, thoát nạn.   

Khi Việt Cộng đến bắt anh Hoàng Thanh Tùng, lúc ấy là thẩm sát viên Cảnh Sát, nhà kế chùa Diệu Đế thì anh đã trốn mất rồi. Những ngày quân ta phản công, đại bác nổ dữ, nên nhà anh Hoàng Thanh Tùng có đào một cái hầm để tránh đạn. Thấy cái hầm, một tên Việt Cộng hỏi: “Có ai dưới hầm không”. Hoàng Thị Tâm Túy, em gái của anh Hoàng Thanh Tùng, cô nầy có gian hàng bán bánh kẹo tại cửa Bắc chợ Đông Ba, (2) trả lời: 

- “Không có ai hết.”  

Thật ra, dưới hầm có một em thiếu niên, 16 hay 17 tuổi, học sinh trường Kỹ Thuật Huế, em vợ của anh Hoàng Thanh Tùng, vì là con trai nên sợ trốn dưới ấy.   

Việt Cộng không tin lời Túy, bèn xuống lục soát và bắt được thằng bé. Vậy là Túy bị ghép tội “nói dối với Cách Mạng.” Tôi ấy nặng lắm!? Túy bị bắt cùng người em trai của vợ anh Hoàng Thanh Tùng. Đó là đêm cuối cùng của Việt Cộng ở Gia Hội. Trước khi rút chạy, chúng chôn sống cả hai người vào hố cá nhân do chúng đào ở sân trước trường Gia Hội. Sáng hôm sau, khi biết Việt Cộng chạy trốn rồi, ai nấy đổ xô đi tìm thân nhân. Vợ anh Hoàng Thanh Tùng tìm thấy em mình và em chồng mình bị chôn sống, thân thể lạnh chưa lâu. Hai tay Túy còn với lên trời. Cô ta cố vươn lên khi đất từ trên đầu đổ xuống.      

hoànglonghải  

(1) Sau 1975, Trịnh Công Sơn dấu biệt hai bài hát “Gia tài của Mẹ”, “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người” và soạn thêm bài hát sau đây, lời lẽ chung chung, đâu có nói gì tới người chết bên nầy hoặc bên kia, vô tôi vạ.  

            Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng

            Trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co.

                        Xác người nằm bơ vơ, dưới mái hiên chùa

            Trong giáo đường thành phố, trên thềm nhà hoang vu

                        Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này

                        Bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây

                        Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này

            Trong những vùng lửa cháy, bên những vồng ngô khoai 

Ai nói là Trịnh Công Sơn không “thông minh”?  

(2) Cô Hoàng Thị Tâm Túy là học trò của tôi năm cô học lớp Đệ Tam B-3 ở trường Trung Học Bán Công Huế, niên khóa 1960-61. Trong cuốn “Viết Về Huế - 1” của tôi do Văn Mới xuất bản có in tấm hình tôi (dạy Việt Văn) cùng anh Hồ Sĩ Hùng (dạy Lý Hoá) cùng một số nam nữ học sinh. Trong số nữ học sinh, có Hoàng thị Tâm Túy. Các cô cậu học sinh của tôi hồi ấy, nay cũng đã trên lục tuần cả rồi, không biết ai còn ai mất!” 

Bài 6 

Hồn Ở Đâu Bây Giờ?

-------------------------------------------------------------------------------- 

         Chiến tranh bao giờ cũng là một sự mất mát. Như trong bài trước tôi đã viết, hai cái chết gần gũi với gia đình chúng tôi nhứt là cái chết của Niệm, người em rể, và con Thơ, con nhỏ giúp việc. Ngoài ra, còn bao nhiêu cái chết khác, mỗi khi nhớ tới, tôi vừa thấy buồn cười vì những kỷ niệm cũ vừa đau xót vì cái chết của họ.        Người tôi phải kể trước nhất là ông Nguyễn Khán, giáo sư Pháp Văn của tôi năm tôi học lớp Đệ Nhị. Anh Nguyễn Kiếm, con trai lớn của ông là bạn học cùng lớp với tôi năm đó. Nguyễn Kiếm cũng đã tử trận sau cái chết của thân phụ anh không bao lâu. Ngoài ra, người con thứ của ông là Nguyễn Đài, đi lính cùng khóa với tôi, và hai em gái của Đài là học trò tôi.  

            Ông Nguyễn Khán, người Huế hồi trước thường gọi là ông tham Khán, ông từng làm giám đốc nha Thông Tin Trung Việt, dịch giả cuốn “Tâm Lý Quần Chúng”. Khi tôi vào học trường Khải Định (Niên khóa 1955-56 còn mang tên Khải Định) thì ông đã bỏ nghề công chức, dạy Pháp Văn tại trường nầy. Năm ông dạy Pháp Văn cho chúng tôi, thay vì gọi thầy Khán hay ông Khán thì chúng tôi gọi ông là “Ông Bài Vị”.  

            Đầu đuôi như thế nầy.  

            Một hôm ông vào lớp thì lớp rất bừa bãi: Ghế thầy giáo bị kéo nghiêng ra ngoài, hướng về bảng đen, không ngay ngắn ở bàn thầy giáo như thường lệ. Trên góc bảng đen, ghi như thế nầy: Trực nhật: Hà Công Bê. Không biết một “quái nhơn” nào đó, chùi bớt một số chữ, thành ra tên Hà Công Bê, chỉ còn là Con Bê. Thế là ông chưởi chúng tôi cho một trận tơi bời. Hai tội: Ghế thầy đem dùng việc gì đó, không đặt ngay ngắn ở bàn thầy là vô lễ với thầy giáo. Thứ hai: Bảng đen không phải là cái “chợ chữ” để ai muốn viết cái gì lên đó cũng được. Đó là nơi truyền thụ văn hóa và kiến thức cho hoc sinh. Đậu tú tài cũng nhờ có cái bảng đen đó, đậu cử nhân, tiến sĩ cũng nhờ nó. Ngày sau trở thành thiên tài, có ích cho dân cho nước, vinh quang, danh vọng, giàu có cũng nhờ nó. Vì vậy, “Các anh phải tôn trọng nó, kính trọng nó, (Lời ông Khán dạy), gìn giữ nó, như gìn giữ cái bài vị trên bàn thờ ở nhà các anh vậy” (Tới đây thì mặt ông đỏ gay, nói dằn từng lời vì giận chúng tôi lắm). Cả lớp im phăng phắc, con ruồi bay ngang cũng nghe. Nhưng sau đó, tật đùa giởn, nghịch và hỗn láo của chúng tôi cũng không chừa, nên chúng tôi gọi ông là “ông Bài Vị”. Tới giờ, thấy ông đi ngang qua préau để đến lớp chúng tôi thì có đứa la lớn: “Ông bài vị tới”. Cả lớp đều cười. Ngay cả Nguyễn Kiếm cũng cười với chúng tôi, không giận hờn gì! Dĩ nhiên, chỉ là gọi sau lưng, còn trước mặt thì thằng nào cũng sợ ông muốn chết. Hôm trước ông có chưởi thì ông chưởi chung cả  lớp, còn bây giờ, ông có chưởi thì sẽ chưởi riêng một thằng nào đó, có nước độn thổ mà thôi.  

            Tôi còn mộ kỷ niệm riêng với ông nữa. Một hôm, ông chú họ của tôi là ông Huỳnh Hữu Hiến, nơi tôi ở trọ và làm précepteur, mời ông tới nhà ăn giỗ. Hai ông rất thân tình với nhau: Một ông giỏi chữ Pháp, một ông giỏi chữ Nho. Tới nơi thì ông cằn nhằn vì người chạy xích lô ông thuê là một người Quảng Nam. Nghe ông nói, tôi đoán ông ít ưa người Quảng Nam “hay cải”. Nói cho đúng là ưa lý sự. Trong bữa ăn, ông có câu mai mỉa: “Bây giờ tự điển phải tra ngược: Dân chủ có nghĩa là độc tài, tự do có nghĩa là nô lệ…” Tôi áy náy vì lúc đó, tổng thống Ngô Đình Diệm vừa thành lập nền cộng hòa, ban bố hiến pháp. Và có một điều căng thẳng hơn, ông chú họ tôi là người “theo cụ” (danh từ của thời đó) khi cụ vừa từ chức thượng thư.   

            Trước kia, nhà ông ở đường Chương Đức trong thành nội. Mấy năm trước Mậu Thân, ông mua một khu đất lập vườn ở gần chân núi Ngự Bình. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan cũng là học sinh trường Quốc Học, cũng là học trò của ông. Hai anh em nhà nầy không quên đưa tên ông vào “danh sách ngụy quân, ngụy quyền cần xử lý”. Ông bị bắt ngay đêm Việt Cộng tấn công Huế, bị giết hay bị chôn sống ở đâu không ai biết. Sau Mậu Thân, Nguyễn Kiếm tử trận, Nguyễn Đài đi lính, tôi không hy vọng có người con trai nào có đủ khôn ngoan, lanh lợi để đi tìm xác cha.  

        Năm tôi mới cưới vợ, vợ chồng chúng tôi vài hai đứa em thuê nhà ở chung với nhau tại căn nhà sau của chị Phú Jean, nhà nầy đối diện với Ciné Morin cũ. Nhà quay mặt ra đường Hoàng Hoa Thám, cũng như Kho Bạc vậy. Bên nầy đường Trương Định là nhà chị Phú Jean, bên kia Trương Định là Kho Bạc. Tôi phải nói rõ vậy vì Kho Bạc là nơi lính Mỹ và Việt Cộng đánh nhau dữ dội, suốt hai ngày Mỹ chưa chiếm được mục tiêu.   

            Trong thời gian ở đây, chị Phú Jean thường chăm sóc và hướng dẫn cho vợ tôi công việc tề gia nội trợ, sao cho đảm đang, nên hai vợ chồng tôi rất cảm kích và nhớ ơn chi vô cùng.  

            Chị Phú Jean là chị họ vợ tôi. Chồng chị là ông Tây lai Jean Durant, quốc tịch Pháp. Thời còn Pháp, ông là xếp Douane Quảng Trị, cưới bà chị họ vợ tôi. Năm ông Ngô Đình Diệm đuổi Pháp về Tây, giành lại nhà Douane, chính quyền mới biểu ông nhập Việt tịch, sẽ để ông làm trưởng ty Quan Thuế như cũ. Nhất định ông không chịu, ông chỉ muốn giữ quốc tịch Pháp, mặc dù mẹ ông là người Việt Nam hoàn toàn. Ông bị thất nghiệp, qua làm việc cho Caritas. Buồn tình, những ngày lễ tết, ông hay bỏ nhà đi chơi. Có một năm, tôi đi chấm thi ở Hội An về, tới ga Đà Nẵng, gặp ông. Sau khi chào hỏi, ông bảo tôi: “Dượng! Dượng cầm chai nước nắm giùm tôi. Tôi đi ngoài nầy một chút vô liền.”   

            Gọi tôi bằng dượng, so với Huế hồi ấy, là tiếng hơi quê. Lại chuyện ông Tây đi Đà Nẵng mua nước mắm Nam Ô về ăn trở thành đề tài để tôi đùa vui với bạn bè. Tết Mậu Thân, ông lại đi Đà Nẵng chơi để vợ và 3 đứa con nhỏ ở nhà loe ngoe với nhau.   

            Hôm Việt Cộng chiếm Huế, chị Phú Jean sợ “vạ lây”, bèn lấy cây cờ tam tài, xanh trắng đỏ, - cờ Pháp - đem treo trước nhà, để nói cho cả hai bên đang đánh nhau biết rằng đây là nhà Tây, ngoại kiều.   

            Khi quân Mỹ phản công, khu vực nhà chị trở thành trận địa: Bên phải nhà chị là Kho Bạc, sau lưng nhà chị là ty Y Tế, hai nơi nầy Việt Cộng cố thủ vững chắc. Đánh mãi không xong, quân Mỹ phải dùng hơi cay mới đẩy Việt Cộng ra khỏi nơi nầy.   

            Quân Việt Cộng núp trong sân nhà chị, sau các bức tường xây gạch vững chắc, chống cự giai dẵng. Sau khi đánh bật quân Việt Cộng ra khỏi đây, lính Mỹ lục soát khu vực. Cửa trước nhà chị bằng gỗ chắc, súng bắn không bung ra được, lính Mỹ đi vòng ngã sau. Cửa chỉ khép, bốn mẹ con chị núp trong phòng ngủ. Khi lính Mỹ quăng lựu đạn rồi nhảy vào nhà, chị la to: “Moa Frăng-xe”. (Moi, Francaise). Không rõ chị nói tiếng Pháp không rành hay tên lính Mỹ không biết tiếng Tây, nên khi nghe tiếng la, hoảng kinh, tên lính Mỹ ria một băng. Máu ở bụng chị tuông ra. Chị gục xuống. Mấy đứa trẻ khóc ré lên. Bấy giờ tên lính Mỹ mới định hồn. Rồi ba bốn tên chạy lại, lấy cáng, đặt chị lên đấy, khiêng ra vườn hoa Khâm Sứ, cách đó khoảng hơn một trăm mét, trực thăng đưa xuống bệnh viện dã chiến Mỹ ở Phú Bài. Mấy đứa nhỏ đi theo mẹ. Vào tới bệnh viện thì chị qua đời. Vết thương nặng lắm. Bệnh viện đưa xác vào phòng lạnh, hỏi chuyện mấy đứa nhỏ rồi lần tìm anh Jean ở Đà Nẵng. Anh Jean về nhận xác vợ, lo chôn cất. Khi liệm, mấy lượng vàng chị lận ở lưng vẫn còn, không bị lấy mất. Kể lại chuyện đó, ông Tây lai phải khen người Mỹ không tham lam. (Có lẽ ông nhớ mấy năm trước, khi Tây còn ở Việt Nam đánh nhau với Việt Minh, có lẽ lính Tây không được “lương thiện” như vậy).   

            Năm 1972, tôi về đám ma Hùng móm, em út, đi ngang ngôi nhà cũ, tôi không vào thăm nơi tôi từng sống những ngày còn trẻ, cùng vợ mới cưới. Nhà đã đổi chủ. Sau khi vợ qua đời, anh Jean đem các con về Pháp, bỏ Việt Nam, quê mẹ, nơi có quá nhiều nỗi kinh hoàng và đau đớn!  

            Còn một vài cụ già tôi rất kính mến đã qua đời vì trận giặc nầy nữa như cụ thân phụ ông Vàng, nhà phía cổng sau trường Bình Minh. Ông cụ cũng bị lính Mỹ bắn lầm. Họ băng bó cho ông, đưa vô trường Bình Minh thì ông cụ qua đời. Họ để xác ông cụ lại đó cho thân nhân đến nhận.   

            Ông cụ thân sinh anh Đề ở làng Phú Xuân thì bị Việt Cộng bắt đi mất tích. Ông già rồi, chẳng có tội tình gì; chẳng qua con trai ông làm chủ tịch xã, đã bỏ trốn khi Việt Cộng chiếm làng nầy. Không bắt được con, chúng bèn bắt cha thế mạng. Còn một ông cụ nữa, thân phụ Trương Như Phương, người hay đến chuyện trò với tôi, tuy anh ta nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Nhà ông cụ ở Nam Giao, biết tôi chơi với Phuơng, có lần ông đến thăm tôi, khiến tôi rất cảm động. Ông bị bắt không rõ vì lý do gì. Ông cụ từng có thời gian làm việc ở Nha Công An, nghỉ hưu đã mấy năm.  

            Nhìn chung, so với tình hình sau ngày 30 tháng Tư - 1975, việc bắt bớ và giết chóc ở Huế bừa bãi và tàn ác hơn, không cần xét xử, thậm chí không cần hỏi cung, không lấy lời khai, không lên danh sách. Hễ cứ ai bị bắt thì trước sau cũng bị giết. Giết ngay khi chúng còn chiếm Huế, chôn trong các hầm hố tập thể, cá nhân. Khi Việt Cộng bị quân Mỹ Việt đánh đuổi riết, nếu thấy tình hình căng thẳng, không chạy kịp thì chúng giết hết tất cả những người bị bắt cho khỏi vướng bận. Giết không kịp chôn, bỏ chạy; giết và chôn ngay trong các hố bom, trong các hầm hố do chúng buộc người bị bắt đào, thậm chí, lấy cuốc, búa đập bể sọ rồi xô xuống ghe Đá Mài như trường hợp bốn trăm người dân làng Phước Quả.  

            Sau vụ tàn sát tết Mậu Thân ở Huế, tôi đi lính rồi lưu lạc vào Saigon, về miền Tây, có không ít người hỏi tôi việc tàn sát ấy. Họ hồ nghi về việc giết người tàn ác như thế, không lý có người tàn ác như thế?!. Tôi trả lời: “Dễ hiểu lắm. Cách mạng triệt để là vậy. Có gì khó hiểu đâu?”  Triệt để là sao? Là làm tới nơi, tới đáy. Chẳng hạn giữa anh và tôi là hai kẻ thù, có một con dao. Anh là Việt Cộng, anh không xử dụng nó được thì anh phải hủy nó đi. Không hủy nó, để con dao lại, tôi dùng nó để giết anh thì sao? Như vậy gọi là “cách mạng triệt để”. Vậy thì cách mạng không coi dân là mục đích phục vụ mà chỉ là phương tiện hay sao? Vâng! Trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, thì dân chúng là phương tiện xây dựng xã hội ấy. Khi xây dựng xong, dân chúng không còn ai sống đi nữa thì đã có thế giới đại đồng. Như vậy, bọn Việt Cộng là Việt Gian. Những tên đầu sỏ ngồi ở Bắc Bộ phủ là Đại Việt Gian, là tay sai của Cộng Sản quốc tế, của Nga - Tàu. Khi thấy được bản chất của chủ nghĩa Cộng Sản, bản chất những người Cộng Sản Việt Nam thì sự tàn sát ở Huế không có gì là khó hiểu cả.   

            Ngay khi Việt Cộng vừa rút khỏi thành phố, người dân Huế đổ xô đi tìm thân  nhân bị Việt Cộng giết, dù sự hy vọng sống sót rất mong manh. Hễ cứ nghe ở đâu có mồ chôn người, một vài xác hay tập thể là người dân Huế đổ xô đến tìm thân nhân. Dù chỉ là nắm xương tàn, người ta cũng đem về chôn cất cho ấm mồ ấm mả, không muốn thân nhân mình bỏ xác lạc vất lạc vưỡng đâu đó, rất đau lòng, tội nghiệp.   

            Đi tìm xác người, ít ai hy vọng tìm được cái đồng hồ hay chiếc nhẫn vàng để nhận ra người thân. Những cái ấy không còn, nhưng người ta tìm dấu tích nơi bộ răng, có thể qua cái răng vàng còn lại, ở cái “búp” nịt, ở cái áo, cái quần, đôi dép có khi đã mục nát, khó nhận ra, v.v…  

            Công việc tìm kiếm đó cứ kéo dài ngày nầy qua ngày khác, hết mùa xuân, tới mùa hạ. Rồi sang thu, trời bỗng có những cơn mưa lớn. Người ta bỗng phát hiện có giày dép, khăn vải trôi ra ở đầu một cái khe. Đoán chừng có người chết trong khe ấy, người ta cứ dần theo ngọn nước mà đi ngược lên, tới một nơi, ai nấy bỗng kinh hoàng: Xương người chồng chất, cái nọ vắt ngang cái kia. Da thịt đã rửa nát, chỉ còn trơ xương và sọ. Người ta lượm, đối chiếu sắp xếp, tính toán: Bốn trăm bộ xương người, không có dấu đạn bắn, chỉ có dấu sọ bị vỡ. Có nghĩa là người ta bị giết bằng búa, bằng cuốc, bằng vật cứng như sắt thép. v.v… 

            Đâu còn phân biệt bộ xương nào là của ai, người dân Huế đành hốt về chôn vào những ngôi mộ tập thể.   

            Xem cuốn phim về việc cải táng ấy, trên phim ảnh, có lẽ người ta thấy bớt kinh hoàng hơn trong cảnh thực, nhưng tiếng khóc của những người đàn bà trong cuốn phim ấy đã để lại những dấu ấn khó quên trong lòng người nghe. Tiếng khóc thê thảm quá, đau khổ, nghẹn ngào quá, nức nở quá, nói sao cho hết. Đó là tiếng khóc phát ra từ đáy lòng, oán than sự tàn ác của con người đối với con người, chưa nói tới oán than chế độ. Một chế độ tàn ác với dân chúng, người ta có thể chấp nhận như đã từng xảy ra trong lịch sử nhân loại, nhưng con người tàn ác với con người như thế, khó nơi đâu có, khó có thể có được và chấp nhận được. Với Từ Bi của Phật, Bác Ái của Chúa hay chữ Nhân của đạo Khổng, người ta khó chấp nhận một sự tàn ác vượt ra ngoài cái tính người. Bởi vì người thì có tính người. Người giết người như thế thì không còn tính người nữa!  

            Đọc “Hà chính mãnh ư hổ” trong Cổ học Tinh hoa, người ta không khỏi xúc động khi đọc tới câu: “Đức Khổng Tử đi qua một cánh đồng, thấy một người khóc thê thảm lắm.” Người đàn bà  khóc thê thảm là vì: “Trước đây cha tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, nay con tôi cũng chết vì hổ. Thảm lắm ông ạ.” Ba đời chết vì hổ, không thảm làm sao được! Hổ giết người vì hổ không có tính người. Người giết người cũng vì người không có tính người, nên tiếng những người đàn bà Huế khóc cha, khóc chồng, khóc con bị giết trong trận giặc năm Mậu Thân đó không thê thảm làm sao được!  

            Đó là những tiếng khóc không bao giờ quên. Đó cũng là tiếng mẹ tôi khóc con khi anh cả tôi bị Tây giết năm ông mới ngoài hai mươi tuổi, khóc Hùng món khi Hùng tử trận chưa tới 30 tuổi, là tiếng khóc của mẹ con Thơ khi tôi đưa bà đến bốc mộ cho con.   

            Tôi không quên được những tiếng khóc đó, cho nên tự nghĩ tôi khó có thể “hoà hợp hòa giải” được với những kẻ giết người không có tính người, bởi bất cứ một lý do gì, dù hay dở thế nào cũng vậy thôi!    

Bài 7 

Cướp Bóc  

            Cả ba lực lượng tham chiến ở Huế: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, và Việt Cộng đều có hành động cướp bóc tài sản của dân. Chỉ khác nhau một điều: Đối với lính Mỹ hay Việt Nam Cộng Hòa, đó chỉ là hành động cá nhân, còn Việt Cộng là có chính sách, có chủ trương.           

            Sau khi chiếm thành phố Huế, Việt Cộng cướp tất cả thuốc men ở các nhà thuốc Tây ở Huế như nhà thuốc Tây Gia Hội, ở đầu đường Gia Hội, gần Vườn Hoa, nhà thuốc Đông Ba, trên đường Trần Hưng Đạo, gần rạp ciné Tân Tân, v.v…  

            Người bạn thân của tôi nhà ở đường Hồ Xuân Hương, Gia Hội, Huế. Anh bị mắc kẹt ở đó suốt 26 ngày Việt Cộng chiếm vùng nầy, mãi đến khi Việt Cộng rút đi, quân đội VNCH đến giải tỏa, anh mới thoát nạn.  

            Trong thời gian đó, nhà anh là nơi trú đóng của ban quân y đơn vị Việt Cộng ở đây. Do đó, thuốc Tây bị cướp ở các nhà thuốc Tây nói trên được đem về nhà anh, trước khi được chuyển lên chiến khu (trên rừng). Một quân y dược sĩ gì đó, anh không dám hỏi kỹ, đảm trách việc cướp và vận chuyển thuốc Tây nầy. Tên nầy ở tại nhà anh hơn nửa tháng.   

            Một hôm, anh bị ho, có lẽ vì trời lạnh. Tên quân y dược sĩ Việt Cộng lấy ra một hộp kẹo ho, hộp Solutricine, có mấy chục vien, y lấy ra một viên, biểu anh ngậm nó: “Sẽ hết ngay, thuốc nầy hay lắm”, như lời tên Việt Cộng nói.  

            Anh bạn tôi thấy buồn cười, nói với tôi: 

            “Viên thuốc làm tao nhớ mày! Mày dạy Việt Văn, nói như con sáo, mùa đông nào mày chẳng bị khan tiếng mấy ngày, phải ngậm thứ Solutricine nầy cho hết bệnh. Mày xài hết một hộp, có khi qua tới hộp thứ hai vẫn chưa hết khan tiếng. Nó đưa tao chỉ có một viên, bảo ngậm vào hết ngay, làm như thuốc Hoa Đà.”  

            Đối với những đất nước nghèo khổ thiếu thốn, một viên thuốc như thế là quí lắm, nên ngậm một viên là hết bệnh ngay. Đó cũng là trường hợp một anh Việt Cộng, tuy đã vào miền Nam, đã tiếp xúc với miền Nam, còn “quê” như thế. Hơn 20 triệu đồng bào miền Bắc hồi ấy, thiếu thốn như thế nào, khốn khổ như thế nào dưới ách cai trị lạc hậu và bóc lột của chế độ Cộng Sản. Việc vào các nhà thuốc Tây lấy thuốc, tập trung tại nhà dân rồi vận chuyển lên chiến khu của Việt Cộng không phải là việc tự phát mà phải có chủ trương, kế hoạch. Chủ trương đó, kế hoạch đó, không do cấp chỉ huy Việt Cộng vạch ra là gì?  

            Việt Cộng thường rêu rao bọn thực dân Pháp dìm dân tộc ta vào vòng nô lệ để mọi người đói khổ, thiếu thốn, đau ống không có thuốc men. Vậy chớ việc cướp thuốc của Việt Cộng như nói trên là cái gì? Hai chục triệu dân chúng miền Bắc bệnh không có thuốc, hay như sau 1975, cả nước, dân chúng ai đau bệnh gì thì cũng chỉ có “Xuyên Tâm Liên” thì đó là cái vòng gì? Đó không phải là vòng nô lệ đâu! Nói cho đúng là vòng kim cô trên đầu ông Tề. Việt Cộng chỉ cần niệm chú (Công an + Hộ khẩu) là vòng kim cô xiết chặt, dân chúng sẽ lăn lộn như ông Tề khi Phật Bà Quan Âm niệm chú ông Tề vậy. Dó là cái “dân chủ nhất, tự do nhất, hơn các nước Tây phương cản vạn lần” mà Trường Chinh từng khoe khoang vậy!!!  

            Quả thật hồi ấy tôi không nghe ai nói lính Mỹ cướp tài sản của người dân Huế. Như tôi có kể trong bài viết về cái chết của chị Phú Jean (Bài 6), chị bị bắn, đưa về bệnh viện Mỹ ở Phú Bài, đến khi anh Jean đến nhận xác vợ về đem chôn, mấy lượng vàng trong lưng chị vẫn còn nguyên, không bị mất. Tôi không nghĩ là mấy người lính Mỹ khi bế chị bỏ lên cáng hay y tá, bác sĩ Mỹ chăm sóc vết thương cho chị, không thấy mấy lượng vàng ấy. Họ thấy đấy, họ biết đấy nhưng họ không tham, không cướp tài sản của người khác.   

            Hồi trước thì tôi biết vậy, nhưng mới đây, khi tới Mỹ, đọc cuốn “The Battle for Hué” của Keith Nolan, tôi rất thích thú. Đây là một tác phẩm hình thành do tác giả tìm hiểu, nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử giá trị và nhất là đã phỏng vấn khoảng 400 người, có liên hệ ít nhiều đến trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế, từ tướng Westmoreland, tư lệnh lực lượng Mỹ ở Việt Nam hồi bấy giờ, cho tới những anh hạ sĩ, binh nhì, binh nhứt Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, thuộc các đại đội Fox, Bravo…từng tham gia và sống sót trong trận đánh ấy. Từ những cuộc phỏng vấn, tác phẩm trở thành sống động, trung thực, nói lên được tính chất rất thực của trận đánh ấy. Tôi đã dịch tác phẩm ấy, đã cho đăng, mục đích là để người dân Huế thấy rõ người lính Mỹ đã chiến đấu, gian khổ, thương đau và hy sinh như thế nào, để có một cái nhìn rất thực và giữ được những tình cảm tốt của người Huế đã có đối với binh lính Mỹ hồi ấy.  

            Dĩ nhiên, người lính Mỹ cũng rất người khi tham gia trận đánh ấy. Sau đây là một đoạn mô tả một người lính Mỹ định “chôm” một tượng Phật trong một ngôi chùa ở phía Tây Huế: 

            “Carter và mấy người lính TQLC vượt mấy hàng cây thấp và tới một ngôi chùa nhỏ ở giữa một khu vườn. Họ đứng nhìn một lúc. Chùa thật đẹp, mái cong lợp ngói. Nhang trong bình chưa đốt. Carter thấy tượng Phật ngồi trên bàn thờ, anh ta rất muốn lấy tượng Phật đó để làm kỷ niệm. Tuy nhiên, anh ta biết phải dấu ở đâu đó trong đồ đạc suốt 9 tháng trước khi về nước. Vã lại, anh ta nghĩ nếu “chôm” pho tượng ấy, Chúa sẽ không cho anh là người làm điều phải.” 

            Họ cũng có người xấu hơn, sau đây là một đoạn khác cũng trích trong sách nói trên: 

“Một vấn đề xảy ra đằng sau chiến tuyến của TQLC là thổ phỉ. Ai cũng có hết. Một sĩ quan TQLC hết sức ngây thơ nghĩ rằng binh lính trẻ của anh ta đã vượt quá việc giải phóng những cái gọi là say sưa và tiền bạc tìm thấy trong những căn nhà trống. Suốt trong những ngày đầu TQLC đã “chôm” một số kính hiển vi ở viện đại học và khi đại đội 2/ 5 ổn định khu Kho Bạc rồi, một số TQLC bỏ túi một ít vàng thỏi. Một số TQLC từng quen với những người ăn mày nghèo khổ sống trong làng quê, ngạc nhiên trước sự giàu có của Huế, và có một số vật kỷ niệm bị lấy đi. Cũng có một số xe dân sự bị trưng dụng. Những thứ “chôm” được đó được đem ra xử dụng như mua đồ tiếp liệu, di tản người bị thương và ngay cả ... hết xăng giữa đường. 

Tuy nhiên, việc cướp bóc của TQLC có liên hệ đến vài lý do nhỏ nhặt. Trước hết, và quan trọng nhứt, các đại đội trưởng không khoan thứ cho một hành động cướp bóc nào ở mức độ lớn. Lệnh nghiêm nhặt tôn trọng tài sản dân chúng và binh lính bị lục soát kỹ để ngăn ngừa việc cướp bóc. Thứ hai, TQLC không có cơ hội để cướp bóc của dân. Họ đang chiến đấu, luôn luôn phải tiến tới phía trước nên không có thì giờ để thực hiện những hành vi như thế. Họ chẳng có thể mang theo cái gì kềnh càng được. Mặc dù có vài hành vi cướp bóc nhỏ nhặt, báo chí vẫn tường trình việc ăn cắp ồ ạt. Chẳng hạn như nhà nhiếp ảnh Philip Jones Griffith tố cáo TQLC đã xé nát thành phố bằng việc cướp bóc chè chén say sưa. (Tin tức của Griffith sai lầm vì sự thực ông ta đã viết rằng TQLC ở Huế là những chiến binh rất nghèo khó) 

Nhìn chung, việc cướp bóc ở Huế là do người Việt Nam. Người tỵ nạn báo cáo nhà cửa họ bị ăn cắp. Những bị cáo lớn nhứt là binh lính Miền Nam VN. Vai trò của họ là quét sạch Cộng Quân sau khi TQLC Mỹ đã tiến qua, nên họ đi từ nhà nầy qua nhà khác để tổ chức băng nhóm cướp bóc, lấy bia, máy nghe nhạc, tủ lạnh, tiền bạc và các thứ khác. Trong một vài trường hợp, binh lính VNCH còn lục soát dân chúng và lấy những gì chúng muốn. Chỉ trong mấy tuần đánh nhau, việc các binh lính cướp bóc nầy lên đến mức độ không thể khoan dung được, đến nỗi các nhà lãnh đạo ban hành nhiều biện pháp quyết liệt: Xử tử những kẻ cướp bóc. Trung tá Gravel sợ những hàng chữ như TQLC Hoa Kỳ hãm hiếp, cướp bóc, và cưỡng đoạt các cổ vật trong Đại Nội nên ra lệnh cho các cố vấn Mỹ “Kể từ 12 giờ hôm nay, bất cứ binh lính VNCH cướp bóc sẽ bị bắn tại chỗ.” Ông ta còn nói thêm: “Tôi phải đổi hướng tấn công. Nếu cần, tôi sẽ làm như thế.” 

Ông ta không cần phải làm như thế, cũng không có một lính TQLC nào bắn hạ một tên cướp bóc nào. Các cố vấn quân sự thông báo cho binh sĩ VNCH biết việc gì có thể xảy ra. Mặc dù việc cướp bóc không bao giờ chấm dứt hoàn toàn nhưng đã giảm thiểu nhiều. Nhưng tất cả kinh nghiệm còn lại là một chút chua xót nơi cửa miệng. Trung sĩ Dye ghi nhận : “Binh lính VNCH quả là bất trị, luôn luôn tìm cách ở sau xa TQLC khi chúng tôi chiến đấu ở khu Nam thành phố Huế. Sau một trận đánh cam go, tôi thấy chúng lái xe GMC tới cướp bóc tại những ngôi nhà chúng tôi mới đánh chiếm xong. Cũng có nhiều anh TQLC chó má về việc cướp bóc nầy nhưng tôi nghĩ rằng nếu binh lính VNCH không lợi dụng cái uy danh của TQLC qua các trận đánh ở đây thì họ đã đánh mất cái uy danh ấy rồi.”  

Quả thật hồi ấy tôi không biết những chuyện ấy, nhưng những việc sau đây thì tôi có nghe tới, chứng kiến và… hụt phần.  

Sau khi quận Hữu Ngạn ổn định, tình hình an ninh có được, thì có tin chính quyền sẽ phát gạo cho dân chúng. Chỉ là tin đồn còn gạo thì không thấy. Huế có mấy kho gạo an toàn nhưng chính quyền lúc đó tan tác như tổ chim bị vỡ: Ông trung tá Khoa, tỉnh trưởng, chưa hoàn hồn vì chạy trốn Việt Cộng trối chết, may mà toàn mạng. Tiểu khu phó, thiếu tá Bào thì đã tử trận. Về hành chánh, hai ông phó, một ông là phó tỉnh trưởng, một ông phó thị trưởng thì một ông bị giết, một ông bị bắt, chính quyền như rắn mất đầu.   

Chờ mãi không thấy gì, dân chúng không có gạo ăn bèn tìm tới các kho gạo để tự giải quyết lấy. Kho gạo của hiệu Rồng Vàng ở ngang cổng sau trường Quốc Học đang được dân chúng chiếu cố. Tôi cũng đi kiếm gạo ăn. Trên đường đi, dọc đường Lê Lợi, tôi thấy người ta ùn ùn chở gạo trên xe Honda, xe Vespa, xe đạp và cả xe Jeep chạy ngược chiều. Khi tôi tới nơi thì kho gạo trống không, người ta lấy hết rồi.  

Sau đó, chính quân đội Mỹ phải đứng ra cấp phát gạo cho dân chúng. May mắn, trận giặc kéo dài cả tháng như vậy, dân chúng ở trong vùng quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát không ai bị đói cả.  

Vụ cướp lớn nhứt là ở tiệm bán TV Việt Tuyến trên đường Trần Hưng Đạo, gần Thương Bạc. Có lẽ vụ cướp nầy có ông lớn chỉ huy nên mới ngang nhiên như vậy: Cửa sắt của tiệm bị phá bung ra, xe GMC quay đít vào, mấy anh lính khiêng hết TV trong tiệm bỏ lên xe chở đi. Tôi không rõ người ta phải chở đi mấy chuyến như vậy cho hết hàng.  

Chuyện ông đại úy LBN mới buồn cười hơn.   

Ở Việt Nam làm nghề gì cũng có ông tổ: Tổ thợ may, tổ thợ hồ, tổ thợ rèn, và… cả tổ ăn trộm. Trước khi hành nghề hay hằng năm, người ta phải cúng tổ cả đấy, để được phù hộ. Ông LBN hành hiệp mà quên cúng tổ nên mấy người bạn tôi kể chuyện cười về việc ông ta bị tổ trác như sau: 

Ông làm đại đội trưởng, lợi dụng chức vụ, ông ta cùng mấy đệ tử mang lựu đạn vào kho bạc phá tủ sắt lấy tiền xài chơi. Lựu đạn nổ, mấy cái tủ sắt vẫn y nguyên. Tủ sắt từ thời Tây đô hộ để lại chắc quá! Buồn tình, ông qua đường Phan Bội Châu, tìm vào mấy nhà có của đòi hỏi tiền bạc gì đó. Khổ nỗi, ông vào tiệm B.T., chủ tiệm là một người Huế gốc Bắc, bà con với tướng Loan, lúc đó ông nầy đang làm tổng giám đốc Cảnh Sát Công An. Tình hình hơi êm êm, tướng Loan ra Huế thị sát và thăm bà con. Câu chuyện ông đại úy LBN đến “thăm” được kể lại nên ông đại úy bị tổ trác rời Huế tức khắc, không kèn không trống, không tiệc tùng tiễn đưa gì cả.  

Cán binh Cộng Sản từ bắc vô nam đúng là những anh nhà quê ngớ ngẩn. Từ nhỏ, họ chưa từng thấy vàng nên không hiểu được giá trị của vàng bạc, vì vậy họ không lấy. Họ lấy xira đánh giày, chùi sạch để đựng thuốc Lào hút chơi, và lén lút chôm cái đồng hồ đeo tay của dân vì sợ “trên phê bình.”  Tuy nhiên, với những cán binh kẹt trong thành nội, cửa Hữu, cửa An Hòa thì khi con đường tiếp tế bị cắt đứt, bọn chúng tới nhà dân yêu cầu đem cơm “ủng hộ cách mạng”. Việt Cộng trong Nam như đám Tường, Xuân thì “khôn” hơn. Bọn chúng lấy những gì có thể mang đi được, xài được như vòng vàng, đồng hồ đeo tay hay radio transitor. Những thứ cần có điện mới xài được như TV, máy hát thì chúng bắn nát, đập bể cho “bỏ ghét bọn ngụy”. Ai bảo những hành động đó không nằm trong chính sách “giải phóng miền nam”…  

Khi tình hình đã yên ổn hơn, một hôm tôi lên thăm ông Vàng, bố ông Vàng qua đời hôm lính Mỹ tới giải toả khu vực nhà ông. Đang đi ngã sau, đường Trương Định thì thấy anh bạn học cũ, cũng là bạn văn nghệ văn gừng, hiện đang làm giáo sư sử địa trường Quốc Học, đang “chỉ huy” hai ba chiếc xe ba gác, lấy sách (lấy, hay chôm, hay cướp) trong thư viện Đại Học, (Thư viện nầy đối diện với câu lạc bộ thể dục thể thao Huế, bên kia đường Lê Lợi). Anh bạn cho xe đi ngã sau, tránh, không để ai biết, “thuận tiện” cho công việc chôm chỉa của anh ta hơn. Thấy tôi, để “xã giao”, anh toét cái miệng rộng toang hoác của anh ra cười trừ. - Trước kia, gặp tôi, ít khi anh ta cười như thế - Cũng còn sĩ diện đấy chứ, khi thấy người khác biết mình đang ăn trộm, dù là ăn trộm sách. Trong thư viện nầy, quí nhứt là bộ “Bulletin des amis aux vieu Hué” do linh mục Cadière chủ trương. Nghe nói thư viện Đại Học, khi thành lập, đã bỏ ra cả triệu đồng để mua lại bộ sách ấy. Không biết bộ sách bây giờ ở đâu?!  

Việc hạ lá cờ ma trên cột cờ Ngọ Môn cũng đã sinh ra nhiều huyền thoại cảm động. Người Mỹ họ để cho quân lực VNCH tấn công chiếm lại cột cờ và nắm lấy cái vinh dự tự tay người Việt treo ngọn cờ Quốc Gia lên. Thế rồi bỗng xôn xao trong dư luận có người tình nguyện leo lên cột cờ cao hơn 50 mét trên kỳ đài cao hơn 30 mét, cọng chung, kể từ mặt đất lên là cả trăm mét, để kéo ngọn cờ xanh đỏ xuống vì giây cờ đã bị đứt, lá cờ rách như xơ mướp vì đạn bắn vào. Khi cờ Việt Cộng bị hạ, chúng vẫn còn lén lút núp đâu đó và bắn tỉa, khiến có người trúng đạn rơi xuống. Khi tôi đến thăm một người bạn đồng nghiệp ở đường Phan Bội Châu thì thấy người em anh ấy, thiếu úy, đang ngồi mặt mày không vui chút nào. Hỏi ra mới biết anh ta đang bị người yêu cự nự vì anh chính là người leo lên hạ lá cờ Việt Cộng xuống. “Người ta không thương mình, người ta mới liều lĩnh làm công việc ấy. Lỡ bị Việt Cộng bắn, mình trở thành goá bụa thì sao?” Ấy là câu anh bạn tôi thuật lại câu trách khéo của người yêu em của anh. Tôi chỉ cười, than bâng quơ rằng: “Đàn bà rắc rối thiệt!”  

Hôm làm lễ thượng kỳ, treo lại lá cờ Quốc Gia trên cột cờ Ngọ Môn thật cảm động. Đồng bào đã được thông báo trước giờ thượng kỳ nên khi tôi tới trường Quốc Học thăm người bạn, đồng bào đứng chật cả sân trường. Ai nấy hướng về cột cờ Ngọ Môn bên kia sông. Bỗng có tiếng hô chào cờ truyền đi từ đài phát thanh Huế, được phát lại qua hệ thống loa thiết trí ở sân trường.   

Tiếng nhạc trổi lên, tiếp theo là tiếng hát “Nầy công dân ơi!...” và bên kia sông, trên cột cờ Ngọ Môn lá cờ vàng đang lên cao dần, rực rỡ và tung bay theo ngọn gió hiền hòa buổi sớm mai. Bỗng tôi giật mình vì tự nhiên tất cả đồng bào trong sân trường Quốc Học hôm đó đều hát theo tiếng hát trên loa. Bên cạnh tôi là ông cụ già tóc đã bạc nhiều. Cụ đang hát, cái miệng già móm mém và tiếng hát tuy thều thào nhưng cũng cố hát cho mạnh. Tò mò, tôi nhìn quanh. Kỳ lạ chưa, chưa bao giò tôi thấy cảnh tượng đó: Ai cũng hát, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà. Không riêng gì tôi, ai cũng xúc động mạnh, có người vừa hát vừa chảy nước mắt. Sau gần ba mươi ngày chết chóc, gian khổ, và đói khát, bỗng như hôm nay, qua tiếng hát, người dân Huế tìm lại được niềm tin, tìm thấy hy vọng, tìm lại được cái gì là của mình, tìm lại được hơi thở và sự sống, biết mình còn sống và biết mình còn có tương lai, không còn đau đớn và tuyệt vọng như những ngày súng nổ rền trận địa.   

Đó là lần thứ nhứt và cũng là lần độc nhứt trong đời, không những tôi chứng kiến mà chính là tham gia một buổi chào cờ cảm đông nhứt.  

Tôi còn xúc động trước cảnh chào cờ một lần thứ hai nữa, khi tôi tới đảo Bidong năm 1989. Buồn thay, lần xúc động nầy, chỉ có mình tôi!!!  

Tôi yêu lá cờ ấy, không hẵn vì màu vàng rực rỡ, màu đỏ thắm tươi. Tôi yêu nó như tôi yêu tổ quốc, làng nước tôi, đơn giản chỉ có vậy. Nó là dãy núi Trường Sơn xanh thẳm ở chân trời, khi mỗi chiều tôi ngồi bên bờ sông Thạch Hãn nhìn về phía Tây, là những giòng sông êm đềm của miền Trung mà tôi đã đi qua, là sông Tiền, sông Hậu khi tôi lưu lạc xa quê trong đời một người lính VNCH, là mũi ông Trang, nơi tôi âm thầm trốn chạy, lìa xa đất nước trong một đêm trời đen như mực mà người ra đi có bao nỗi xốn xang, buồn bã và thương nhớ. Lá cờ đó phủ trên quan tài em tôi khi em tôi hy sinh vì tổ quốc. Nghĩ tới là cờ đó, bài quốc ca đó, bao giờ tôi cũng nhớ lời của ông chú tôi thuật lại, khi quốc hội VNCH đầu tiên đề nghị thay quốc ca và quốc kỳ, câu tổng thống Ngô Đình Diệm hỏi các đại biểu quốc hội khi họ vào dinh trình ông việc thay đổi đó : “Rứa mấy người chết vì lá cờ ni, bài hát ni thì răng?”  

“Thì răng?”  

Thì vẫn giữ lại nó. Lá cờ ấy tượng trưng tổ quốc, cho dân tộc, biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lá cờ đó, vì bài quốc ca đó.  

Nó là lá cờ Quốc Gia Việt Nam, hay còn gọi là lá cờ Việt Nam Cộng Hòa.    

Ghi chú: Có người gọi lá cờ ấy là cờ vàng ba sọc đỏ. Sao lại gọi như thế? Phải gọi cho chính danh chứ! Tại sao không gọi đó là lá cờ Quốc Gia Việt Nam hay cờ của nước Việt Nam Cộng Hòa mà lại gọi là cờ vàng ba sọc đỏ. Gọi là cờ vàng ba sọc đỏ thì nó tượng trưng cho cái gì? Cho cộng đồng người Việt ở một thành phố nào đó, một tiểu bang nào đó được hội đồng thành phố hay quốc hội tiểu bang chuẩn nhận. Nói theo ý nghĩa đó thì nó chỉ là lá cờ tượng trưng cho một cộng đồng, môt tập thể, một hãng xưởng nào đó như cờ của Enron hay Intel. Nó phải cao hơn thế, mà cao hơn rất nhiều. Không chỉ đó là lá cờ của cộng đồng người Việt hải ngoại mà chính là lá cờ của một đất nước, một dân tộc, lá cờ của Quốc Gia Việt Nam hay có thể gọi một cách khác là lá cờ của nước Việt Nam Cộng Hòa.   

Bài 8 

Cháy nhà ra mặt chuột  

            Chuột có nhiều loại, chuột già như “đạo hữu Nguyễn Đóa”, “phật tử thuần thành” hay ông chủ tiệm thuốc bắc Thiên Tường ở phố chợ An Cựu.  

            Về ông Nguyễn Đóa, trong bài trước tôi có nói, nhưng chưa đủ. Theo ý kiến mấy người bạn, tôi viết thêm đôi chút về ông.   

            Năm 1951, ông Nhất Hạnh kêu gọi đồng bào Phật Tử và Gia Đình Phật Tử góp công, góp của xây trường Bồ Đề Huế. Trường được dựng lên rồi nhưng thiếu đủ thứ : Bàn ghế, bảng đen, dụng cụ văn phòng, dụng cụ học sinh… Vì vậy, một số phật tử có “đạo tâm” bỏ vốn kinh doanh trường nầy. Giáo hội chỉ được cái tên trường Bồ Đề, còn lợi nhuận thì ai bỏ vốn nấy hưởng. Tập đoàn kinh doanh nầy gồm “Cha con với nhau” như ông hiệu trưởng và ông Cơ (Trần văn ?) là cha vợ với rể. “Đạo hữu Nguyễn Đóa” với ông Tôn Thất Dương Tiềm cũng là cha vợ với rể. Họ vừa giữ chức vụ hành chánh, vừa dạy học, vừa chia lời hằng năm. Dưới cội Bồ Đề già có nhiều bóng mát, mấy ông sống đầy đủ nhởn nhơ nhờ núp bóng Phật tổ. Đấy là một tập đoàn “đoàn kết vững chắc” vì quyền lợi của họ chứ không vì “đạo pháp.”  

            Chú Nguyễn Thanh Bình, tu ở chùa Báo Quốc, sau khi đậu cử nhân văn khoa đại học Huế, được giáo hội cử thay thế ông Lê Mộng Đào làm hiệu trưởng. Cũng khó “bứng” ông nầy khỏi chức vụ đó. Năm học đầu tiên, khi khai giảng, trường chỉ có hai lớp đệ thất, mặc dù ông Lê Mộng Đào chưa đủ tiêu chuẩn bằng cấp, bộ Giáo Dục cũng chiếu cố, muốn giúp đỡ Phật giáo nên thuận cho ông ta làm hiệu trưởng. Khi trường mở cấp ba thì hiệu trưởng, theo nguyên tắc, phải có bằng cử nhân. Trong tập đoàn nói trên, đào cho ra cái bằng tú tài đã khó, nói chi tới cử nhân. Các giáo sư chính của trường như các ông Lê Mộng Đào, Võ Đình Cường, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Hy Xước chỉ có bằng trung học hoặc cao lắm chỉ mới Tú Tài 1 (bằng thời Pháp thuộc). Một số giáo sư trẻ có cử nhân nhưng không thuộc tập đoàn nầy, mấy ông không tin tưởng. Vì vậy, tập đoàn mới chịu để thầy Thiện Hạnh, (ngày trước là chú Bình) làm hiệu trưởng. Tập đoàn tưởng lầm chú Bình còn trẻ, dễ sai, dễ biểu, tạm thời làm hiệu trưởng trong khi chờ đợi họ kiếm ra người có bằng cử nhân là người của họ. Ai ngờ ông Thiện Hạnh là người cao tay ấn. Ông loại hết tập đoàn nầy ra, đem trường Bồ Đề nầy về cho giáo hội, tập đoàn không còn kinh doanh được nữa. Đó là mối hận cũ. Ngày nay, thầy Thiện Hạnh là người trông coi giáo hội ở địa phận Huế, (miền Vạn Hạnh), đang bị “kẻ thù cũ” núp bóng “chính quyền mới” trả thù. Xin nhớ cho, họ là “phật tử thuần thành”, chăm đi chùa, “đệ tử của quí thầy”. Bây giờ mới cháy nhà ra mặt chuột. Phật thánh gì đám nầy?!  

            “Đạo hữu” Nguyễn Đóa là người rất có uy thế trong đám, một là vì tuổi tác, hai là vì được “quý thầy” yêu mến, ba là vì trong đám, ông có sự hỗ trợ của rể  là Tôn Thất Dương Tiềm và vợ Tiềm là giáo viên dạy tiểu học cùng trường.   

            Ông Nguyễn Đóa, quê Quảng Nam, xuất thân ngạch giáo học, từng làm giáo viên tiểu học, làm tổng giám thị trường Khải Định nhỏ (Nguyễn Tri Phương, tên trước 1955), dạy Pháp Văn trường Bồ Đề nhưng học trò cũng như đồng nghiệp chẳng ai ưa ông. Anh bạn tôi, Hoàng Ngọc M. học trò của ông, đặt cho ông cái tên là “đảng sọ người”, còn Phan Cảnh A. nói với tôi, sau khi bị ông ta rầy : “Ông đánh tao là tao cho ông đo ván liền. Ông là bạn với ba tao nhưng ba tao ghét ổng lắm.” Tôi không đồng ý với A. nhưng lần hồi, chúng tôi thấy rõ con người ông : Tham lam, háo danh; từ đó nảy sinh tính đố kỵ và ganh ghét người khác.   

            Khi Việt Cộng chiếm Huế những ngày tết Mậu Thân, ông tham gia lập chính quyền như Việt Cộng tuyên bố. Khi đó thì ông chưa có chức phận gì hết, nhưng khi ông trốn lên rừng vì bị quân đội Cộng Hòa đánh đuổi, ông được phong làm phó thủ tướng. Việt Cộng rất hiểu ông, biết ông háo danh nên cho ông chức phó thủ tướng ngồi chơi xơi nước. Dù biết đó chỉ là một cái chức hữu danh vô thực, cỡ như ông mà làm tới phó thủ tướng thì đời còn gì bằng, nên ông “đội ơn cách mạng” lắm. Chó nhảy bàn độc, sâu bọ thành người là vậy đó.  

            Trong bài 4, nói về chết chóc, tôi có nói về việc Nguyễn Đắc Xuân, “người của quí thầy” giết Trần Mậu Tý dã man như thế nào. Tuy nhiên, trong dịp tết vừa qua, nhân việc kỷ niệm 40 năm tết Mậu Thân, trên báo chí (kể cả báo điện tử), có đăng một số bài cũ và mới, viết về vụ giết người dã man nầy. Bà Nhã Ca, trong “Giải khăn sô cho Huế”, cũng có nói tới vụ nầy. Tôi không đưa ra nhận xét bài viết của các tác giả đó. Mỗi người đứng về một góc cạnh nào đó, hoặc nghe kể lại (dĩ nhiên, mấy ai được chứng kiến tận mắt?) theo góc cạnh nào đó, không hoàn toàn được.  

            Vì thấy mọi người quan tâm nên tôi lại viết thêm về hai nhân vật nầy. Viết thêm để làm gì? Để độc giả thấy cái ác, cái xấu của người ác, người xấu và thấy cái tội nghiệp, cái đáng thương của người đáng thương. Vậy thôi.  

            Trước hết là nói về Nguyễn Đắc Xuân, người có nhiều “danh tiếng” từ khoảng năm 1965 cho tới bây giờ.   

            Xuân nói tiếng bẹ bẹ (theo cách nói của người Huế), có nghĩa là không rõ tiếng địa phương nào, tiếng Quảng cũng không ra tiếng Quảng, mà tiếng Huế cũng không ra Huế. Sao vậy? Dễ thôi! Người Huế, một số không ít, không ưa người Quảng (Quảng Nam hay cải, Quảng Ngãi hay co… tục ngữ). Tuy nhiên, với những người Quảng ngay thẳng như mấy ông bạn của tôi thì họ không “care” về việc “không ưa” ấy. Họ là người Quảng, họ nói tiếng Quảng. Vậy thôi. Số nầy đông lắm, như Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Cảnh, Nguyễn Văn Triết, v.v…Hồi ấy, giữa thập niên 50, Đà Nẵng, Hội An chưa có trường cấp 3 (Đệ Nhị cấp), đậu trung học rồi, muốn học tiếp, phải ra Huế, học Quốc Học. Tôi có nhiều bạn bè Quảng Nam là vì vậy.   

             Xuân thì khác. Y là người Hội An, sau khi đậu trung học, y không muốn học ở Trần Quí Cáp, Hội An, trường đã mở thêm các lớp đệ nhị cấp. Y ra Huế, học Quốc Học, “oai” hơn. Sợ người ta chê mình là dân Quảng, nên y tập nói tiếng Huế, mà nói không xong nên tiếng nói của y bẹ bẹ, nửa Quảng, nửa Huế, chẳng  ra thế nào cả là vì vậy.  

            Hồi đấu tranh chống Ngô triều, nổi tiếng thì có Phan Đình Bính, Tôn Thất Mạnh Lương, Thái Thị Kim Lan, (nhà ở Hàng Đường). Lương sau nầy theo Việt Cộng hẵn. Gần tơí 30 tháng tư, y xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị em ruột của y là Tôn Thất Phú Sĩ, đại úy hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đào ngũ theo Việt Cộng, có y dẫn dắt. Sĩ không nghe lời anh nên sau nầy Sĩ đi tù cải tạo. Đào ngũ theo thằng anh thì đâu đến nỗi gian khổ bao nhiêu năm trong tù. Nhưng Sĩ khí khái lắm, tù thì tù chớ nhứt định Sĩ không theo Việt Cộng. Câu chuyện nầy, tôi nghe Sĩ kể lại khi anh ta bị “biên chế” về ở chung một tổ với tôi hồi đầu năm 1976, L-3 T-3 trại Trảng Lớn. Sau 30 tháng Tư, Lương cũng chẳng được xơ múi, chức phận gì trong chế độ mới cả. Thái Thị Kim Lan thì được “Trung tướng thủ tướng” Nguyễn Khánh, “đấm mõm” (danh từ của giới giáo sư, sinh viên Huế hồi ấy gọi mỉa vụ nầy) mỗi người một học bỗng du học, như Cao Huy Thuần đi Pháp, Lê Đình Điểu đi Mỹ, Kim Lan đi Đức… Còn ai nữa, nhiều “lãnh tụ” được du học lắm, xin lên tiếng giùm! Ông “trung tướng thủ tướng thầy tuồng” nầy là một người ma mãnh, cứ anh nào lãnh tụ đấu tranh, “dúi” cho một học bỗng, xuất ngoại để “trung tướng thủ tướng” ở nhà yên thân, không còn ai quậy nữa, dựng tuồng cho dễ.    

            Tội nghiệp nhất là Phan Đình Bính, đang học y khoa, tham gia “tranh đấu chống Ngô Triều”, bị công an Diệm Nhu bắt đánh cho nhiều trận nhừ tử. Sau đảo chánh 1 tháng 11 - 63, ra tù, học y không nỗi, Bính chuyển qua học luật. Được một năm, bị thổ huyết mà chết. Người ta nói đó là hậu quả của những cuộc tra tấn ngày trước Bính đã chịu. Anh qua đời khi đang cùng dạy tại trường trung học đệ nhị cấp Bán Công Huế với tôi, nên đám giáo sư chúng tôi có họp nhau lại đi đám ma Bính.      

            Hồi 1963 ai biết Nguyễn Đắc Xuân, Lê Đình C. là ai!... Khi nhà Ngô sụp đổ rồi, cuộc tranh đấu tiếp tục, nhưng chẳng sợ chính quyền bắt bỏ tù như trước nên bấy giờ “đẻ” ra nhiều “lãnh tụ” lắm, trong đó có “lãnh tụ” Nguyễn Đắc Xuân. 

            Nhờ “tranh đấu”, trở thành “người của quí thầy” nên viện trưởng viện đại học Huế, giáo sư Bùi Tường Huân, giúp đỡ cho y “đậu” vào sư phạm. Học hành như y, ngoại ngữ không thông, toán lý hóa thì dốt, nên ngoài Việt Văn, y không còn chọn lựa nào khác. Vậy nên y vào đại học sư phạm, ban Việt Văn. Vào Việt Văn y dễ nói dốc trên trời dưới đất. Y cũng không dám vào ban sử địa. Ban sử địa cũng cần có những kiến thức tối thiểu trong khi “hành trang học vấn” của y thì nhẹ tênh.  

            Học hành thì ít, tranh đấu thì nhiều, y lại càng tham gia tranh đấu nhiều hơn, đứng ra chỉ huy các vụ biểu tình, đấu tranh, bãi khóa, bãi thực… Các giáo sư đại học sợ, không dám cho y ở lại lớp. Việc làm ấy, kéo theo một đám học trò biếng học, tham gia đấu tranh, bãi khóa để nghỉ học.   

            Một lần, đi ngang chỗ bọn học trò tuyệt thực, đấu tranh ở hàng hiên Morin, chỗ ngó ra bùng binh, tôi thấy Nguyễn Đắc Xuân hoa chân, múa tay đăng đàn diễn thuyết với mấy đứa nhỏ. Mấy đứa nhỏ học trò của tôi, (bọn đang học đệ tứ, đệ tam, biết gì mà tranh đấu), thấy tôi đi ngang, lủi mất. Tôi đã cảnh cáo rồi; “Anh nào, chị nào đi đấu tranh, nhớ phải thuộc bài. Tôi hỏi bài không thuộc là tôi cho ăn zéro.” Dù có trả lời được, tôi vẫn cho zéro. Bọn chúng biết tôi không ưa - không ưa chớ không chống, đâu ai dám chống! - chuyện đấu tranh lộn xộn, bỏ việc học hành.   

            Cũng một hôm, Nguyễn Văn Thọ gặp tôi. Thọ là bạn học Quốc Học với tôi. Năm 1957, anh đi khóa 8 sĩ quan hải quân, cùng khóa với Hồ Quang Minh, Trần Văn Hãn. Khoảng năm 1961 hay 62 gì đó, anh ruột của Thọ là Nguyễn Văn Phước, chủ nhà in, bị rớt máy bay, chết cả gia đình. Ông Phước để lại nhiều cơ sở làm ăn lớn, ở Huế, Quảng Trị, Pleiku. Thọ, đang là hải quân trung úy, phải xin giải ngũ về, cùng người anh kế là Nguyễn Văn Hiếu, trong coi sự nghiệp của ông anh quá cố.   

            Hồi Hội đồng Nhân dân Cứu quốc cũng như báo Lập Trường của Tôn Thất Hanh, Cao Huy Thuần xuất hiện ở Huế, tôi không nhớ “sức vóc” như Nguyễn Đắc Xuân, có viết cho báo nầy hay không, nhưng để cho mọi người biết mình, đánh bóng cái danh lãnh tụ của mình lên, Nguyễn Đắc Xuân xuất bản cuốn hồi ký “Nhân Chứng”, in tại nhà in Nguyễn Văn Phước của gia đình Thọ. Tôi trích lại đoạn về việc Nguyễn Văn Thọ đòi tiền in sách của Nguyễn Đắc Xuân như sau :  

            “Y viết cuốn “Nhân Chứng”, cuốn sách tự y vẽ vời nên “công trạng” của y trong việc “lãnh đạo nhân dân Huế Chống Mỹ cứu nước”, như đám “Sinh Viên Quyết Tử” viết trên vách tường Đại Học Huế (Morin) : “GI go home” (Viết sai văn phạm). Sách in ở nhà in Nguyễn Văn Phước (trước cửa Thượng Tứ). Một hôm, tôi gặp Nguyễn Văn Thọ, Thọ hỏi tôi có biết Nguyễn Đắc Xuân không. Tôi nói biết. Thọ chưởi một hơi: 

            - “Thằng du côn mà cũng lãnh đạo, lãnh đạo cái con c. gì.” Nó in cuốn “Nhân Chứng” ở tao. Tao nễ mấy thầy trên chùa, cho nó lấy sách trước. Xong nó quịt, không trả tiền. Tao đòi, nó dọa đem “Sinh Viên Học Sinh Quyết Tử” tới phá nhà in của tao. Tao đuổi đánh, nó chạy hụt hơi mới thoát. Núm được đầu, tao đập chết. Nó lấy chùa ra dọa tao. Bộ tao thì sao? Ai in lậu truyền đơn cho chùa hồi chống Diệm Nhu? Hồi đó tao liều cả cơ nghiệp nhà in vì chùa, còn nó làm trò trống gì ở đâu?” 

            Tôi nói: 

            - “Thí cô hồn đi, sách nó ai mua mà bảo có tiền trả tiền in cho mầy.” 

            Thọ cùng gia đình vượt biên năm 1977, hiện ở Mỹ không rõ tiểu bang nào. 

            Còn một chuyện nữa. 

            Nguyễn Đắc Xuân người Quảng Nam. Thúy Lan, vợ bác sĩ Đặng Hóa Long, cũng quê Quảng Nam. Hồi đang có Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, vợ chồng Đặng Hóa Long phải dọn vô Saigon. Nghe tin, vợ chồng tôi đến thăm.  Hồi vợ tôi sinh đứa con đầu lòng, Bác sĩ Đặng Hóa Long là người đỡ cho vợ tôi sinh lần đó. Người Việt Nam xưa có tục rất kính trọng “bà mụ”, chúng tôi còn giữ tục đó. Cũng từ đó, vợ tôi thường đến thăm bà Long, lâu dần trở nên quen biết. 

            Trước hôm hai vợ chồng bác sĩ Đặng Hóa Long lên máy bay đi Saigon, chúng tôi lại đến từ biệt. Biết chúng tôi không đi báo cáo với Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc nên ông Long mạt sát các “lãnh tụ lóc chóc” trong phong trào nầy không tiếc lời, chúng tôi chỉ ngồi nghe, lòng không vui. Trước khi ra về, vợ ông Long mới nói thiệt, sau khi ông Long đi vào nhà trong lo sắp xếp đồ đạc cho xong: 

            - “Thật ra, tại thằng Nguyễn Đắc Xuân. Nó cũng ở Quảng Nam theo “cua” tôi. Không lý tôi lấy thằng đó làm chồng? Nó cứ lẽo đẽo, tôi mắng vào mặt. Nó tưởng nó ở trong Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc là ngon lắm hay sao? Ai cũng sợ nó sao? Mấy hôm sau, “Quyết Tử” đến phá nhà tôi, nói vợ chồng tôi phản động, theo “quân Thiệu Kỳ”. Ông ấy là bác sĩ, cần chi theo ai! Vậy đó, chán lắm. Thấy ở Huế khó thở quá, mình với ông ấy đành phải đi.”  

            Năm 1966, khi tình hình miền trung nổi lên chống chính quyền trung ương ở Saigon, các phong trào tranh đấu được thành lập. Nào là “Công chức tranh đấu”, “Giáo chức tranh đấu”, “Quân nhân tranh đấu”, “Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức”, v.v… Ai không tham gia có thể bị các lãnh tụ tranh đấu chụp cho cái mũ phản động, CIA, theo “quân Thiệu Kỳ”. Nguyễn Đắc Xuân “gồ ghề” hơn. Y là “Trưởng đoàn thanh niên quyết tử”, có nghĩa là “Quyết tử chống chính quyền Saigon.”  Đoàn trưởng và đoàn viên mặc đồng phục, mang huy hiệu, lựu đạn và súng ngắn. Người Huế gọi mỉa là “các ông Phật mang súng lục”. Tuy nhiên, khi “quân Thiệu Kỳ” ra dẹp bàn thờ ở Đà Nẵng (15-5-1966), một tháng sau (15-5-66) dẹp bàn thờ ở Huế thì đoàn sinh viên quyết tử “lặn” mất tiêu.  

            Đang học năm thứ 2 ở đại học Huế, y lấy thế lực của chùa, buộc ông hiệu trưởng chia giờ cho y dạy ở trường bán công Huế. Tôi được lệnh hiệu trưởng sắp cho y mấy giờ sử địa ở hai lớp đệ ngũ. Y không chịu, y đòi dạy lớp đệ nhị. Tính theo bằng cấp và học vấn thì y không thể dạy lớp đệ nhị được, nhưng vì ông hiệu trưởng sợ chùa, nên chìu theo đòi hỏi của y.   

            Cứ nhìn tướng dáng tư cách của y thì rõ ràng y là tên lưu manh, tiểu tư sản hoạt đầu, háo danh, “ưa nổi tiếng nên thiên tả”, như cái “mốt” của một số “ngụy trí thức Huế” trước 1975 vậy. Đỏm dáng, bao giờ cũng thắt cà-vạt, tay xách Samsonite… Có lần y đem tờ báo Times của Mỹ, in hình Hồ Chí Minh vào lớp cho học sinh xem, và ca ngợi Hồ Chí Minh thế nầy thế nọ. Sợ chùa, nên chính quyền, công an chẳng ai dám đụng tới y, chẳng ai dám lên tiếng trước việc y tuyên truyền cho Việt Cộng như thế. Ngay cả việc y gởi thư tỏ tình cho một cô học sinh, cô nầy không chịu, đem thư lên báo cáo với hiệu trưởng. Hiệu trưởng cũng sợ, bỏ lơ câu chuyện.  

              Khi bị Cảnh Sát Dã Chiến của thiếu tá - (lúc ấy là thiếu tá) Phạm Huy Sảnh từ Saigon ra Huế đàn áp, dẹp bàn thờ, Nguyễn Đắc Xuân cũng bỏ chạy như bao nhiêu người khác, chớ có thấy “quyết tử gì đâu???”  

            Trước hết, y bỏ chùa Từ Đàm chạy lên các chùa xa ở phía tây nam Huế, nay chùa nầy, mai chùa khác. Các vị sư ở các chùa xa xôi nầy, có tham gia đấu tranh cũng chỉ chiếu lệ, vì họ có ý thức gì về chính trị đâu, nên không nơi nào “hoan nghênh” y cả, có nghĩa là không muốn cho y trốn trong chùa, nhưng không dám nói ra. Y biết, nên cuối cùng, không nương náu được các chùa, bấy giờ y mới theo Việt Cộng, mò lên rừng. Thật ra, y lẩn quất ở các chùa là vì không muốn trốn lên rừng vì y biết cuộc sống ở trên rừng vừa đói khổ vừa nguy hiểm. Y “đấu tranh” để có quyền, có oai, chớ đâu phải lên rừng ăn khoai, ăn sắn!  

            Trần Mậu Tý, hồi ấy cũng là sinh viên luật đại học Huế. Ban đầu cũng đấu tranh cho chùa (sau 1-11-1963). Sau đó, y vào đảng Đại Việt. Dựa vào thế lực đảng, y cũng yêu cầu hiệu trưởng trường Bán Công cho y dạy ít giờ. Tôi cũng đươc lệnh hiệu trưởng, sắp cho y dạy mấy giờ vạn vật ở các lớp đệ thất, đệ lục. Tý mềm mỏng, lễ phép, không vênh váo như Nguyễn Đắc Xuân.   

            Ban đầu hai người nầy là “đồng chí”, có nghĩa là lãnh tụ đám sinh viên, học sinh đấu tranh. Nhưng khi Tý là đảng viên Đại Việt, hai người tuy cùng dạy một trường, bên ngoài xã giao thông thường nhưng trong bụng không ưa nhau. Có lẽ Tý chẳng ghét bỏ thù hận gì Xuân, chẳng có lý do gì để Tý làm chuyện đó, nhưng Xuân thì ghét Tý vì Tý tham gia đảng Đại Việt. Đảng nầy, lúc ấy, vì cần quần chúng nên tìm chỗ dựa ở phía Công Giáo. Mâu thuẫn chính là vì Xuân ghét Công Giáo. Xuân nghi ngờ Tý báo cáo việc làm của Xuân cho đảng Đại Việt, cho phía Công giáo.   

            Cuối cùng, khi việc đấu tranh “tan hàng”, từ trong Hội Đồng Nhân Dân “Cứu quốc” hiện ra đủ mặt thò lò, nào Việt Cộng, nào Đại Việt, nào Việt Quốc, nào CIA, nào phòng Nhì Pháp, v.v… Nguyễn Đắc Xuân phải trốn lên rừng ăn khoai sắn, chui vô hang đá suốt ngày tránh bom đạn thì y hận Tý lắm. Y cho rằng chính Tý, “tranh đấu” mà phản lại chùa nên y phải trả thù, tra khảo, hành hạ Tý, trước khi giết Tý theo chính sách của Việt Cộng, chính là để trả mối hận sống gian khổ, nguy hiểm mà y phải gánh chịu.   

            Việc y hành hạ Tý như thế nào, trước khi giết Tý, tôi cũng đã viết trong bài 4 và cũng có nhiều tác giả viết nên xin khỏi nhắc lại.   

            Năm 1975, y “huy hoàng” trở về với quân Việt Cộng. Bấy giờ y thấy y cũng to lắm, gồ ghề lắm, nên ngang nhiên giành… gái với Nguyễn Khoa Điềm. Trong một buổi họp của báo Sông Hương, theo tôi được người Huế kể lại cho nghe, thì vì việc giành gái mà Nguyễn Khoa Điềm rút súng kê vào đầu Nguyễn Đắc Xuân bóp cò. May viên đạn bị lép, nên Nguyễn Đắc Xuân thoát chết.   

            Khi cuộc đời Nguyễn Khoa Điềm lên cao, giữ chức vụ lớn ở trung ương đảng, Xuân biết phận mình khó ngóc đầu lên được, lại bị vợ bỏ, bèn quay trở về “nghiên cứu” về Huế xưa.  Về công trình nghiên cứu của y, một ông, nguyên là giáo sư đại học Huế hồi 1961, 62, mới đây, trong điện thoại, nói với tôi: 

            “Thằng ấy mà nghiên cứu cái gì. Nói tầm bậy không. Nó dám nói với đài BBC rằng hoàng tử Bảo Long là học sinh trường…  Đồng Khánh.” 

            Tôi cũng lấy làm lạ. Hoàng tử Bảo Long là con trai, sao lại học trường Đồng Khánh. Hay ông hoàng nầy PD?”  

            Thực ra, hoàng hậu Nam Phương nhiều lần đến dự lễ phát giải thưởng cuối năm học ở trường Đồng Khánh, còn con bà thì học trường Tây, École primaire de Hué. Về sau, trường nầy được dùng làm cơ sở cho trường trung học Đệ nhị cấp Bán công Huế. Chuyện nghiên cứu của Nguyễn Đắc Xuân thành chuyện “râu ông nọ chắp cằm bà kia.”  

            Nhiều tay Việt Cộng nằm vùng nghĩ lầm về trận đánh Tết Mậu Thân như đám “đạo hữu” Nguyễn Đóa hay Thiên Tường chẳng hạn. Nghĩ lầm là vì tưởng thế là “xong rồi”, thế là cứ dương cái mặt ra, xuất đầu lộ diện, chẳng che dấu gì nữa.  

            Ở dãy phố chợ An Cựu, trên đường Duy Tân, gần miếu Đại Càng, là cửa hàng của ông thầy thuốc bắc Thiên Tường. Hồi còn nhỏ, tôi vốn ham vui, ngày nghỉ học hay chạy lang thang chơi với bạn bè. Ngang phố Thiên Tường, có đứa bạn nói: “Ông chủ nầy làm thầy thuốc mà chỉ biết thương tiền, thương chi người bệnh.” Người Huế hay nói lái để đùa, vậy mà không hiểu sao, ông thầy nầy lại lấy hiệu “Thiên Tường” (Trời biết!), để người ta gọi đùa là chỉ biết “Thương Tiền”. Ông mở tiệm thuốc bắc ở đây lâu lắm. Năm 1950, khi lần đầu tiên vô Huế, đi thăm ông anh tôi, Hồng Quang, làm báo Ý Dân bị Tây bỏ tù, tôi đã thấy hiệu Thiên Tường nầy rồi.  

            Tôi chưa bao giờ thấy ông thầy thuốc bắc Thiên Tường, nhưng anh con trai đầu của ông, tên Thọ, thì khi tôi mới vào dạy trường Bán Công Huế, gặp anh ta nhiều lần tại tiệm sửa xe Thùy Hoa, trên đường Duy Tân. Tôi đến đây chơi nhiều hơn là sửa xe vì anh Thùy, chủ tiệm là bạn học cũ, mấy năm trước. Thọ nói với tôi anh là học trò cũ trường Bán Công, cùng lớp với trung tá Phạm Văn Đ. (Sau theo Việt Cộng), trung tá Liên Th. (sau là trưởng ty Cảnh Sát Huế), thiếu tá Nguyễn C. (từng làm tuỳ viên quân sự ở Lào, em ruột đại tá Nguyễn B. (xây dựng nông thôn), thiếu tá Trương Đình H. (không rõ sau làm gì), Nguyễn th. Hương (sau làm giám học trường Nguyễn Hoàng rồi chánh sở giáo dục Phú Yên). Đó là lớp Đệ Nhị (học lại) niên khóa đầu tiên (1957-58) của trường trung học đệ nhi cấp Bán Công Huế. Cuối năm, có người đậu tú tài thì vào Quốc Học, một số khác, không tiếp tục học nữa thì vô Võ Khoa Thủ Đức, khóa 9, khóa 10.  

            Thọ không đi lính. Khi tới tuổi bị gọi “quân dịt quân gà” anh ta vào Xây Dựng Nông Thôn, tránh súng đạn, cưới bà vợ người Tàu, giàu có lắm, ở phố Gia Hội. Hồi đó, chúng tôi đi xe gắn máy, khỏi đi xe đạp là may, Thọ đi chiếc xe Jeep trắng. Nói chuyện với tôi, Thọ lễ phép và lịch sự, gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi cũng có cảm tình với anh ta, thường cả bọn rủ nhau qua Lạc Sơn uống càphê. Tôi chẳng biết gì về việc anh ta theo Việt Cộng cả.   

            Tới tết Mậu Thân, ba cha con anh xuất đầu lộ diện là Việt Cộng nằm vùng. Thật ra, từ lâu lắm, một số người dân Huế biết ông Thiên Tường “theo Việt Cộng”, tiệm thuốc bắc của ông là cơ sở kinh tài của Việt Cộng, nhưng không ai nói gì. Có phải người ta nể tình ông thầy thuốc bắc làm nghề cứu nhơn độ thế? Tới tết năm đó, người ta thấy rõ rằng ông thầy thuốc bắc không phải làm nghề cứu người mà lại giết người. Cả ba cha con ông, nhất là đứa con thứ, tên Lộc, mang súng, dẫn Việt Cộng đến từng nhà bắt người đem ra sân xử bắn. Vậy mà họ ỷ y hay sợ gian khổ, khi Việt Cộng rút đi thì cả ba cha con ở lại, bị bắt và bị tỉnh trưởng xử bắn ở đầu cầu Kho Rèn (đường Hàm Nghi).   

            Anh Võ Thế H., cựu đại úy, cũng là học trò cũ của tôi, học rất xuất sắc, hiện ở Philadelphia kể:  

            “Nhà em ở con đường nhỏ phía sau Thiên Tường nên từng thấy ông Hiến, - tên gọi ở ngoài – tên trong giấy tờ là Nguyễn Mậu Huyến - đứng bán thuốc bắc ở tiệm Thiên Tuờng. Ông Hiến nầy ăn ở tại tiệm mà cũng là nhà ông Thiên Tường luôn. Ông nầy là Việt Công thứ thiệt, làm lớn.”  

            Hiến hay Huyến là Hoàng Lanh, bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, chỉ huy mặt trận Huế hồi tết Mậu Thân, bộ chỉ huy đóng ở ngôi nhà lầu đúc trên đường Triệu Ẩu, cách bến xe An-Cựu không xa. Từ đây, chúng xuất nhập thành phố Huế, qua ngã cống Phát Lát.”  

            Khi cha con Thiên Tường bị bắt, người ta đồn cửa sau nhà ông tỉnh trưởng đã mở sẵn, nhưng không thấy ai tới, nên cha con nhà Thiên Tường bị dẫn đi bắn.  

            Bên cạnh Thiên Tường là tiệm bán thuốc lá Cẩm Lệ của bố cô Nhung (hay Dung, tôi không nhớ. Mấy “cậu” học trò cũ của tôi ở An Cựu, nói cô ta là học trò cũ của tôi, tôi cũng không nhớ). Ông nầy cũng có hoạt động cho Việt Cộng, nhưng không dữ dằn như đám Thiên Tường, sau tết Mậu Thân cũng bị quốc gia bắt, nhưng rồi được tha. Cô Dung nầy là vợ ông Bill, xếp xòng SB (Special Branch) ở các trại tỵ nạn ở vùng Đông Nam Á. Khi tôi tới đảo Bidong năm 1989,  làm nhân viên cho phòng nầy, có gặp ông Bill. Tôi mời ông ta về ăn cơm tại nhà để trả ơn ông đem quà cho con tôi ở trại tỵ nạn Galang bên Indo, cũng có nhiều chuyện “đau lòng” lắm, xin xem bài sau  

            Sau khi Huế được giải tỏa, ông tỉnh trưởng cho dựng một pháp trường cát, ngay tại bùng binh đầu cầu Trường Tiền, chỗ ngã tư đường Lê Lợi - Duy Tân gặp nhau, nghe nói là để xử tử quận Cán, hoạt động cho Việt Cộng.  

            Ông Nguyễn Văn Cán, trước kia làm cảnh sát, đậu trung học, sau đó tự học thêm, đậu tú tài. Năm đại học Huế khai giảng khóa đầu tiên 1957-58, ông ghi danh học luật. Ba năm, đậu cử nhân, cải ngạch quận trưởng cảnh sát nên người ta gọi là quận Cán, tương tự như bạn đồng nghiệp của ông là quân Lại vậy. Quận Cán, quận Lại là hai nhơn vật nổi tiếng trong ngành cảnh sát Huế hồi ấy, không biết có phải vì giỏi nghề nghiệp hay vì chăm chú học hành.   

            Thế rồi tới tết Mậu Thân, quận Cán theo Việt Cộng. Ông ta có hoạt động cho Việt Cộng thật. Nhà ông ta ở bên khu Gia Hội, khi Việt Cộng chiếm Gia Hội gần cả tháng trời, thì ngay những ngày đầu tiên, ông ta cầm “loa” đi kêu gọi những người từng hoạt động cho chính quyền quốc gia, quân đội Cộng Hòa, hãy ra trình diện cách mạng, để được khoan hồng, tham gia chính quyền mới, v.v… Cỡ như quận Cán, vừa là cảnh sát “ác ôn” (Việt Công gọi như vậy!”), vừa “loon” to, chức lớn, còn được cách mạng khoan hồng, cho tham gia chính quyền mới thì ai khác còn trốn tránh làm gì, bèn kéo nhau ùn ùn đi trình diện cách mạng. Cái tội của quận Cán là ở chỗ đó. Nhưng nếu là ai khác, có thể làm gì khác hơn khi Việt Cộng tới nhà bắt, tha chết, biểu đi làm những việc vác loa tuyên truyền đó.   

            Khi quân đội Cộng Hòa phản công, quận Cán bỏ trốn, không trình diện Việt Cộng nữa. Nhờ đó, quận Cán có thể khỏi bị chôn sống ở khu Gia Hội hay Bãi Dâu.  

            Nhưng rồi Quốc gia bỏ tù quận Cán vì tội vác loa đi tuyên truyền cho Việt Cộng. Pháp trường cát dựng rồi, chờ ngày đem quận Cán ra đầu cầu Trường tiền bắn cho ít phát đạn là xong, dằn mặt thiên hạ. Nhưng chờ hoài, lại chẳng thấy chi. Vài bao cát đã có cỏ mọc xanh mà cũng chưa thấy bắn quận Cán. Người ta lại đồn gia đình quận Cán “chạy thuốc” rồi, chạy vô tận Đà Nẵng lận. Một bà tướng nào đó, vốn hay đi chùa, ưa chuyện từ bi hỉ xã, nên gia đình quận Cán lại nhờ “quí thầy” xin giúp. Do đó, mới xảy ra chuyện pháp trường cát bị bỏ hoang. Hơn nửa năm sau, khi tôi đã nhập ngũ rồi về phép, đi ngang bùng binh, thấy pháp trường đã dẹp bỏ. Người ta lại trồng hoa. Cũng may, không bắn ai tại đây nên hoa ở bùng binh không bị vấy máu. Như vậy có phải đời đẹp hơn chăng?!  

            Lại mới đây, khi mấy bài “Kể chuyện tết Mậu Thân” của tôi đăng trên SaigonNhỏ, ấn bản Hoa Thịnh Đốn, thì ông Tôn Thất X., hiện ở Virginia, nhờ một người quen của tôi, xin số điện thoại, gọi cho tôi, muốn được nói chuyện với tôi để thêm một đôi điều, viết thêm cho độc giả. Ông TTX là sĩ quan ty ANQĐ Thừa Thiên Huế, thời kỳ trước và sau tết Mậu Thân.  

            Ông TTX đoan chắc với tôi ông Đoàn Công Lập, trưởng ty Cảnh Sát lúc đó, không phải là Việt Cộng như người ta nói. Tuy nhiên, sau tết Mậu Thân, ông Đoàn Công Lập bị giam trong lao Thừa Phủ. Tội gì?  

            Trong bài 1, tôi có nói qua ông nầy, là người đến ăn tiệc ở nhà tôi tối 30 tết.  

            Như nhiều người, khoảng đầu kháng chiến chống Pháp, 1947, 48, ông Lập còn thanh niên, chưa vợ, theo kháng chiến một thời gian, rồi bỏ về. Chuyện nầy ai ai cũng giống nhau, không có chi đặc biệt để bàn tới. Về thành, ông đi lính quốc gia, vào đảng Đại Việt. Năm 1954, theo hiệp định Genève 1954, quân đội miền Nam giảm thiểu quân số xuống 150 ngàn người. Những người có màu sắc đảng Đại Việt như Đoàn Công Lập, (cấp bậc lúc bấy giờ là hạ sĩ nhứt), được “ưu tiên” giải ngũ. Thất nghiệp, văn không cao, vũ không giỏi, ông sống lêu bêu một thời gian, nhờ vào bà vợ đảm đang, làm y tá ở bệnh viện Gia Hội. Thời kỳ khi ông luật sư Lê Trọng Quát được “cậu” Cẩn giao lại cho xử dụng cái nhà in của Nha Thông Tin Trung Việt, trước kia là bộ phận ấn loát báo Mùa Lúa Mới của ông Võ Thu Tịnh, và báo Rạng Đông của giáo sư Lê Hữu Mục, để ông luật sư Quát làm báo Công Dân thì Đoàn Công Lập làm phóng viên thể thao cho báo nầy, viết lại các cuộc tranh tài bóng tròn, bóng chuyền ở Huế, v.v… Theo tôi nghĩ, làm báo khó sống, lại báo ở Huế, lại chỉ viết ít ỏi mục thể thao, có lẽ tiền nhuận bút đủ hút thuốc lá, uống càphê, khỏi ngữa tay xin vợ.   

            Sau khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, nhiều người trong đảng Đại Việt đời được lên hương. Riêng Đoàn Công Lập hình như bị bỏ quên. Năm 1965, một hôm ông Hà Thúc Ký về Huế, Đoàn Công Lập đoán biết được bèn đón “Anh Cả” ở phi trường Phú Bài, chào hỏi rồi than vãn phận mình. Theo đảng, khổ vì đảng bao nhiêu năm nay mà có được gì đâu. “Anh Cả” thương tình. Đó là động lực quan trọng đem lại cho Đoàn Công Lập chức trưởng ty Cảnh Sát. Chức nầy tương đương ngạch quận trưởng như quận Cán, quận Lại nói ở trên. Lo cho tương lai, Đoàn Công Lập xin gia nhập hẵn ngành Cảnh Sát khi đang tại chức. Phòng nhân huấn tổng nha thuận trả cho ông ngạch quận trưởng, theo đúng tiêu chuẩn bằng cấp là ông phải nộp bằng cử nhân (khoa gì cũng được). Ông làm gì có bằng đó. Tổng Nha hạ thấp tiêu chuẩn bằng cấp xuống, thay vì cử nhân thì bằng tú tài cũng được. Ông cũng không có bằng đó. Sau Tổng Nha cho vào ngạch biên tập viên, với điều kiện có bằng trung học đệ nhứt cấp. Ông cũng chịu thua luôn.  

            Tết Mậu Thân, Việt Cộng mới chiếm Kho Y Dược (phía sau ty Cảnh Sát), chưa vào được bên trong ty, thì ông ta cùng đệ tử tên T., cho phá kho súng lục (Smith and Wesson), lấy đem bán (bán cho ai?). CIA biết ngay việc làm phi pháp nầy. Tướng Loan, tổng giám đốc Cảnh Sát, sau khi tình hình tạm yên, từ Saigon ra thăm Huế và điều tra vụ nầy.  Trung tá Dương Quang Tiếp, ra thay Đoàn Công Lập làm trưởng ty. (Bấy giờ trung úy Liên Thành là phó ty phụ trách ngành cảnh sát đặc biệt) Anh TTX gặp ông Đoàn Công Lập trong lao Thừa Phủ cò lẽ là vì vụ súng ống nầy. Ông T. đệ tử ông Lập thì không can gì cả, gốc là phó thẩm sát viên, sau được học biên tập viên khóa đặc biệt, ra trường mang loon đại úy, còn ông Lập ở tù mấy tháng thì xù.   

            Có phải vì việc nầy mà ông Đoàn Công Lập ra khỏi Đại Việt không thì tôi không biết. Sau đó, ông vào đảng Công Nông của ông Trần Quốc Bửu. Ở đảng mới, Đoàn Công Lập cũng có uy thế lắm. Khoảng năm 1971 hay 72 gì đó, ông Lập có hẹn gặp tôi ở trụ sở Liên Đoàn Lao Công Việt Nam của ông Bửu, khi tôi nhờ ông Lập xin cho người em con bà dì tôi đổi trường đang dạy ở Qui Nhơn về Huế. Ông Lập dẫn tôi gặp ông bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giáo dục. Nhờ ông Lập nói giùm, ông Viên gật đầu một cái là xong.  

            Khi Việt Cộng tấn công Huế rồi Đà Nẵng hồi tháng Ba -1975, ông Lập bỏ gia đình chạy tháo thân vào Saigon. Ông có ghé lại nhà tôi nhưng tôi đã “đóng tiền đi ở tù” rồi. Chưa được bao lâu, công an Thừa thiên Huế vào tận Saigon bắt ông Lập đem về ngoài ấy, giam ở lao Thừa Phủ. Ông trốn nhà lao, lại vào Saigon. Khi vụ nổ kho đạn Long Bình xảy ra (đầu năm 1977?), công an tăng cường hoạt động, lại nắm trúng Đoàn Công Lập lần nữa. Ông lại được tha, nhưng theo bà vợ ông (vợ lớn), thì khi vừa về đến nhà thì ông tắt thở, có lẽ Việt Cộng tha ông để khỏi tốn cái hòm.   

            Trước tết Mậu Thân khoảng vài năm, có ông thầy bói tướng số tử vi mở văn phòng gần vườn hoa Đông Ba coi hay lắm, nhất là về mồ mả ông bà thì y như chụp hình ngôi mộ cho khách hàng thấy vậy. Vậy là mấy ông lớn, bà lớn đua nhau đi xem, coi thử con đường danh phận vinh hoa như thế nào. Thế rồi tới tết Mậu Thân, ông thầy bói biến thành tên… Việt Cộng, chỉ huy một tiểu đoàn. Bấy giờ thiên hạ mới tá hỏa ra. Có người bạn thân hỏi tôi: “Ê, mày coi. Vậy là bao nhiêu ông tướng, ông tá khi đi xem bói đã đem hết bí mật quân sự báo cho Viẹt Cộng biết cả rồi?”   

            Cũng còn nhiều Việt Cộng nằm vùng khác nữa, nhưng ngụy trang kỹ lắm, mãi tới sau tháng Tư- 1975, bọn nầy mới hiện hình thành những Việt Cộng đực, Việt Cộng cái. Nhưng tới lúc đó thì nước đã mất, còn gì để nói nữa. Còn như ai muốn biết, xin hẹn bài sau, tôi sẽ kể thêm.   

(Bài 9)  

Chiều Đi Qua Bãi Dâu… 

--------------------------------------------------------------------------------             

Sông Hương, núi Ngự là hai biểu tượng của Huế.   

            Năm 1992, ở trại tỵ nạn Sungei Beshi ở Mã Lai, cựu thiếu tá W. Johnston, trưởng phái đoàn Mỹ - gọi là phái đoàn nhưng tôi chỉ thấy một mình ông ta - phỏng vấn tôi để xét cho đi định cư ở Mỹ, nói với tôi: 

            - “Việc phỏng vấn coi như xong. Bây giờ tôi muốn nói chuyện ngoài lề chơi. Tết Mậu Thân, ông ở đâu?” 

            Thấy ông ta muốn nói chuyện chơi, tôi hăng hái: 

            - “Tôi ở Huế, chưa nhập ngũ. Huế là cựu kinh đô…” 

            Ông ta ngắt lời tôi: 

            - “Tôi đã ở Huế. Tôi rời Huế trước tết một tháng. May cho tôi. Huế đẹp lắm. Ông biết tôi thích cái gì ở Huế nhứt không?” 

            - “Ông không thể thích cơm hến hay bún bò… còn về cảnh sắc thì Huế có sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền…” 

            Ông ta lại cắt ngang: 

            - “Ông có bao giờ đứng trên cầu Trường Tiền nhìn con gái đi học về ngang qua cầu không? Những tà áo trắng bay trên cầu, trên mặt sông êm đềm, trong cơn gió nhẹ. Sao mà nó đẹp thế! Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới, chưa nơi nào tôi thấy cảnh học trò đi học về đông và đẹp như thế.” 

            Tôi mới sực nhớ cái cảnh ấy, tôi đã thấy nhiều lần khi còn ở Huế. Vậy mà hồi đó, ít khi tôi để ý tới. 

            Johnston lại hỏi: 

            - “Ông có thấy sông Hương êm đềm không? Trên địa cầu có rất nhiều con sông êm đềm, nhưng không có con sông nào như thế. Nó là hồ, không phải là sông.” Ngưng một lát, Johnston nói tiếp: “Vậy mà bây giờ báo chí thế giới gọi Huế của ông là thanh phố của tử thần đấy! Ông nghe có buồn không! Tôi thì buồn lắm. Tôi không muốn nơi tôi từng sống qua, dù lâu hoặc mau, không bao giờ là địa ngục, là nơi của tử thần.” 

            Tôi ngồi lặng thinh, không nói được một lời. 

            Tới đó, Johnston đứng dậy, cầm hồ sơ, bắt tay tôi. Tôi lặng lẽ ra khỏi văn phòng, ngay sau lưng ông ta.

                                                            &  

            Tại sao người ta gọi sông Hương là hồ, không phải là sông?  

            Tại vì mặt nước êm quá, êm như hồ, nên người ta nghĩ là hồ. Nếu như nước có chảy thì chảy chậm lắm, người ta cũng gọi là “sông Hương lững lờ trôi” như trong một bản nhạc của Nguyễn Văn Thương.             

                        Có lẽ mấy câu thơ sau đây, nói về sông Hương khá hay: 

Con sông dùng dằng, con sông chảy, 

Sông chảy vào lòng, nên Huế rất sâu.  

            Tôi hiểu mấy câu thơ nầy theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của nó. Con sông dùng dằng hay con người dùng dằng, muốn bỏ Huế mà đi nhưng không dứt ra được? Dùng dằng là tiếng Nôm, rất Nôm, tiếng quê, “nhà quê”. Nhưng khi đưa vào đây thì người đọc thấy vừa lạ vừa hay. Sông chảy vào lòng sông hay chảy vào lòng người. Mà lòng người Huế thì rất sâu, rất đậm trong cả vui buồn, nhung nhớ, yêu thương và cả màu sắc vô thường của Phật. (1) Nói theo hiện thực thì có xác người nào chết hồi Mậu Thân mà chưa được vớt lên nên làm cho sông dùng dằng? Vã còn bao nhiêu linh hồn người chết oan hồi tết năm đó làm cho giòng nước khi chảy qua đó bỗng ngại ngùng không muốn trôi?!   

            Chỗ hai nhánh sông gọi là Tả Trạch, Hữu Trạch gặp nhau phía trước lăng Minh Mạng, chỗ thường được gọi là bến đò Tuần. Bến đò bên nầy sông, phía từ Huế lên, qua ngã lăng Tự Đức, Khải Định. Bên kia sông là lăng Minh Mạng, có con đường nhỏ cặp theo bờ sông lên tới lăng Gia Long. Chỗ nầy, không hiểu sao người Huế gọi là sông Đào. Có lẽ không phải có cây đào bên sông hay là đào bới? Khi Thiệu Trị xây lăng cho cha là Minh Mạng, đặt tên lăng là Hiếu Lăng, có đào bới gì ở đây mà người ta mới gọi sông Đào. Chỗ sông Đào nầy đi vào ca dao:  

Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào, 

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.  

            Vì là chỗ hai nhánh sông gặp nhau, lưu lượng hợp lại, nên nước sông chảy mạnh, theo hướng tây-nam lên đông-bắc. Chưa được bao xa thì sông Hương gặp đồi Hà Khê, chỗ có chùa Linh Mụ. Gặp đồi Hà Khê, con sông không chảy theo hướng cũ, quay ngoắt thành hướng tây đông. Chính đồi Hà Khê ấy chặn giòng nước lại, làm cho sông không chảy mạnh như trước. Nhưng qua khỏi Hà Khê thì sông lại rộng ra gần gấp đôi, đủ chứa hết lượng nước qua khỏi khúc quanh Hà Khê mà tràn vào. Sức chứa của khúc sông rộng làm cho nước chảy chậm lại. Giòng sông lại gặp cồn Giả Viên, cản thêm một lần nữa, nước chảy êm hơn. Khi chảy ngang trước thành Huế, hay nói rộng ra là thành phố Huế, sông chảy từ từ. Thế mà giòng nước lại còn phải đụng nhằm cồn Hến, dồn lại, thành ra ở khúc sông ở cầu Trường Tiền, nước chảy chậm lắm, tưởng như đứng yên một chỗ, là cái hồ rộng.   

            Mặc dù các sông ở miền Trung đều phát xuất từ Trường Sơn như sông Hương, nhưng về mặt địa lý, không có con sông nào có những vật cản, khoảng rộng như sông Hương để sông biến thành hồ. Cảnh sắc đặc biệt ấy do chính các chúa Nguyễn có nhãn quan tinh tế mà thấy được nên chọn nơi ấy làm kinh đô. Chuyện bà mụ trêm trời hiện xuống để ngày sau gọi là Thiên Mụ thì cũng chỉ là những huyền thoại được bày đặt ra cho thêm phần tín ngưỡng vào cái mệnh trời được trời ban cho dòng dõi nhà Nguyễn mà thôi, để ngai vàng thêm vững chắc, “vạn đại dung thân”.  

            Qua khỏi cồn Hến, sông Hương lại quặt về hướng tây bắc, tạo thành một mũi nhọn hình tam giác. Chỗ nầy là đất bồi rất tốt, gọi là bãi dâu. (Bãi Dâu).  

            Theo cách gọi của người miền trung (Không thấy người Nam gọi như thế), những chỗ đất do sông bồi cao gọi là hà. Đất hà tốt, thường người ta dùng để trồng bắp, cà, đậu, ớt, thuốc lá; không trồng lúa vì đến mùa lũ, đất hà có thể bị ngập lụt. Bắp, cà, đậu, ớt… chỉ trồng ở vùng đất khô, trong mùa hè mà thôi. Sau tháng tám mới có ngập lụt. Nếu đất hà hơi cao, có thể làm nhà ở được, lập thành xóm thì người ta gọi xóm ấy là xóm Hà. Trong bài tôi viết về bác sĩ Lê Trọng Lộc, - “Người từ Đại Lộ Kinh Hoàng ra đi” – thì cái xóm thời thơ ấu của ông là xóm Hà, chỗ gặp nhau của hai con sông Vĩnh Định và sông Thạch Hãn.   

            Tôi không hiểu vì sao vùng bãi dâu nguời ta không gọi là đất hà hay xóm hà. Có lẽ có một thời kỳ nào đó, khi triều Nguyễn đóng đô ở đây, kinh tế Huế tự túc. Gạo thì do dân chúng quanh vùng trồng trọt bán lại cho Huế. Vua và hoàng tộc thì có những sở ruộng riêng của họ, gọi là ruộng Ngự. Cây trái, rau quả, cau trầu, mũ nón, quần áo thì do các vùng chung quanh cung cấp, v.v… Kể từ vua Khải Định trở về trước, các ông vua đều nhai trầu bỏm bẽm. Không biết khi bị đày qua đảo Reunion bên châu Phi, vua Thành Thái, vua Duy Tân, có thèm trầu hay không. Bên đó làm gì có trầu cho vưa “ngự”.  

            Do tình hình kinh tế tự túc. Huế mới có nhũng câu ca dao như: “Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh”, hoặc Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.” hoặc “Con gái Nam phổ, ở lỗ trèo cau.” Tiếng Huế, ở lỗ có nghĩa là ở truồng. Các danh tự riêng nói trên là tên các làng quanh Huế, có đặc sản của làng.  

            Vì kinh tế tự túc, nên có phải thời nhà Nguyễn, vùng nầy có “trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải” như câu thơ trong “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán. Phùng Quán gốc là người Huế. Vì cần dệt vải cung cấp cho vua quan, nên người ta phải nuôi tằm, và bãi dâu trồng dâu để nuôi tằm như trong câu thơ của Phùng Quán.   

            Vùng đất êm đềm đó, trong chiến tranh, từ 1945, trở thành trận địa. Hai bên đánh nhau mấy trận, người chết kẻ bị tương, nhà cháy!  Cũng chưa đến nỗi gì đâu! Ba mươi năm chiến tranh, đất nước Việt Nam nơi nào mà chẳng thành trận địa. Đều đáng buồn hơn thế. Trong tết Mậu Thân, Bãi Dâu biến thành bãi tha ma, hàng trăm người bị giết, bị chôn sống ở đó, để một buổi chiều nào đó, qua thăm vùng này, Trịnh Công Sơn viết:  

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người  

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,  

Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá  

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người  

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,  

Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.(2) 

            Hát chưa hẵn là vì vui. Thiếu gì lúc, người ta hát mà khóc. Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thường nói cần có “một tấm lòng” thì làm sao ông có thể vui được khi thấy những xác người bị chôn sống, bị thác oan. Có ông già ôm xác con. Già thì còn đó mà trẻ đã ra người thiên cổ. Điều đó đâu có đúng theo luật tạo hóa. Trịnh Công Sơn hát là khóc than cho họ đấy, cho những người bị chôn sống mà ông coi họ như anh em.  

            Kể bằng lời thì dễ, viết lại cũng dễ, chưa nói là viết dỡ, không thể nào mô tả hết vẻ kinh hoàng của Bãi Dâu. Nhưng tận mắt mà thấy mới thật kinh hoàng. Buổi chiều đến thăm người bạn ở đường Chùa Bà, cách Bãi Dâu không xa, chúng tôi bèn rủ nhau xuống đó, để xem tận mắt điều thiên hạ đang bàn tán xôn xao. Bà con đã đào hầm hố lên, đem xác đi hết rồi, nhưng từ cái hầm đầu tiên, đất đai moi bới lên lổn chổn, thấy còn sót lại những vật riêng tư, mảnh áo, mảnh quần, những chiếc dép, sợi giây buộc tay người bị chôn sống, ai không khỏi quặn lòng vì thương cảm. Rồi từ hầm ấy tới những hầm khác, hầm khác nữa, lại hầm khác nữa, hầm khác nữa… trãi dài trước mắt bao nhiêu là hầm chôn sống người, cũng những cảnh tương tự như vậy, mới thấy kinh hoàng, thấy lạnh người.   

            Khó ai có thể tưởng tượng được sự tàn ác của còn người ta đến như vậy. “Sao ác dữ vậy?! Sao ác dữ rứa?! Ác chi mà ác rứa trời ơi! Trời ơi ngó xuống đây mà coi.” Đó là tiếng người dân Huế than thở, oán trách. Một tiếng than là một mũi tên đâm thấu lòng nhân ái của con người. Người còn nhân tính thấy lòng mình đau lắm khi nghe tiếng than của người dân vô tội. Nếu so với các ác của Khmer Đỏ với “Cánh Đồng Chết”,  của Hitler với các lò sát sinh, thời Staline, của Trung Hoa thời Mao Trạch Đông, thì Bãi Dâu gọi là bãi gì cho đúng nghĩa.   

Cái ác của Việt Cộng ở Huế không thua kém những cái tàn ác nhứt của nhân loại một chút nào!   

             (1) Về mặt tôn giáo, khi triều đình nhà Nguyễn đang còn, người ta thấy xã hội miền Bắc thiên về đạo Nho, nhất là Tống Nho, miền Nam thiên về đạo Phật, khuynh hướng dân giả, pha hợp tà ma bùa chú. Huế ở giữa, là điểm tiếp nối của hai miền, vừa “thâm” Nho trong triều chính, và “đậm” Phật trong đời sống xã hội. Xin trở lại đề tài nầy trong một dịp khác.   

             (2) Sau 1975, ở trong nước, người ta không thể tìm thấy bài hát nầy cũng như bài hát “Gia tài của mẹ”. Trịnh Công Sơn cũng không hề nhắc đến các bài hát ấy. Trịnh Công Sơn “khôn” nhỉ? 

(Bài 10)  

Trí thức, để làm chi?  

            Việc oan ức của người bị giết, dĩ nhiên là đã rõ ràng!  

            Trên thế giới, hiện giờ người ta đang cổ vũ cho việc bỏ án tử hình, không cần thiết có cái án ấy với lý luận như tôi đã có lần trình bày: Người ta, dù nhân loại cũng không có quyền lấy đi cái mà nhân loại không cho! Sự sống, dù có là một ân sủng hay không thì nó cũng của Tạo hóa dành cho người; chỉ có Tạo hóa mới có quyền lấy lại cái mà Người đã cho. Khoa học dù có tiến bộ như thế nào, cũng chưa tạo ra được sự sống, thì người ta nhân danh cái gì để cột ghế điện, cho uống thuốc độc, hay xử bắn, chém chết người ta? Nếu tôi bị kết án tử hình, tôi sẽ la lớn lên rằng không ai được giết tôi, vì người ra lệnh giết tôi hay người giết tôi không phải là người cho tôi sự sống. Cha mẹ tôi sinh tôi ra, nuôi tôi lớn, cũng chưa có quyền giết tôi! Vậy thì ai? người nào? Nhân danh cái gì mà giết tôi?   

            Về mặt nhân đạo dù có đứng trên quan điểm như trên hay không, người ta cũng không thể giết người, dù có đưa ra tòa án xét xử, tuyên án… và xử tử bằng những phương tiện gọi là… nhân đạo!!!  

            Huống chi cách Việt Cộng giết người ở Huế hồi tết Mậu Thân lại rất dã man, bằng những phương cách tàn ác nhất, vô lương tâm nhất, vô nhân đạo nhất, những phương cách của con người đã giết nhau từ khi nhân loại còn hoang sơ, từ khi loài người còn ăn lông ở lỗ.   

            Không ai có thể chấp nhận những cách giết người dã man đó. Dù có đưa ra tòa để tuyên án tử hình, người ta cũng không thể giết người bằng những phương cách dã man như vậy, từ việc bắn chết người hàng loạt, hoặc giết từng người như chôn sống, cho chết lần hồi thật đau đớn - như trường hợp Nguyễn Đắc Xuân giết Trần Mậu Tý - hay bỏ đói cho đến chết hay lấy cuốc đập bể đầu, xô xuống khe, như Việt Cộng đã làm ở khe Đá Mài!  

            Nhiều lúc người ta có thể tự hỏi, những người gọi là trí thức như “đạo hữu Nguyễn Đoá”, như “giáo sư” Tôn Thất Dương Tiềm, như “giáo sư” Hoàng Phủ Ngọc Tường, như “nhà báo” Hoàng Phủ Ngọc Phan, hay “giáo sư” xã hội học Lê Văn Hảo, họ nghĩ gì về việc giết người đó, họ gián tiếp hay trực tiếp giết người như Dương Tiềm, như Nguyễn Đắc Xuân hay thanh minh: “Tôi ở xa, đang trốn trong các hang đá ở núi cao, tôi không có mặt ở Huế lúc đó” như Tường, Hảo!  

            Đã gọi là “trí thức” - theo định nghĩa của Đào Duy Anh trong Hán Việt Tự Điển: “Trí thức như chữ Tri thức: Những điều người ta vì kinh nghiệm hoặc học tập mà biết, hay vì cảm xúc hoặc lý luận mà biết (connaissances) - Trí thức giai cấp: Những người trong xã hội thuộc về hàng có trí thức, đã từng chịu giáo dục khá cao (classe intellectuelle).  

            Nếu căn cứ trên giải thích của Đào Duy Anh thì điều trước nhứt, về mặt chính trị, qua thái độ, hành động của các trí thức Huế lúc đó, người ta nhận xét rằng đó là hành động “đầu hàng giai cấp” - danh từ Cộng Sản - có nghĩa là bọn trí thức đầu hàng giai cấp vô sản. Đầu hàng là vì “giác ngộ” chủ nghĩa Mác, hoặc theo đuôi, cầm đóm, bưng trà vì quyền lợi. Bọn nầy nghĩ rằng nếu chúng theo Cộng Sản, đầu hàng Cộng Sản thì sẽ được Cộng Sản ban phát danh vọng, quyền lợi, v.v… Cộng Sản biết tỏng chúng nó chỉ là đám hoạt đầu nên sau khi nắm chính quyền ở Huế thì chúng vắt chanh bỏ vỏ.  

            Nếu căn cứ vào trường hợp từng người thì bọn chúng là những kẻ bất mãn xã hội cũ, nơi chúng muốn có danh vọng nhưng không có được. Từ bất mãn, chúng sinh lòng ghét bỏ, thù hận. Tất cả đều bắt ngưồn từ mặc cảm.  

            Về trường hợp Hoàng phủ Ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, cả hai anh em nhà nầy thuộc dòng dõi Hoàng Hữu Bính, làm quan đời nhà Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn sụp đổ vì Pháp xâm lược, thì cậu ấm, cha của Tường, Phan trở thành kẻ sa cơ, không còn được xã hội ưu đãi như ông, cha. Vì “Cái học nhà nho đã hỏng rồi” - như Trần Tế Xương đã viết - nên bố của Tường, Phan tuy đã bỏ ngọn bút lông mèo nhưng không kịp chụp lấy cây bút chì, thành ra, không có được mảnh bằng tiểu học để xin làm trợ giáo, sa cơ thất thế. Ông ta học y tá rồi làm nghề y tá ở bệnh viện Quảng Trị, sau vào Huế. Ông là người bất mãn vì thời thế đổi thay, nhưng không nghèo như Trần Tế Xương, cũng còn một số đất ruộng do tổ tiên để lại, đủ nuôi cho hai anh em nhà nầy học tới đại học. Mang “truyền thống”  bất mãn, thù ghét xã hội của cha, bọn chúng dễ theo Cộng Sản. Tâm lý đó giải thích những hành động và lời nói của Tường, khi trả lời rằng việc giết người ở Huế hồi tết Mậu Thân là đáng đời “Những con rắn độc.” Tường gọi những người bị tàn sát hồi Mậu Thân ở Huế là những “con rắn độc”. Những con rắn độc ấy gồm cả những thầy giáo dạy y như ông Nguyễn Khán, ông Trần Điền, v.v… cô Tâm Túy, cô gái bán bánh kẹo ở cửa Bắc chợ Đông Ba, như tôi đã kể trong bài trước.  

            Có hai hạng trí thức khác nhau: Trí thức xanh và trí thức đỏ. Hai hạng trí thức nầy khác nhau cái gì? Khác nhau ở chỗ có lương tâm hay tán tận lương tâm mà thôi.

            Về “giáo sư” Lê Văn Hảo, theo một vài giáo sư đại học Huế nhận xét trước năm 1968 là “Ông ấy đầy mặc cảm, nên thiên Cộng”. Hồi ấy, ở Huế người ta chỉ mới nhận định Hảo thiên Cộng chứ chưa phải là Việt Cộng. Tại sao ông ta thiên Cộng? Theo những giáo sư ấy giải thích là vì Hảo bất mãn gia đình. Ông mồ côi mẹ sớm, ông bố tục huyền. Tình trạng gia đình không êm ấm khiến ông xa gia đình rất sớm, khi còn trẻ. Hận chuyện nhà đem ra mần việc nước, và tai họa thì người dân Huế vô tội Huế gánh chịu. Có khi nào Lê Văn Hảo dùng cái trí thức ông có, kinh nghiệm ông có như định nghĩa của Đào Duy Anh để nhìn lại mình, nhìn lại Huế mà hối hận hay vui mừng vì cuộc thảm sát năm ngàn người hồi tết Mậu Thân?  

            Tôn Thất Dương Tiềm, con người dị tướng - Có lần anh bạn học của tôi, Nguyễn Sĩ Ngộ - quê ở làng Dương Nổ, quê ông Nguyễn Chánh Thi - nhận xét về cái hình tướng quái dị của Dương Tiềm: “Chặt đầu chặt đuôi, sắp chưa được một dĩa” - Hình dạng ông ta như Án Anh nước Tề, “lẹo lưỡi” không thua gì quan tể tướng nước Tề, chỉ khác một điều: Án Anh là người khiêm cung, nhân hậu, còn Dương Tiềm thì đầy mặc cảm, tàn ác. Cũng cậu ấm con quan, lại hoàng phái, nhưng học hành dang dở, chưa tốt nghiệp cấp ba – chương trình thời Pháp thuộc – nhưng cứ tự cho mình tài giỏi hơn người mà xã hội cũ, toàn người trần mắt thịt, không thấy được “thiên tài mã tử” của Tiềm.  

            Nhiều người lầm tưởng Tôn Thất Dương Tiềm từng đi kháng chiến, theo Việt Minh - Điều đó sai. Thật ra, truớc khi mặt trận Huế nổ ra hồi cuối năm 1946, theo lệnh Việt Minh, đồng bào Huế phải tản cư ra Thanh Hóa để tránh súng đạn. Trong việc nầy, Tiềm khá nhanh chân. Đến khi dân Huế hồi cư thì Tiềm kẹt ở Thanh hóa không về được. Mãi đến đầu thập niên 1950, Tiềm mới trốn khỏi vùng Việt Minh trở lại Huế, Tiềm khoe khoang rằng đi kháng chiến về, và dạy trường Bồ Đề.   

            Các ông kia hiền hơn (Dương Thanh, Dương Kỳ). Suốt mấy chục năm làm quan đốc học (tên gọi thời Pháp), làm trưởng ty tiểu học Quảng Trị (như danh xưng sau nầy), một đời tận tâm với công vụ, ai cũng thương kính ông Tôn Thất Dương Thanh. Ông Dương Kỳ sau khi ở chiến khu về, cũng là ông thầy giáo hiền từ, chăm chỉ. Có thời làm hiệu trưởng trường trung học  Trần Cao Vân ở Tam Kỳ (Quảng Tín).   

            Hai anh em Dương Kỵ, Dương Tiềm thì chẳng giống ai. Ông Dương Kỵ dạy sử ở trường Khải Định, viết được một cuốn sử, nguyên là bài dạy của ông - Cuốn “Việt Sử Khảo Lược” - tương đối là một cuốn sách có giá trị. Tuy nhiên, về sau, tôi không thấy ai nhắc tới hay tham khảo tới cuốn sách nầy. Dương Kỵ vừa làm thầy giáo, vừa là chủ nhà in Khánh Quỳnh ở ngã tư Anh Danh. Tôi không phải  là học trò của ông Dương Kỵ nên không biết ông ta dạy dỗ như thế nào, nhưng ông khá là người hay xung khắc với đồng nghiệp, nhất là với ông Tôn Thất T., giáo sư dạy môn lý hóa của tôi năm tôi học lớp đệ nhất. Ông Tôn Thất T. là một thầy giáo, tuy là người Huế, nhưng khá “phổi bò”. Ông cũng là một phật tử thuần thành, nhưng sau nầy người ta lại đồn rằng ông được đức cha cho phép rửa tội vì được chọn làm giám đốc nha Đại diện Giáo dục Trung nguyên Trung phần.  

            Ông Dương Kỵ là người thiên Cộng, theo kháng chiến chẳng được bao lăm vì sợ gian khổ. Thái độ thiên Cộng của cha đã khiến cô con gái, Dạ Miên, bỏ nhà tập kết ra Bắc 1954.   

            Năm 1955, nhân vụ “Phong trào hòa bình”, ông Dương Kỵ bị đuổi khỏi trường Khải Định.  

            Tuy là người thiên Cộng nhưng khi làm chủ nhà in, ông là người khá chi li. Có lần tôi theo ông Cao Hữu Triêm, thầy dạy sử địa của tôi, tới nhận sách của ông Triêm in ở nhà in Khánh Quỳnh đem về phân phối cho học sinh. Lần đó, ông Triêm và ông Kỵ mắng nhau dữ dội. Ông Triêm mắng ông Kỵ là ích kỷ và tham lam. Hồi ấy (hồi ấy chớ không phải là bây giờ), có thể tôi không bênh ông thầy dạy tôi, nhưng theo tôi nghĩ, người theo Cộng Sản, phải là người yêu chuộng công bằng, hy sinh chớ. Tại sao, ông Triêm lại mắng ông Kỵ như thế? Ông Triêm không biết ông Kỵ là người có lý tưởng Cộng Sản hay sao?  

            Dương Tiềm nhiều mặc cảm nên ít lui tới thăm viếng  các ông Dương Thanh, Dương Kỳ, nhưng lại rất “gần gủi” với Dương Kỵ, có lẽ do “đồng thanh tương ứng.”  

            Khoảng 1964, Tôn Thất Dương Kỵ, nhà báo Cao Minh Chiếm và bác sĩ súc vật Phạm Văn Huyến bị tướng Nguyễn Chánh Thi đẩy qua cầu Bến Hải, qua bên kia vĩ tuyến 17 mà sống với Việt Cộng. Ra tới miền Bắc, cả ba ông thiên Cộng nầy đều hoảng hồn, chạy qua Pháp.   

            Ngày mồng hai tết Mậu Thân, “ông thầy giáo” Dương Tiềm trở thành tên đao thủ phủ, mang súng AK xử bắn hàng loạt những người bị Việt Cộng bắt.   

            Bây giờ Dương Tiềm có được gì đâu! Sau 1975, Dương Tiềm chẳng được Việt Cộng trả công, ban cho một cái ghế nào cả.  

            Về “đạo hữu Nguyễn Đóa”, tôi đã nói rồi, xin khỏi nói lại, chung qui cũng chỉ là một đám nhiều lòng thù hận mà thôi.  

            Ở Huế, “Việt Cộng nằm vùng” đông lắm, nhắm mắt quơ tay một cái, vớ cả đám như vớ muỗi. Chúng ở ngành nghề nào cũng có, nhất là trong ngành giáo dục và các “hội đồng” (Hội đồng thành phố, hội đồng tỉnh, hội đồng xã…)   

            Ở trường Quốc Học, không nhiều giáo sư theo Việt Cộng. Ngoài vài người ưa “chơi nổi” như Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, là những người ai ai cũng biết là Việt Cộng, cũng có một vài giáo sư nửa kín nửa hở hoặc kín mít, cháy nhà cũng chưa ra mặt chuột, mãi tới khi Việt Cộng lập chính quyền rồi thì mới xuất đầu lộ diện “Có tui đây!”  

            Người nửa kín nửa hở là ông Châu Trọng Ngô, giáo sư toán. Tôi học với ông Châu Trọng Ngô năm đệ nhứt và làm “đệ tử” của ông trong việc sắp thời khóa biểu khi ông Ngô phụ với ông Nguyễn Văn Hai, hiệu trưởng, trông coi trường trung học đệ nhị cấp Bán Công Huế. Ông Hai lúc đó còn làm giám đốc Nha Đại diện Giáo dục Trung nguyên Trung Phần. Theo tôi biết, ông Ngô và ông Hai là hai “tri kỷ” khi còn là sinh viên, học ở Saigon, cùng tham gia “Bãi khóa vụ Tần Văn Ơn” năm 1950. Ông Châu Trọng Ngô bị động viên khóa 12 Thủ Đức, cùng đi lính chung với đám học trò của ông.   

            Dù ông là người từng tham gia các phong trào chống Pháp ở Saigon khi còn đi hoc, nhưng tôi không nghĩ đó là lý do chính khiến ông thiên Cộng. Lý do sâu sắc hơn là ông có một người em theo Việt Công từ trước. Hình như ông em đó tên là Châu Trọng Ngân, - họ tên nầy tôi biết nhưng không chắc đúng, nhưng nhân vật đó chính là thứ trưởng Lê Mai của Việt Cộng. Ông nầy cũng bị Việt Cộng cho đi mò tôm vì chủ trương “đổi mới”. Sau 1975, người Huế bớt yêu kính ông Châu Trọng Ngô chính vì những gì ông cúc cung phục vụ cho Cộng Sản. Tuy nhiên, sau khi ông Châu Trọng Ngô cho con trai vượt biên nhưng cậu con bị Việt Cộng bắt, chúng “xài xể” ông tới nơi tới chốn, rồi cho ông… nghỉ hưu sớm.  

            Người kín nhất, sau 1975 thiên hạ mới té ngữa là Vĩnh Linh, tốt nghiệp cao đẵng sư phạm, dạy lý hóa. Ông ta hoạt động cho Việt Cộng mấy chục năm mà các cơ quan chính quyền như Cảnh Sát, An ninh tình báo, chẳng biết mô tê gì cả. Tuy nhiên, Vĩnh Linh không phải là tay cao cường như Phạm xuân Ẩn ở Saigon. Ông ta lù đù, chậm lụt và nhất là kín đáo. Nhà Vĩnh Linh ở gần nhà tôi, đường Phan Chu Trinh Huế.  

            Ở trường Bồ Đề, ngoài cha con nhà Nguyễn Đóa, Dương Tiềm, có còn ai nữa? Có thời Vũ Hân, nhà thơ, tác giả tập thơ Diễm Trang cũng bị người ta nghi có hoạt động cho Việt Cộng nhưng cuối cùng thì ai cũng biết ông ta vô tội. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên (Cao Cự Phúc) và Lê Quang Vịnh cũng dạy tại trường Bồ Đề niên khóa 1954-55, nhưng cả hai đều bị bắt trong vụ “Phong trào Hòa bình” năm 1955 nên cả hai đều rời trường Bồ Đề sau biến cố đó. Cuối cùng người ta thấy đã nghi oan cho Hoàng Nguyên, dù ông có tham gia “Phong trào Hòa bình” và viết cho tạp chí Ngày Mai. Lê Quang Vịnh thì rõ ràng xanh vỏ đỏ lòng.   

            Nói cho đúng gốc ngọn thì khoảng các năm 1949, 50, khi anh cả tôi, Hồng Quang, làm chủ báo Ý Dân ở Huế, tôi thấy anh cả tôi có quan hệ với nhiều học sinh Khải Định, những người thường rải truyền đơn, treo biểu ngữ chống Tây. Hồi đó, trường sở truờng Khải Định bị Tây chiếm nên phải “học nhờ” ở trường Đồng Khánh, bên tay phải, nếu đi từ cổng vào. Đang giờ chơi, bỗng truyền đơn từ hành lang trên lầu bay xuống như bươm bướm. Hiệu trưởng hay giám thị chạy lên kiểm soát, chẳng thấy ai cả. Chẳng thấy hay người ta làm như không thấy? Hồi ấy, ai chẳng chống Tây! Cảnh Sát hay công an liên bang tới thì đã chậm mất rồi.   

            Dĩ nhiên, cũng không ít học sinh bị bắt. Năm ấy, Lê Quang Vịnh đang học đệ lục, đệ ngũ gì đó, ở tù chung với Bùi Hữu T., học đệ tam. Thời gian ở tù là thời gian ông T. dạy toán cho Lê Quang Vịnh. Ở tù ra, LQV trở thành học trò giỏi toán. Ai bảo ở tù không có lợi?!  

            Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cũng là người thiên tả, (Bản nhạc Thu Khói Lửa của ông bị cấm trình diễn), là phật tử và dạy trường Bồ Đề từ trước hiệp định Genève 1954. Lúc đó, ông cũng dạy nhạc tại trường Khải Định nhỏ (Sau nầy là trường Nguyễn Tri Phương), cũng bị bắt trong “Phong trào Hòa bình” nhưng sau khi được thả, ông được ông Ngô Đình Nhu, vì trọng tài mà mời vào dạy trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Saigon. Bấy giờ thi đời ông “lên hương” rồi hay ông “ngộ” được “anh minh” của Ngô Tổng Thống nên ông không còn thiên Cộng, thiên tả gì nữa. Vì vậy, sau khi Việt Cộng chiếm Saigon, ông bị đuổi về Huế, và chết già ở “Tỳ Bà Trang.” (đường Cột Cờ)  

            Người tôi nói sau đây là ông Võ Đình Cường.  

            Sau khi người Huế hồi cư (1949, 50), thoát khỏi ách cai trị thực dân cũng như sự kỳ thị tôn giáo của Việt Minh, Phật giáo ở miền Trung thịnh lên, các “Gia đình Phật tử” hình thành, thay thế cho các đoàn Hướng Đạo chưa kịp tái sinh hoạt. Sinh hoạt của các Gia đình Phật tử nầy mạnh lắm, - nếu ai không tin tôi, cứ hỏi nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng thì rõ - Ông Võ Đình Cường là một trong những huynh trưởng đầu tiên của Gia đình Phật tử. Tôi nói “một trong những” vì bên cạnh VĐC, còn có nhạc sĩ Lê Cao Phan, ông Phan Cảnh Tuân, v.v…  

            Ngoài việc làm huynh trưởng, ông còn là “nhà văn” Phật giáo. Ở chiến khu mới hồi cư (1948), là người mê sách, tôi đã đọc “Ánh Đạo Vàng” của VĐC. Sau đó, tôi có đọc “Thử hòa điệu sống”. Đọc thì đọc, nhưng còn trẻ con, học lớp nhứt, lớp nhì, tôi có hiểu gì đâu!!!  

            Năm 1954, “Phong trào Hòa bình” Huế hình thành. Đi ngang Phú Văn Lâu, tôi thấy người ta xúm lại đông lắm, xem “thả bồ câu”. Ngoài việc “thả bồ câu”, người ta còn tổ chức biểu tình. Người đi coi thì nhiều, người tham gia công việc thì ít. Sau đó, họ cho ra đời tập san “Ngày Mai.”  

            “Phong trào Hòa bình” là một tổ chức của trí thức Huế, - do Việt Cộng giựt giây - chủ tịch là ông Tráng Liệt (điều nầy tôi nhớ không chắc đúng chức vụ). Ông nầy là con trai Kỳ Ngoại Hầu Cường Để - dòng dõi hoàng tử Cảnh - Thành viên gồm nhiều vị như bác sĩ Lê Khắc Quyến, và hầu hết các giáo sư trường Bồ Đề Huế và cũng là Phật tử như nhà văn Võ Đình Cường, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, ông Cao Xuân Lữ, Tôn Thất Dương Tiềm, Cao Cự Phúc, Lê Quang Vịnh.  

            Năm đầu, thủ tướng Ngô Đình Diệm chưa yên vị nên mặc sức đám nầy tung hoành ngang dọc, chẳng ai dám đụng đến. Vã lại, họ cũng chính là những người “ủng hộ Ngô thủ tướng chấp chánh”. Qua năm 1955, sau khi “Bảo Đại dân truất ngôi” (câu trong một bài hát hồi ấy), Ty Công An Thừa Thiên - Huế, vớt trọn đám nầy cho vào khám. Bác sĩ Lê Khắc Quyến được tha về truớc nhứt là vì ông là người “cậu” kính trọng, Võ Đình Cường cũng về sớm là nhờ bóng mát cây bồ đề chùa Từ Đàm, Dương Tiềm vì có anh bà con làm trưởng ty Công An. Tôi không rõ trường hợp ông Cao Xuân Lữ. Còn Lê Quang Vịnh, Cao Cự Phúc thì bỏ Huế mà đi sau khi ở tù không lâu.   

            Từ đó về sau, VĐC chỉ hoạt động Phật sự, không viết lách gì cả, mãi đến khi Ngô triều sụp đổ mới viết trở lại. Người thì cho rằng VĐC là Việt Cộng nằm vùng, nhưng cũng có người cho rằng ông nầy khá nhát gan. Suốt trong mấy năm Ngô triều, ông có làm gì đâu ngoài việc đi dạy, đi chùa. Thậm chí, khi phong trào tranh đấu Phật giáo chống chế độ Ngô Đình Diệm xảy ra, cũng ít ai thấy ông ta xuất hiện hô hào cái gì. Chỉ riêng anh em trong gia đình ông, những ai không ưa Việt Cộng thì chống ông ta kịch kiệt. Vậy là sao? Sau 1975, ông ta tham gia các tổ chức do Việt Cộng lập ra để ông được yên thân. Châm ngôn của người Phật tử là “Bi - Trí - Dũng” nhưng xem bộ ông ta bỏ rơi chữ Dũng đâu đó chớ không có mang theo trong người.   

            Trường Nguyễn Du cũng có vài giáo sư thiên Cộng nhưng tôi không rõ lắm nên xin miễn bàn.   

            Nơi “tạp nhạp” nhất, đầy dẫy những “Anh hùng Lương Sơn Bạc” - như vài giáo sư Quốc Học nhận xét, chính là nơi tôi dạy học 10 năm: “Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế.” Khi tôi vào dạy ở đây, tôi chưa thoát ra  khỏi chất phèn của một chú nhóc sinh đẻ ở Quảng Trị, và qúi vị “đồng nghiệp” của tôi hầu hết là các “Lão tiền bối”. Trẻ nhứt trong đám đó cũng hơn tôi mấy tuổi, và sau năm 1970 cũng vô ngồi trong “phủ đầu rồng.”  

            Việc ông Nguyễn Văn Hai, đương làm giám đốc Nha Học Chánh Trung Phần (tên gọi hồi ấy) cho mở ngôi trường nầy và kiêm luôn chức hiệu trưởng có hai mặt trái ngược nhau.  

            Khi ông Ngô Đình Diệm về làm tổng thống, giao cho “cậu” Cẩn làm “cố vấn chỉ đạo miền Trung”, nói trắng ra là cầm quyền ở miền Trung, hay như báo chí gọi là “lãnh chúa miền Trung”, thì cậu là người rất biết mình biết người. “Biết mình” là cậu biết cậu dốt, học hành chẳng ra làm sao, khác với mấy anh em “cậu” bằng cấp đầy mình, nhưng cậu thông minh và khôn khéo lắm. “Cậu” chỉ trực tiếp “chỉ đạo” bên phía hành chánh với mấy ông tỉnh trưởng, quận trưởng, còn phần chuyên môn, vì cậu “biết người” nên cậu “giao khoán” cho những người có bằng cấp chuyên môn về ngành ấy, chỉ cốt làm sao mà cầm, nắm cho được các ông bác sĩ, kỹ sư, giáo sư,… không để họ công khai chống đối chế độ, và thành lập, củng cố các Phong trào Cách mạng Quốc gia  để “ủng hộ Ngô Tổng Thống”. Thế là được.   

            Do đó, người ta thấy bác sĩ Lê Kh. Q. làm giám đốc nha Y Tế, khoa trưởng Y Khoa khi đại học Huế thành lập khoa nầy, và cũng là bác sĩ riêng của gia đình “cậu”. Kỹ sư Trần Nh. D. giám đốc nha Công Chánh, ông Nguyễn Văn Hai, giám đốc nha Giáo dục, v.v…  

            Trong quyền hạn đó, ông Nguyễn Văn Hai thành lập trường trung học đệ nhị cấp Bán Công Huế, với 2 mục đích trái ngược nhau như tôi vừa nói ở trên: 

            Một là, sau khi ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống, nhất là sau “Phong trào hòa bình”, vài người khăn gói rời trường Khải Định (tên cũ) như các ông Tôn Thất Dương Kỵ, ông Cao xuân Lữ. Ông Trần Điền, nguyên tỉnh trưởng Quảng Trị, bị tù sau vụ Ba Lòng, ông Trần Hữu Luyến rời Nha Bình Trị vì là đảng viên Đại Việt. Các ông nầy được mời dạy ở trường Bán Công. Ông Nguyễn Văn Hai muốn giúp đỡ họ có công ăn việc làm, sau khi họ gặp “tai nạn”, và cũng “nắm” lấy họ. Không tập trung lại, ai biết ai làm gì ở đâu?!  

            Hai là, cho họ công việc, giúp họ vượt qua những khó khăn kinh tế, lo cho gia đình. Đó là về mặt nhân đạo.       

            Trong ý nhĩa đó, tôi thấy có những nhân vật đặc biệt như sau: 

            - Ông Trần Điền dạy Pháp Văn, được vài năm, khi “cậu” mua lại trường Bình Minh, dời về trụ sở mới là trường Hồ Đắc Hàm cũ, ông Trần Điền được “cậu”  mời làm hiệu trưởng trường trung học Bình Minh. Dĩ nhiên,  phải có sự “giới thiệu” và “bảo đảm” của ông “thầu khoán” ngành giáo dục. 

            - Ông Cao Xuân Lữ, rời trường Khải Định, sống lang thang những mấy năm bằng nhiều nghề khác nhau, kể cả nghề nha sĩ bất đắc dĩ, về dạy Anh Văn và Pháp Văn. Cũng được vài năm, ông vào Saigon làm giám đốc hành chánh của Rousell Việt Nam. Ngoài việc ông Cao Xuân Lữ tham gia “Phong trào Hòa bình”, viết cho tập san Ngày Mai, người ta cũng đồn - nghe đồn mà thôi - rằng ông là một phần tử Trotskyism, một phật tử không thuần thành - ít khi đi chùa - và cũng là một nhiếp ảnh gia tài tử. Trong một lần triển lãm ảnh chụp tại nha Thông tin Trung Phần, tôi có xem một bức hình của ông, hình đẹp và ai xem cũng phải cười: Hình chụp mấy cậu con trai của ông, chưa tới 10 tuổi, xúm nhau chơi bầu cua - Bên dưới ông CXL ghi chú là: “Máu mê” (cờ bạc. Bên ngoại hay bên vợ ông, có ai thuộc hoàng phái?). 

            - Ông Trần Đình Toán, bạn học cũ của ông Nguyễn Văn Hai, lúc vào dạy ở đây, ông mới đậu tú tài, sau nầy đậu cử nhân văn chương Pháp. Ông nầy là Việt Cộng chính cống, chớ đừng nói là thiên cái gì. Ông cũng là phật tử nhưng ít đi chùa. Bị Cảnh Sát thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bắt giam, ông cắn lưỡi tự tử nhưng không chết nên sau nầy khi được tha, đi dạy lại, ông đọc tiếng Pháp không còn… đúng giọng. Học sinh cũng phải rán mà nghe. Sau 1975, Việt Cộng cho ông làm chủ tịch phường gì đó, ở đường Đào Duy Từ, chỗ nhà ông. Lúc đó Việt Cộng chưa có đủ cán bộ để cai trị miền Nam. Được vài năm, Việt Cộng cho ông nghỉ, thay bằng một cán bộ miền Bắc “chi viện”. 

            - Ông Trần Ngọc Anh, cũng là bạn học của ông Nguyễn Văn Hai, trước 1945. Thời Việt Minh, ông Trần Ngọc Anh ở trong vùng “kháng chiến” có soạn một tập thơ nhan đề là Lịch Sử Việt Nam. Tôi và anh HVX, dạy cùng trường, có đọc tập thơ nầy và đều khen ông TNA là người có tài. Khi vào dạy ở đây, ông TNA cũng mới đậu tú tài, sau ông lấy được bằng cử nhân Pháp văn, rồi bỏ Huế vào dạy trường Đạt Đức Saigon.  Ở Saigon, chính quyền cũng bắt ông bỏ tù vì tội Việt Cộng. Sau 1975, bị đuổi khỏi trường Đạt Đức, khi trường nầy bị Việt Cộng “quốc hữu hóa.”  

            Ông Mai Thanh Trực, thiên Cộng cho đúng cái “mốt” của  một số trí thức Huế, lại quá khích và đầy lòng thù hận, dựa thế ông hiệu trưởng để gây khó khăn cho các giáo sư khác không thiên Cộng. Sau 1975, mấy lần vượt biên nhưng bị nắm cổ. Thiên Cộng mà lại sợ Việt Cộng, vượt biên! Thành phần nầy nên cho định cư ở Cuba!   

            - Bác Đinh Hòa, tôi thường gọi đùa là Tam Tạng vì ông rất hiền, phụ trách phòng thí nghiệm và thính thị. Trước thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, bác làm công chức nhưng bị nghỉ việc, sau vào làm việc ở đây khi trường mới khai giảng. Tôi không rõ lý do tại sao bác bị chính quyền Ngô Đình Diệm “chiếu cố”, cho nghỉ việc, có người nói vì bác Hòa từng tham gia Việt Quốc. Điều nầy tôi không chắc đúng. Kính trọng bác, tôi chẳng bao giờ hỏi bác việc ấy, sợ mất lòng.  

            Cụ Trương Quang Đình dòng dõi ông Trương Đăng Quế, ngoại tổ vua Tự Đức, quê ở Quảng Ngãi, cùng quê với Phạm Văn Đồng. Cụ chỉ đậu bằng DEPSI thời Pháp thuộc, (giống như bằng của Phạm Văn Đồng vậy), rất giỏi Pháp văn, xin hồi ngạch giáo học nhưng không được vì đã tới tuổi hưu. Có bằng cấp như Phạm Van Đồng nhưng ông Đồng thì làm thủ tướng còn cụ Đình làm giáo sư quèn như tôi, nên có phải vì thế mà cụ thiên Cộng để hy vọng có ngày làm thủ tướng? Nói cho đúng, cụ thiên Cộng là vì thương con tập kết ở ngoài bắc, lại cũng vì tính tình ngây ngô, dễ tin, dễ bị tuyên truyền. Người con trai đầu tập kết năm 1954. Cụ Đình không hoạt động gì, không bị chính quyền Quốc gia bỏ tù. Sau 1975, nhờ thế lực của người con trai tập kết, cụ làm không tới thủ tướng Việt Cộng, chỉ làm phường trưởng ở Bến Ngự được mấy tháng, trước khi Việt Cộng chưa kịp “chi viện” cán bộ cho miền Nam.  

            Cụ Đinh Thành Chương, quê Bình Định. Cụ ĐTC tốt nghiệp cao đẵng sư phạm trước 1945. Sau 1954, cụ xin hồi ngạch, làm việc ở nha Giáo dục, biệt phái dạy ở BC. Cụ là người giản dị đến độ… lập dị. Chỉ mang giày sandalle, không bao giờ “bỏ tù hai chân” - như lời cụ nói - bằng đội giày soulier. Tát tai tức thì bất cứ anh học trò lớn nhỏ nào dám huýt sáo miệng trước mặt cụ. Cụ tốt nghiệp ban Toán nhưng chuyên dạy Pháp Văn. Có lần cụ nói: “Tôi học cùng lớp với Hoàng Xuân Hãn. Người ta hơn mình là nhờ gia đình giàu có. Nếu gia đình tôi có tiền, tôi cũng đã học Polytechnic ở Pháp rồi.” Chúng tôi tin cụ nói thật, mặc dù không rõ cụ học hành giỏi như thế nào nhưng cụ là người đạo đức. Thời Việt Minh mới cướp chính quyền, lợi dụng uy tín cụ, họ mời cụ làm chủ tịch tỉnh Bình Định, chỉ một thời gian ngắn thôi, có lẽ vì cụ không thuộc giai cấp bần cố nông. Sau khi trường Sư Phạm Qui Nhơn thành lập, cụ là hiệu trưởng đầu tiên. Cụ rất “ngưỡng mộ đạo đức của Ngô Tổng Thống” - như lời cụ nói - Khi chính quyền nhà Ngô bị lật đổ, học sinh trường Sư Phạm Qui Nhơn (nhóm gốc Huế, có Trịnh Công Sơn tham gia), đem cụ ra giữa sân trường đấu tố cái tội “làm tay sai cho Ngô triều”. Sau đó, buồn tình, cụ xin nghỉ việc. Dù từng hợp tác với Việt Minh nhưng cụ không là người thiên Cộng. Điều đó, thuộc người em của cụ, ông Đinh Thành Bài, thời ấy cũng làm giáo sư trường Sư phạm Qui Nhơn.

            Về phía các hội đồng nhân dân, có Nguyễn Quang Nguyện, hội viên hội đồng tỉnh là Việt Cộng nằm vùng. Y chẳng thèm che dấu việc của y, nên nhiều người biết. Y cũng thường đi chùa. Ở hội đồng thị xã thì có Nguyễn Khắc Thiệu, giáo sư trường Bồ Đề là phần tử thiên tả. Tuy làm giáo sư nhưng y chỉ mới đậy tú tài 1. Y là một phật tử thuần thành. Cả hai ông nầy, sau 1975, không thấy Việt Cộng ban cho chức phận nào cả.  

            Tạ lỗi:  

            Đầu bài, tôi viết rằng “Trí thức không bằng cục cứt”. Quả tình không phải tôi vơ đũa cả nắm. Không ít các vị trí thức tôi viết trong bài nầy, tôi rất kính trọng và khâm phục về kiến thức, tài ba và nhân cách, đạo đức của họ. Tuy nhiên, tôi viết đầu bài như trên, trích từ câu nói của Mao mà Hồ chí Minh lặp lại với đầy ý xấu, là tôi muốn nhắc cho các vị trí thức thiên Cộng hay Việt Cộng nằm vùng nhớ rằng, dù họ có đầu hàng giai cấp, chạy theo Việt Cộng bợ dỡ, nịnh hót thì Cộng Sản coi họ, những trí thức nửa mùa nói trên, “không bằng cục cứt” vậy. 

            Bài nầy tôi viết ra không nhằm đã kích Việt Cộng, việc ấy thiên hạ đã làm, làm nhiều quá, thêm một lời chưởi của tôi, chẳng nhằm nhò gì chúng nó cả. Điều đáng nói chính là bọn trí thức theo đóm ăn tàn./                 

Chuông (chùa) gọi hồn ai? 

(For Whom the bells Ring?) 

Ernest Hemingway  

            Điều mọi người ai cũng thấy là những tên Việt Cộng nằm vùng, những người thiên tả, những người có khuynh hướng chống hay bất hợp tác với chính quyền Quốc Gia, - thời quốc trưởng Bảo Đại, hay thời tổng thống Ngô Đình Diệm, thời tổng thống Thiệu, phần đông đều núp bóng cây bồ đề chùa Từ Đàm, nói theo nghĩa bóng.  

            Cha con “đạo hữu” Nguyễn Đóa, - con gái (Nguyễn Thị Ngọc Trinh) cũng như con rể (Tôn Thất Dương Tiềm) gần hai mươi năm vừa sống nhờ vào trường Bồ Đề Huế, vừa hoạt động cho Việt Cộng, cuối cùng, tới tết Mậu Thân thì ôm súng đi bắn giết đồng bào, không lý việc ấy không khiến cho người dân Huế, khi oán trách cha con Nguyễn Đóa, lại không nhớ tới cây Bồ Đề mà cha con nhà ông ta núp bóng mấy chục năm?   

            Lại còn những tên Việt Cộng nằm vùng khác nữa, nổi bật nhứt là Nguyễn Đắc Xuân, từng là “đệ tử của quí thầy”, - tiếng người ta từng gọi mà Xuân cũng rất “vinh hạnh” với nó - từng vô ra chùa mỗi ngày, là trưởng đoàn thanh niên Phật tử… cái gì đó, tới tết Mậu Thân thì tay y nhúng máu dân vô tội; như Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng từng lui tới chùa, từng truyền bá chủ nghĩa Cộng Sản cho học sinh của y ở trường Quốc Học (1), từng tổ chức thanh thiếu niên, trong số đó có hầu hết là học trò y, làm chỉ điểm cho Việt Cộng, thì người ta nghĩ sao về chiếc lá Bồ Đề y che trên đầu. Chưa hết đâu, sau 1975, vì Việt Cộng chẳng cho y xơ múi gì, nghĩ rằng chế độ sẽ thay đổi, cởi mởi hay gì đó,  y lại mon men xin gặp ông Trí Quang nữa. Cũng may, ông Trí Quang cho y gặp một lần rồi thôi, sau nầy y lại xin gặp nữa thì, biết rõ con người y như thế nào, hòa thượng Trí Quang cấm cửa.  

            Không ít người, muốn đắc cử chức nầy, ghế kia ở tại Huế và miền Trung, đều phải núp bóng chùa cả: Một người gọi tôi bằng cậu, quan hệ với tôi khá gần gủi, năm 1965, mới 21 tuổi, anh ta được trao một chức vụ, cái gọi là “Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cứu quốc thành phố Đà Nẵng”. Sau nầy, gặp lại ở Mỹ, tôi nhắc lại chuyện cũ, anh ta tỏ ý hối hận chuyện ấy: Không ít giáo sư trường Bồ Đề Đà Nẵng lúc ấy, cũng như ông đại đức hiệu trưởng, lợi dụng anh ta còn trẻ, chưa có kinh nghiệm đời, đẩy anh ấy lên làm “chủ tịch”. Đó chỉ là việc chọn người làm bình phong, đằng sau đó là Việt Cộng, là thiên Cộng, thiên tả. Muốn đắc cử dân biểu ở Huế, - như Kiều Mộng Thu, phải nhờ TT Trí Quang -, muốn đắc cử dân biểu ở Quảng Ngãi, - như tướng Trần Văn Đôn, cũng phải nhờ một lá thư của TT Trí Quang -, muốn có cái ghế ở hội đồng tỉnh Thừa Thiên như tên Việt Cộng nằm vùng Nguyễn Quang Nguyện, cũng nhờ chùa, muốn có một cái ghế ở hội đồng thị xã Huế, như Nguyễn Khắc Thiệu, thiên tả, cũng nhờ chùa. Đó là những người tôi biết, còn biết bao nhiêu người khác nữa, vì xa Huế từ 1968, nên tôi không rõ lắm.  

            Việc Sáu Kính - tên đồ tể thành phố Huế cũng như vài cấp chỉ huy Việt Cộng, trong biến cố tết Mậu Thân Huế, dùng trường Bồ Đề, dùng chùa làm nơi đặt bản doanh, không lý không làm cho người ta không suy nghĩ?!  

            Chắc chắn là Việt Cộng có súng trong tay, chúng nó muốn đặt ban chỉ huy của nó ở đâu chẳng được, liệu  mấy ông thầy chùa có dám chống lại hay không? Nhưng khi chúng đã chọn chùa làm nơi đặt bộ chỉ huy thì chúng nó có những suy nghĩ của chúng, khó bàn hết được, nhưng ít ra thì chùa cũng là nơi “an toàn” nhất cho chúng. Người ta không khỏi thấy khó chịu, khó nghĩ, khi chùa trở thành nơi chỉ huy những cuộc tàn sát dân lành, thậm chí chúng còn giết dân ngay trong sân chùa, chôn trong vườn chùa, ai nghĩ tới mà không khỏi kinh sợ, buồn lòng!  

            Nói ra thì nhiều lắm, như tôi nói ở phần đầu, bóng cây Bồ Đề ở Huế tỏa rộng khắp nên Việt Cộng nằm vùng, thiên tả, bất phục chế độ, chống chính quyền, đủ mặt thò lò từ trong bóng mát cây Bồ Đề chui ra! Ví dụ rõ nhất là biến cố “Bàn thờ xuống đường” năm 1966. Khi “Quân Thiệu Kỳ” - như tên quần chúng phật tử gọi hồi đó – ra Huế dẹp bàn thờ, dẹp luôn cái gọi là “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”  - một hình thức “Ba-Lê Công Xã” sau cách mạng tư sản Pháp 1789 – thì từ trong cái hội đồng đó, - một “sản phẩm” của TT Trí Quang - chui ra đủ mặt thò lò. Đông nhất là những kẻ cơ hội chủ nghĩa, tưởng có thể nhờ chùa mà kiếm chút lợi danh (2), rồi tới đám thiên tả, thiên Cộng, Việt Cộng, đảng phái và thậm chí cả tín hữu Thiên Chúa Giáo. Ai ai chui vô đó cũng vì danh lợi riêng mình, đảng mình, đạo mình, chớ chẳng có ai “vì đạo pháp” như cuộc đấu tranh năm 1963 nữa.  

            Và nếu như có ai muốn thân chính quyền, chống Cộng Sản thì cũng lấp ló bóng dáng ở các nhà thờ.  

            Hai nơi: Nhà thờ và chùa, trong lịch sử, vốn dĩ đối nghịch nhau, thì sự đối nghịch đó càng sâu sắc hơn nữa, “sống chết” hơn nửa, qua những vị, những ông, những tên chui từ trong bóng im của chùa hay nhà thờ mà ra cả. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi thấy những người bị giết thảm ở khe Đá Mài, hầu hết là dân làng Phước Quả (tên thường gọi là Phú Cam). Những người nầy - theo trong sách “The battle for Hué” của Nolan Keith, - bị Việt Cộng dẫn đi lòng vòng, từ trên núi về quận Vinh Lộc, lại từ Vinh Lộc dẫn lên núi, và cuối cùng, không sót một ai, bị đập đầu và đạp xuống khe Đá Mài.  

            Tôi từng đi qua, sống qua nhiều nơi, nhiều thành phố, từ Quảng Trị dài vô Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, vô tới Cần Thơ, Rạch Giá, và tới chỗ tận cùng nước Việt Nam: Hà Tiên. Không nơi nào có không khí tôn giáo, nói rõ ra là Phật Giáo – Công Giáo xung khắc, mâu thuẫn như ở miền Trung, bậc nhứt là Huế. Quảng Trị cũng vậy, nhưng đó là thành phố nhỏ, không gây ảnh hưởng lớn. Đà Nẵng đỡ hơn, loảng đi vì Đà Nẵng là thủ phủ hành chánh, quân sự của miền Trung. Đà Lạt, Nha Trang cũng loảng đi vì tính cách du lịch của những thành phố đó. Saigon thì khỏi nói, ai biểu tình cứ biểu tình, ai ngồi nhậu thì cứ la to “dô”, “dô”…. Những thành phố ở miền Tây sự mâu thuẫn không hiện rõ. 

            Sự mâu thuẫn, suy cho kỹ, nó có tính chất lịch sử của nó. Nó bắt nguồn từ trong cuộc xâm lăng của thực dân Pháp hàng trăm năm trước. Cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp là bóng đen của những ông linh mục, phần đông là linh mục người ngoại quốc. Điều đó người ta thấy rõ trong lịch sử và cũng không ai muốn hay có thể nói khác đi.  

            Dần dà, khi chế độ thực dân Pháp đã vững mạnh, thì ngay chính trong triều đình, quan lớn, quan nhỏ còn quay lưng lại với vua, cúi vái các ông công sứ, khâm  sứ, toàn quyền, mưu cầu danh lợi, thì còn nói chi tới vài ba ông cha, một số giáo dân cuồng tín, dù là người Việt thì cũng đặt quyền lợi “nước Đại Pháp” lên trên vì nó có lợi cho đạo của mình và của cả quyền lợi riêng mình.  

            Khi xem xét vấn đề nầy, nếu người ta không đeo vào những cái lăng kính có sẵn, thì khó ai phủ nhận lòng yêu nước, “Tổ Quốc trên hết” của ông Ngô Đình Diệm như tôi đã có lần kể trong bài “Nói Chuyện Ngàn Năm”.   

            Một hôm có một ông linh mục người Việt Nam đến thăm chí sĩ Ngô Đình Diệm - Tôi gọi là “chí sĩ” bởi lúc nầy ông đã từ quan, chưa chấp chánh và đang mưu cầu việc chống Pháp giành độc lập, phần đông người Huế gọi ông là “chí sĩ”. Tưởng ông Ngô Đình Diệm cũng là tín hữu, cũng đặt quyền lợi của đạo mình lên trên hết, nói năng kiểu “theo Tây” khiến ông Ngô Đình Diệm nổi cơn thịnh nộ - tính tình ông Ngô Đình Diệm hiền từ, nhã nhặn nhưng rất dễ nổi nóng - bèn “đuổi” ông linh mục ra khỏi nhà. “Tiển” ông linh mục ra cổng, ông Ngô Đình Diệm nói: “Cha tưởng theo Tây thì không có tội với Chúa hay sao?!”  

            Ở Huế, phần đông, và những nơi khác, cũng có một số người, thường lẫn lộn giữa đạo với đời, giữa thần quyền với thế quyền nên họ, qua cái gọi là “Tập Đoàn Công Dân” - một tổ chức chính trị ngoại vi của Công Giáo Huế - đưa “người của mình” ra nắm chính quyền, từ những chức nhỏ như trưởng ấp, trưởng thôn, phường truởng, xã trưởng cho tới tỉnh trưởng, bộ trưởng,... Đó là đại họa. Sự kiện nầy rất rõ hơn dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Tình hình nầy, khi “cậu” làm “cố vấn chỉ đạo” không nặng nề như khi giám mục Ngô Đình Thục về coi sóc địa phận Huế. Dĩ nhiên, tín đồ phật giáo ngấm ngầm chống lại. Ngấm ngầm vì chẳng ai dám công khai cho tới đêm 8 tháng 5 1963 thì giọt nước làm  tràn ly.  

            Sự lẫn lộn giữa đạo với đời, giữa tôn giáo và dân tộc, giữa dân tộc và đạo pháp tạo ra những hậu quả tai hại đáng tiếc. Sự lẫn lộn đó chỉ dễ bị Cộng Sản lợi dụng mà thôi. Một ví dụ rất dễ hiểu: Tờ báo “Công giáo và Dân tộc” ở Việt Nam sau 1975 chẳng hạn. Tờ báo đó phục vụ cho ai? Công giáo, dân tộc hay Việt Cộng? Hỏi như thế là độc giả thấy câu trả lời rồi. Ngoại trừ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhứt, hiện nay, những tổ chức Phật giáo được Việt Cộng dựng nên, cho hoạt động trong nước thì những tổ chức đó phục vụ cho đạo pháp, dân tộc hay Việt Cộng. Hỏi như thế độc giả cũng đã thấy câu trả lời.   

            Tuy nhiên, không phải ai cũng thấy sự lẫn lộn giữa tôn giáo, dân tộc và Cộng Sản, nhất là những vị tu hành. Trước 1975, tôi từng nói chuyện với các ông thầy chùa ở thôn quê, các ông cha họ đạo trong các lũy tre làng, một điều thấy “tội nghiệp” là họ không có kinh nghiệm sống trong xã hội đương thời, và trình độ chính trị rất hạn chế.

            Kỷ niệm rõ nhất khiến tôi nhớ đời là một hôm gặp linh mục Nguyễn Bá Lộc ở kinh 1 Cái Sắn. Cha Lộc, như lời cha kể với tôi, hồi 1947, 48 khi còn làm linh mục ở một họ đạo thuộc tỉnh Thái Bình, có lần cha chỉ huy “Dân Vệ” đi đánh nhau với Việt Minh. Cha nói: “Họ ác lắm. Hễ gặp người có đạo đi lạc qua xứ của họ là họ giết ngay, thả trôi sông.” Ở Cái Sắn, trong kinh 1 của cha, cha cũng có một trung đội nghĩa quân. Khi nghe tin Việt Cộng chiếm vài ấp ở xã Tân Hội, cuối kinh 1, bên kia kinh núi Sập, cha chỉ huy trung đội nghĩa quân đi “đánh Việt Cộng”. Nghe cha Lộc nói thế, tôi hỏi: “Cha cho trung đội của cha vượt kinh qua bên kia hay sao, nguy hiểm lắm. Tụi nó ở bên đó cả mấy đại đội.” Cha Lộc nói: “Không! Cha đặt súng cối bên nầy nã đạn qua.” Vậy mà có lần cha khoe với tôi: “Việt Cộng gởi thư cho cha gọi cha là “Kính thưa cha cố” đấy! Họ gọi cha là cha cố”. Cha nhấn mạnh hai chữ cha cố. Cha thích thú khi thấy Việt Cộng gọi cha là cha cố. Thật tội nghiệp cho sự ngây ngô của cha. Cha từng mấy chục năm chống Việt Cộng mà cha còn ngây ngô vậy hay sao! Nghĩ vậy, tôi nói nửa đùa nửa thật: “Nếu cần thì bọn chúng gọi cha là ông nội, ông cố, là ông thánh của chúng nó cũng được. Nhưng hễ chúng nắm được cha rồi thì cha chỉ có nước chết với chúng mà thôi! Cha đừng tin tụi nó!” Cha Lộc làm thinh, không nói, không cười. Sau 1975, từ Cái Sắn cha chạy lên Saigon, trốn trong khu hưu dưỡng của các cha già ở nhà thờ ngã sáu. Trước khi “đóng tiền đi ở tù”, vợ chồng tôi tới thăm cha. Cha chỉ xuất hiện ở cái ô nhỏ nơi cánh cổng, nói: “Cám ơn các con. Về đi, nguy hiểm lắm.” Tới bây giờ cha mới biết rằng Việt Cộng nguy hiểm lắm hay sao?! Đọc hồi ký Võ Long Triều, tôi thấy tác giả có nhắc tới cha Lộc ở trong khám Chí Hòa. Có người quen nói với tôi cha cũng qua đời trong cái nhà tù đó.   

            Qua ví dụ trên, độc giả thấy đó: Những ông cha già, các ông sư già ở thôn quê, thật thà, quê mùa và cũng thấy khoái khi được người ta nói nịnh. Về lãnh vực nầy, khi chưa đạt được thắng lợi, Việt Cộng nịnh khéo khó có ai bằng!  

            Các vị tu hành ở thôn quê, ở chùa cũng như nhà thờ, họ rất dễ lẫn lộn giữa đạo, giữa đời và Việt Cộng, giữa Dân tộc và Đạo pháp, giữa kính Chúa và yêu nước, yêu dân tộc, mà Việt Cộng, trước 1975, bao giờ cũng che mặt chúng bằng cái áo “Dân tộc chủ nghĩa”, dấu bộ mặt Cộng Sản, để đánh lừa dân chúng, các vị “lãnh đạo tinh thần” của các tôn giáo. Lãnh đạo tinh thần nên có biết gì về mặt thực tế là Việt Cộng núp bóng dân tộc đâu?!  

            Ở chốn quê mùa đã vậy, chớ ngay Saigon thì sao? Ngay linh mục Thanh Lãng, học bên Tây về (bên Tây về nên thiên tả?), có bằng tiến sĩ, được bầu làm “Chủ tịch Văn bút Việt Nam”, trước 1975. Linh mục Thanh Lãng, nhân danh hội Văn bút Việt Nam để bảo lãnh cho Vũ Hạnh, nhà văn, Việt Cộng nằm vùng ra khỏi tù.  

            Tuy “rút kinh nghiệm” việc bị Việt Cộng đánh lừa nhiều lần, nhưng cũng nhiều khi tôi tự nói thầm: “Đừng làm tài khôn, không ai chắc ai không bị Việt Cộng lừa.” Thật vậy, trong trại cải tạo, chúng tôi thường nghe trên loa phát thanh bài hát: “Tôi quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi.” Nghe Việt Cộng gọi tổ quốc hoài, có người bực mình hát to trong phòng giam: “Tổ quốc ơi! Ta bị lừa mãi mãi…” Ai ai cũng cười! Chí lý thật!  

            Cho tới bây giờ, hơn 30 năm sau khi Việt Cộng cai trị toàn cõi đất nước, “mặt thật” - như Bùi Tín viết -, đã hiện ra rõ ràng, vậy mà người ta đã hết bị lừa chưa?  

            Nhìn bức hình trên báo, thấy mấy ông thầy chùa già trẻ hớn hở sắp hàng vào “thăm lăng Bác”, đố ai khỏi bất mãn và buồn không ít.   

            Cái chi làm cho họ “phấn khởi, hồ hỡi” đến vậy? Chỉ là việc du lịch, đi chơi, hay “đi thăm lăng…” mà đã quyến rũ các “vị tu hành” đến thế, huống chi danh vọng, quyền lợi dễ lôi kéo họ biết bao nhiêu?! Việt Cộng cho họ một cái chức, một cái ghế, một ít tiền, một ít quyền, dù hữu danh vô thực, thì họ cúc cung bái lạy ai? Bái lạy Chúa, Phật, hay Việt Cộng để có cái danh lợi ấy?  

            Cuộc đời là hư vô, sắc sắc không không. Đó chỉ là những cách nói, cách viết, trong cách giảng kinh sách. Còn trong thực tế cuộc đời, thì “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”  kể luôn cả mấy ông cha, ông thầy chùa!!! Vậy thì có những ông thầy chùa thiên tả, làm tay sai cho Việt Cộng. Việc tu hành chỉ là cái áo mặc ngoài.  

            Tôi từng nghe nói ông thầy chùa nầy là Việt Cộng, ông kia là thiên Cộng, nhưng tôi không xác quyết. Không có chứng cớ thì không quyết chắc. Đó là cách làm của mấy ông quan tòa khi xét xử tội nhân. Tôi cũng “méo mó nghề nghiệp” như thế bởi vì tôi cũng đã từng “dẫn trình tòa” không ít người. Nếu không chắc chắn thì tôi không thể đưa bị cáo ra tòa. Vã lại, Khổng Tử cũng từng nói: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri chi, vị tri chi.”   

            Có thể tôi tin họ là Việt Cộng, thiên tả, chín mươi phần trăm như vậy, nhưng tôi có nắm được chứng cớ gì đâu? Ở Huế, nhiều người nói ông Thiện Hạnh, ở Saigon người ta nói ông Trí Quảng là Việt Cộng. Có thể chín mươi phần trăm như vậy. Nhưng mười phần trăm còn lại thì sao? Có bị bôi lọ, vu cáo hay hiểu lầm không?!   

            Tuy nhiên, cuối cùng, nên nhớ rằng không có gì trốn khỏi sự thật, công lý. Cái mặt nào sẽ lòi ra cái mặt ấy, có chối cũng không được. Cỡ như Hồ Chí Minh, được che kín như thế, được tô vẽ như thế, cuối cùng cũng lộ ra y là tên dâm tặc, ngủ với Nông Thị Xuân, có con, rồi để cho Trần Quốc Hoàn giết Nông thị Xuân. Có trốn được lịch sử đâu! Huống gì Thiện Hạnh, Trí Quảng chỉ là những tên tép riu.     

             Tín đồ thì không ít người cuồng tín!  

            Kẻ từ khi khôn lớn, tôi từng thấy không ít người vui thích khi nói ông cha nầy theo Tây, ông cha kia là Việt gian, làm tay sai cho thực dân Pháp. Người ta cố tình không thấy những linh mục, những tín hữu Công giáo yêu nước. Đọc “Tự Phán” của cụ Phan (Phan Bội Châu), người ta sẽ thấy cụ Phan nhấn mạnh, ca ngợi những người dẫn đường cho cụ Phan qua Tàu để sang Nhựt cầu viện. Những người ấy là ông Tăng Bạt Hổ, nhưng ông Tăng lại được ông Mai Lão Bạng đưa đường qua lại Trung Hoa những mấy lần khi ông Tăng hoạt động chống Pháp. Ông Mai Lão Bạng là ai? Chính là một ông linh mục họ Mai tên Châu, nhưng để ngụy trang, che dấu tung tích với Pháp nên các người trong phong trào Đông Du đặt cho ông linh mục ấy một ngụy danh, qua câu “Lão bạng sinh châu”. Từ một ông linh mục họ Mai tên Châu trở thành ông Mai Lão Bạng.   

            Bây giờ thì ngược lại, tình thế đã đổi thay, cũng có người thấy thích khi cho rằng ông thượng tọa nầy, ông hòa thượng kia là Việt Cộng!  

            Bên nầy, bên kia, người ta khoái bôi lọ nhau như vậy, trong khi chưa biết rõ rằng ông cha đó có là Việt gian hay không, có làm tay sai cho thực dân hay không; ông sư kia có làm Việt Cộng hay không! Năm 1966, tướng Loan, vừa là giám đốc nha An Ninh Quân Đội, vừa là tổng giám đốc Cảnh Sát Công An, trong một buổi họp báo, trả lời câu hỏi của báo chí rằng có ông thượng tọa nào, đại đức nào là Việt Cộng nằm vùng như người ta đồn đãi hay không. Ông ta trả lời: “Cho tới giờ phút nầy, không có tài liệu nào cho thấy điều ấy.” Nếu có thì ông đã bắt; nếu không bắt được vì một lý do nào đó thì ông cũng không thể công bố trước báo chí ông nào là Việt Cộng. Báo chí hỏi chỉ vô ích. Tuy nhiên, hồi ấy, người ta đồn ông Thiện Minh là Việt Cộng nằm vùng. Ông Thiện  Minh, chủ tịch Ủy ban Liên phái Phật giáo, họp với phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, chủ tịch Ủy ban Liên bộ.  Họp xong, phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ phải vỗ vai ông Thiện Minh mà khen. Người ta cũng dễ nghi ông Thiện Minh là Việt Công lắm. Dân Quảng Trị, xứ đất cày lên sỏi đá mà lại con nhà nghèo, nói năng khôn ngoan, sắc bén. Những thứ nầy rất “gần gũi” với “căn cơ” của một anh cán bộ Cộng Sản xuất thân. Chiếm xong miền Nam, Việt Cộng thủ tiêu ông Thiện Minh ngay. Có người nhận xét: “Ông Thiện Minh hơn hẵn ông Trí Quang. Do đó, Việt Cộng sợ ông Thiện Minh hơn ông Trí Quang.”   

            Điều tôi suy nghĩ thường là vị trí của đạo Phật trong dân tộc. Gần hai trăm năm nay, dân tộc ta cố thoát ra khỏi thân phận nhược tiểu của mình mà không thoát được. Dĩ nhiên, đạo Phật, ở trong dân chúng đã hai ngàn năm, cũng chung số phận, cũng cố thoát ra khỏi cái thân phận mình mà không thoát được.   

            Từ khi Tây đô hộ, đạo Phật càng ngày càng suy đồi. Không ít người tu hành đạo Phật trở thành những ông thầy cúng để sinh nhai. Họ cũng là một thứ “tân tăng”, sống ở chùa, mà có vợ ở nhà. Đầu thế kỷ 20, một số trí thức, quan lại, cố chấn hưng đạo Phật, chấn hưng việc tu hành, đào tạo tăng ni, qua hình thức những hội Phật Học. Tuy nhiên, những hiệp hội đó, trên mặt luật pháp, không hơn gì những hội đá banh, đá gà.   

            Sau khi chiến tranh Pháp - Việt Minh nổ ra, sinh hoạt Phật giáo có mạnh trở lại, nhưng cũng chỉ ở các thành phố ở miền Bắc, miền Trung, nhất là Hà Nội, Huế, trong “vùng quốc gia”. Dưới thời ông Bảo Đại còn làm quốc trưởng, tín đồ đạo Phật đã có những cố gắng thống nhứt Phật giáo ba miền, cũng chỉ trong vùng quốc gia. Những nơi bị Việt Minh kiểm soát, vùng xôi đậu, một là tăng ni bị đàn áp, hai là chùa chiền trở thành nơi che chở cho Việt Minh, tránh sự lùng bắt của chính quyền quốc gia hay Pháp.  

            Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, một số vị lãnh đạo Phật giáo tưởng rằng thời cơ đã tới. Nhưng, như ông Trí Quang, trong “Tiểu Truyện tự ghi” nói rằng “không có ý muốn đưa Phật giáo trở lại vị trí quốc giáo”. Điều đó đúng thôi. Không ai có thể đi ngược vòng quay lịch sử, không thể trở lại thời các vua triều Nguyễn. Vã lại, việc triều chính lúc đó, chính yếu vua quan dựa vào Tống Nho để bảo vệ chế độ. Quốc sư chỉ là cố vấn khi nhà vua muốn thảo luận để có quyết định nào đó về những vấn đề liên hệ đến đạo Phật mà thôi. Truyền thống nước ta cho thấy không bao giờ quốc sư là người nắm quyền bính. Các ông vua nhà Trần muốn đi tu thì nhường ngôi lại cho con, lên làm thái thượng hoàng. Ông Trí Quang viết thêm: “Muốn đem lại cái ấy cho đạo Phật.” Có người bạn thân của tôi đọc đến đó, hỏi tôi: “Cái ấy là cái gì?” Cái ấy không phải là một chính phủ Phật giáo, thiên Phật giáo, Phật giáo không là quốc giáo nhưng hoạt động mạnh, toàn quốc, trên bình diện quốc gia?   

            Nếu nghĩ thế thì không đúng. Nếu ông Trí Quang “muốn đem lại cái ấy cho đạo Phật” là muốn cho đạo Phật mạnh lên, có nhiều ưu thế trong chính quyền thì cũng sai nốt. Đạo Phật không bao giờ ở trong chính quyền, không dựa thế các ông vua, các bà hoàng, các ông quan. Những người nầy, có điều kiện dựng chùa, dựng miễu là việc làm riêng của họ. Nhà vua có xuất quỹ xây chùa, tu sửa đền chùa, việc đó vừa là tín ngưỡng, vừa là ý thích mà cũng vừa là trách nhiệm của nhà vua. Việc tổng thống Ngô Đình Diệm, khoảng các năm 1957, 58 xuất ngân khố tu sửa chùa Linh Mụ, điện Thái Hòa, cũng chỉ là thi hành cái trách nhiệm của một người lãnh đạo đất nước. Việc đó, không có nghĩa là tổng thống Diệm thiên Phật giáo, củng cố phong kiến, v.v… Nhớ lại các việc sửa chùa, xây chùa của các vị vua nhà Nguyễn rồi nghĩ rằng các ông vua đó là tín đồ Phật giáo, lo việc bảo tồn và phát huy đạo Phật vì đạo Phật là đạo của vua thì, so với việc làm của tổng thống Ngô Đình Diệm như tôi vừa nói trên là sai mất rồi.   

            Sức mạnh của đạo Phật không nằm trong tay các ông vua, các ông quan, các ông thủ tướng, tổng thống dù họ có là Phật tử hay không. Nếu “muốn đem lại cái ấy cho đạo Phật” để có một chính phủ thân Phật giáo lại càng không đúng.   

            Sức mạnh của đạo Phật nằm trong dân chúng cả hai ngàn năm nay. Sức mạnh của đạo Phật nằm ở trong lời cha mẹ dạy, trong sinh hoạt văn hóa làng xã, dân tộc, trong cổ tích như Tấm Cám, Chum vàng bắt được, Tham thì thâm… trong tục ngữ, ca dao, - nói chung là trong văn hóa dân tộc, qua hình thức văn chương bình dân (Bây giờ trong nước gọi là văn học dân gian). Đạo Phật nằm trong những điều răn dạy ăn ở phúc đức, làm lành tránh dữ, giữ lòng ngay thẳng, thương người, v.v…. gần như đủ mặt trong đời sống của người Việt Nam. Thành thử, có nhiều người không đi chùa, ít đi chùa, ít ăn chay hay không ăn chay, nhưng bao giờ cũng tự nghĩ rằng mình là người theo Phật, tức là theo văn hóa của dân tộc. (Xem “Đạo Phật của tôi” - cùng tác giả)  

            Việc tham gia đấu tranh thời chống chế độ Ngô Đình Diệm là rõ nhứt. Những người tham gia biểu tình, tiếp tế cho các học sinh, sinh viên đấu tranh ở chùa, tuyệt thực ở chùa, xuống đường, không phải ở từng lớp trí thức, tư sản, mà hầu hết là những người lao động, thợ may, thợ giày, phu xích lô và lực lượng đông đảo nhứt, hăng hái nhứt, mạnh nhứt là “tiểu thương chợ Đông Ba” (các chị, các dì, các mợ, các mẹ…) - danh xưng hồi đó. Chính những người nầy, thành phần nầy mới là phật tử, trung thành với đạo Phật. Và cũng chính họ, là người theo Phật một cách bền bỉ, vô vị lợi, không phải theo Phật để tìm kiếm danh vọng như vài giáo sư ở viện Đại Học Huế, ở các trường trung học, hay công chức, sĩ quan thời kỳ các năm 1965, 66 vậy. Chính vì vậy, họ bị phản bội nặng nề nhứt qua tất cả các biến động từ trước tới giờ. Trước kia, họ được gì? Và giờ đây, họ được gì hay chỉ có đau thương và mất mát?! Vậy mà họ vẫn một lòng theo Phật. Khi TT Trí Thủ qua đời, tiểu thương chợ Đông Ba chịu tang cho TT, khăn vàng đầy cả chợ. Hình ảnh ấy làm tôi nhớ ông Đỗ Trung Hiếu. Ông ta bây giờ là người chống chế độ, rời bỏ đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng trước 1975, ông ta chính là tên Việt Cộng nằm vùng tại Phật Học Viện Nha Trang, nơi TT Trí Thủ làm viện trưởng.  

            Mục tiêu các lãnh tụ Phật giáo phải nhắm tới để bảo tồn, phát huy đạo Phật phải là ở đám quần chúng nầy, chứ không phải ở ông tổng thống, ông thủ tướng, ông bộ trưởng chăm đi chùa. Với những người đó, họ rất dễ quay phía nầy hay quay phía kia khi quyền lợi họ bị đụng chạm, đe dọa.   

            Chính sự tranh giành quyền lực làm cho người Mỹ thấy e ngại đạo Phật sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết, làm cho người Mỹ thấy cần “xé nhỏ” sức mạnh của Phật giáo, để sức mạnh đó không gây ảnh hưởng đến đường lối họ thi hành ở Nam Việt Nam. Việc làm ấy của người Mỹ gây ra sự chống đối của Phật giáo, nhứt là ở miền Trung. Tuy nhiên, sự chống đối đó không phát xuất từ đám quần chúng tôi nói ở trên mà bây giờ thì ngược lại, trong những người từng tránh né trong cuộc đấu tranh chống chế độ nhà Ngô năm 1963. Các tướng tá, sĩ quan, các ông bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc, trưởng ty, các ông giáo sư, giáo viên, và một số quần chúng ngây thơ bị Việt cộng giựt giây, tham gia đấu tranh. Nhìn thành phần đó, tôi không nghĩ họ đấu tranh vì đạo pháp.  

            Tình cảnh Huế tết Mậu Thân thật tang thương và đau đớn với hơn năm ngàn người bị chôn sống.   

            Những người còn sống sót, ngày nay, thấy cảnh mấy ông thầy chùa, có ông mặc áo nâu, có ông mặc áo vàng và cũng không thiếu các ông mặc áo đỏ, lòng người Huế buồn như thế nào? Họ nghĩ gì về thân nhân họ bị chôn sống, bị giết, mất tích, về sự cố ý lợi dụng hay ngây thơ mà lẫn lộn giữa đạo pháp, dân tộc và Việt Cộng? Họ nghĩ gì về tương lai của đạo Phật mà cha ông họ đã gìn giữ từ ngàn năm, trở thành nếp sống, trở thành phương cách trong việc ứng xử với cha mẹ, bà con, xóm làng, trong đời sống hằng ngày. Nếp sống đó đối chọi mãnh liệt với “văn hóa mới” Việt Cộng đang ra sức truyền bá, phổ biến, bắt ép dân chúng, thay vì hiếu trung với cha mẹ với tổ quốc thì nay trở thành “trung với đảng…”   

            Người phật tử Huế càng bị buộc trung với đảng; càng thấy những ông thầy chùa vô ra trụ sở đảng thì họ càng thấy mình bị phản bội. Họ nghĩ tới những người bị giết hồi tết năm đó, và đêm đêm, nghe tiếng chuông chùa xa xa vọng lại, họ nghĩ tới linh hồn những người thiên cổ ấy. Những giọt nước mắt âm thầm của mẹ, của vợ, của em, của chị… đêm đêm nhỏ xuống ướt chiếc áo gối, và tiếng thở dài, trằn trọc của họ, quyện với linh hồn những người đã khuất, dù đầu thai sang kiếp khác hay còn vất vưỡng đâu đó, có nghe được tiếng “chuông (chùa) gọi hồn ai”?   

hoànglonghải                   

học sinh thiên Cộng, thiên tả. Do đó, bọn học trò nầy thoát ly theo VC như thầy của chúng hoặc trốn quân dịch, - dưới nhiều hình thức khác nhau, ngay cả khi chúng ở lính - đào ngũ, chống chính quyền, bất hợp tác với chính quyền. Tới khi Việt Cộng chiếm đóng Huế nă

(1)     Hoàng Phủ Ngọc Tường xuất thân đại học sư phạm Saigon, dạy Việt Văn ở trường Quốc Học, Huế từ 1960. Đến 1966, sau vụ “Bàn thờ ra đường” y trốn vào Saigon rồi thoát ly theo Việt cộng. Thời gian y dạy học ở Huế là 6 năm, “đào tạo” không ít em sau 1975, thì chúng cầm cờ đi đón bộ đội VC vào chiếm Huế. Chúng cùng Trịnh Công Sơn, - khi nhạc sĩ nầy sợ Lê Hiếu Đằng trị tội, trốn về Huế, tích cực tham gia các phong trào do VC dựng lên lúc chúng mới chiếm Huế. Tới khi thấy không được xơ múi gì thì chúng vượt biên, hiện định cư ở Hoa Kỳ, nhất là ở Cali không phải với số lượng ít. 

(2)       Sau khi “tổ ong hội đồng” vỡ, đám nầy kẻ thì “chiêu hồi” quân Thiệu Kỳ, kẻ trốn vào 294 Công Lý Saigon (Trung tâm Quảng Đức). Chúng quay lại tố cáo nhau, bôi lọ nhau, chưởi nhau chí chóe, dù là giáo sư đại học, trung học hay thường dân quèn, thế rồi cũng có kẻ trốn lên rừng theo Việt Cộng./

nguồn:

Hoanglonghai:

http://hon-viet.co.uk/HoangLongHai_NgayTetKeChuyenMauThan_1.htm

 

 

 

        Go to top page

© copyright giaodiem.us | 2008

email: hoa95121@yahoo.com 
 
© 2008 Mạng lưới Hội Tụ | 2.2008 | cập nhật 01.8.2008 USA